Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
351
NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU COMPOSITE TRÊN NỀN
NHỰA POLYVINYL CLORUA VỚI ĐỘN MÙN CƯA, TRẤU
INVESTIGATING COMPOSITE MATERIALS BASED ON
POLYVINYL CHLORIDE AND SAWDUST, RICE HUSK
SVTH: Phạm Thị Vân, Nguyễn Thu Phương
Lớp05H4, Khoa Hóa, Trường Đại học Bách khoa
GVHD: TS.Đoàn Thị Thu Loan
Khoa Hóa, Trường Đại học Bách Khoa
TÓM TẮT
Hiện nay, vấn đề môi trường và việc tận dụng các phế phẩm của ngành nông nghiệp và
lâm nghiệp để tạo ra các sản phẩm composite có giá trị đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu khoa học. Trong nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất cơ lý và độ
kháng nước của vật liệu composite trên nền nhựa Polyvinyl clorua với độn mùn cưa, trấu đã được
khảo sát.
ABSTRACT
Currently, environmental problems and the utilization of agricultural and forestry wastes to
produce valuable composite products has attracted the attention of many researcher. In this work,
the influences of various factors on mechanical properties and water resistance of composites
based on polyvinyl chloride (PVC) and sawdust, rice husks were investigated.
1. Đặt vấn đề
Mùn cưa và trấu là hai loại phế phẩm của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
và là nguồn sử dụng vô tận. Đặc biệt vào mùa thu hoạch lúa thì số lượng trấu thải ra càng
nhiều, một ít được tận dụng làm nguyên liệu đốt số còn lại thì thải ra môi trường một cách
bừa bãi, đổ xuống sông, suối…gây ô nhiễm môi trường. Mùn cưa cũng vậy, hằng tháng
lượng mùn cưa thải ra từ các công ty chế biến gỗ rất lớn và việc xử lý lượng mùn cưa này
đang là vấn đề khó khăn cho nhiều công ty. Như vậy việc nghiên cứu tận dụng hai loại phế
. Duy trì mẫu ở nhiêt độ và thời gian khảo sát. Sau đó hạ thớt
xuống và lấy khuôn mẫu ra, làm nguội rồi tháo khuôn.
Mẫu sau khi gia công xong để ổn định khoảng 24 giờ, cắt theo tiêu chuẩn để khảo
sát tính chất cơ lý và độ bền môi trường.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Điều kiện gia công
Mẫu được gia công với hàm lượng mùn cưa 40%, hàm lượng DOP 20%, kích thước
hạt trung bình 0,5 mm.
3.1.1. Nhiệt độ gia công
Ảnh hưởng của nhiệt độ gia công đến độ bền cơ lý được trình bày ở hình 1.
Từ hình 1 cho thấy, khi tăng nhiệt độ gia
công thì độ bền cơ lý của vật lệu comnposite
tăng nhưng đến khoảng nhiệt độ trên 160
o
C thì
bắt đầu giảm xuống. Điều này là do ở nhiệt độ
thấp những hạt nhựa PVC không nóng chảy
hoàn toàn nên trong sản phẩm ta thấy nhựa
không đều, có nhiều vị trí hạt nhựa chưa chảy
do đó làm giảm khả năng thấm ướt của mùn cưa
và nhựa. Ngoài ra chúng còn tạo ra pha nhựa và
mùn cưa riêng lẻ và gián đoạn. Chính vì
nguyên nhân đó làm cho độ bền kéo cũng như
độ bền uốn bị giảm đáng kể. Tuy nhiên khi tăng
nhiệt độ quá cao trên 160
o
C thì nhựa chảy đều nhưng đồng thời xảy ra hiện tượng phân
hủy mùn cưa và PVC. Hiện tượng này chúng ta dễ dàng nhận thấy sản phẩm có màu nâu
tối điều này làm giảm đáng kể độ bền của vật liệu composite. Từ đồ thị trên ta thấy độ bền
0
quả thể hiện ở hình 2.
Từ hình 2 ta thấy, khi tăng thời gian gia công
thì độ bền cơ lý của vật liệu comnposite tăng nhưng
khi thời gian vượt quá 20 phút thì độ bền bắt đầu
giảm xuống. Điều này được giải thích là khi gia nhiệt
hỗn hợp ép đến nhiệt độ chảy của nhựa PVC thì luôn
cần một khoảng thời gian đủ để tất cả các hạt nhựa
đều chảy ra hết và thấm ướt đều bề mặt của mùn cưa.
Khi thời gian không đủ để hạt nhựa chảy hoàn toàn
thì sản phẩm sẽ không đều có nhiều vị trí hạt nhựa chưa chảy tạo thành pha riêng biệt. Tại
những vị trí này kết dính giữa nhựa và mùn cưa kém nhất và mẫu sẽ bị phá hủy tại những
điểm này vì vậy độ bền cơ lý sẽ giảm. Nhưng khi ép với thời gian quá lâu trên 20 phút ở
nhiệt độ gia công nhất định thì ngoài hiện tượng mùn cưa bị phân hủy nhiệt thì ngay chính
bản thân nhựa cũng bị phân hủy một phần chính điều này sẽ làm giảm khả năng chịu lực
của vật liệu. Từ đồ thị trên ta thấy độ bền của vật liệu composite cao nhất khi được gia
công trong vòng 20 phút.
Từ tất cả các điều kiện trên ta có thể đưa ra chế độ gia công tối ưu mẫu vật liệu
composite là: nhiệt độ gia công 160
o
C và thời gian gia công là 20 phút.
3.2. Ảnh hưởng của kích thước hạt trung bình
Khảo sát gia công mẫu composite ở nhiệt độ 160
o
C, thời gian 20 phút, hàm lượng
mùn cưa 40%, hàm lượng DOP 20% với các kích thước hạt mùn cưa trung bình khác nhau.
Kết quả thể hiện ở hình 3.
Từ hình 3 ta thấy, khi kích thước hạt trung
bình tăng thì độ bền cơ lý của vật lệu comnposite
tăng nhưng nếu kích thước hạt trung bình tăng vượt
quá 0,5mm thì độ bền bắt đầu giảm xuống. Điều
b
ề
n u
ố
n
Hình 3 Ảnh hưởng của kích thước hạt mùn
cưa đến độ bền kéo, uốn của composite.
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
0 0.5 1 1.5 2
Kích thước hạt mùn cưa trung bình (mm)
Độ bền (MPa)
Độ bền kéo
Độ bền uốn
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
354
3.3. Ảnh hưởng của hàm lượng mùn cưa, trấu
Các mẫu composite được gia công ở nhiệt độ 160
o
C, thời gian 20 phút, hàm lượng
DOP 20%, kích thước hạt trung bình 0,5 mm với hàm lượng mùn cưa, trấu khác nhau. Kết
quả thể hiện ở hình 4.
m
) của PVC, làm giảm nhẹ điều kiện gia
công, giúp quá trình trộn hợp mùn cưa và PVC tốt hơn nhưng DOP cũng là một chất làm giảm
tính chất cơ lý của vật liệu. Khi hàm lượng DOP quá thấp thì trong quá trình gia công nhựa PVC
dễ bị phân hủy nhiệt và quá trình trộn hợp không tốt nên làm giảm độ bền cơ lý. Ngược lại khi sử
dụng với hàm lượng lớn cũng làm giảm đáng kể độ bền của vật liệu. Từ đây có thể kết luận: Độ
bền của vật liệu composite cao nhất khi hàm lượng chất hóa dẻo DOP 10%.
3
4
5
6
7
8
9
10
11
30 35 40 45 50 55 60 65
Hàm lượng độn (%)
Độ bền uốn (MPa)
Composite trấu
Composite mùn cưa
3
3.5
4
4.5
5
5.5
6
6.5
7
Hình 6 Ảnh hưởng của thời gian đến độ thay đổi khối lượng
khi mẫu composite ngâm trong nước biển (a), nước cất (b).
Từ hình 6 ta thấy độ thay đổi khối lượng của các mẫu composite tăng dần theo thời
gian ngâm, trong môi trường nước biển độ thay đổi khối lượng lớn hơn trong môi trường
nước cất và mẫu composite mùn cưa khả năng chịu môi trường kém hơn mẫu composite
trấu. So với composite truyền thống thì khả năng chịu môi trường của composite PVC với
độn mùn cưa hoặc trấu tốt hơn nhiều.
4. Kết luận
Từ trên ta có thể gia công mẫu composite tối ưu trong các điều kiện: Nhiệt độ gia
công 160
0
C, thời gian gia công 20 phút, hàm lượng DOP 10%, kích thước hạt trung bình
0,5 mm, hàm lượng mùn cưa 50% (đối với composite mùn cưa), hàm lượng trấu 40%(đối
với composite trấu).
Độ bền cơ lý của composite mùn cưa tốt hơn composite trấu nhưng khả năng chịu
môi trường lại kém hơn. Trấu giá thành thấp hơn mùn cưa và nguồn cung cấp cũng dồi dào
hơn, do vậy việc sử dụng composite trấu sẽ được ưu tiên hơn.
So với sản phẩm composite truyền thống thì sản phẩm composite PVC với độn mùn
cưa hoặc trấu tốt hơn nhiều, tuổi thọ cũng cao hơn và thân thiện với môi trường hơn nên có
thể trong tương lai khả năng sử dụng sản phẩm này nhiều hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Clemons CM. Wood-Plastic Composites in the United States. The interfacing of two
industries. Forest Products Journal vol. 52, No. 6, June 2002.
[2] Wolcott MP, Englund K. A technology Review of Wood-Plastic Composites.
[3] ASM Handbook, composites, vol. 21. 2001.
0
10
20