THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP VÀO VIỆT NAM VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ VÀ THỦ TỤC TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ - Pdf 20

Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA LUẬT KINH TẾ

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP VÀO VIỆT NAM
VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ VÀ THỦ TỤC
-
TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS BÙI XUÂN HẢI
THỰC HIỆN: NHÓM 11- ĐÊM 4
TP HỒ CHÍ MINH – năm 2013
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
1
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
MỞ ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong thời gian qua đã thu được những kết quả bước đầu
quan trọng. Việt Nam không những đã vượt qua được sự khủng hoảng triền miên trong thập
kỷ 80 mà còn đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế xã hội.
Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này, là nhờ phần đóng góp lớn của đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong những năm qua, Việt Nam luôn được đánh giá là một quốc
gia có tiềm năng và hấp dẫn đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Thấy rõ
tầm quan trọng của FDI trong thời gian qua Việt Nam đã có nhiều thay đổi về thể chế nhằm
tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn để thu hút các dòng vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội.
Chúng ta có thể khẳng định rằng, đường lối và chủ trương đầy mạnh hoạt động thu
hút FDI của Nhà Nước Việt Nam là đúng đắn, bởi trong giao đoạn hiện nay, chúng ta rất cần
có một nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển trong bối cảnh tích lũy nội bộ từ nền kinh tế là
rất thấp. Vì vậy, để phục vụ mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới, chúng ta cần tích cực
hơn nữa trong việc xây dựng và cải thiện môi trường pháp lý nói riêng và môi trường đầu tư

3
21,48 19,76 15,62 16,35
Vốn thực giải ngân (tỷ usd) 4,1 8,0 11,5 10 11 11 10,5
Tỷ lệ giữa vốn thực giải
ngân và tổng nguồn vốn
FDI (%)
34% 38% 16% 43% 56% 70% 64%
(*) bao gồm Vốn đăng kí mới và vốn đầu tư tăng thêm.
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Tổng số dự án cấp mới 833 1.544 1.171 839 1.240 1.191 1.287
Tổng số dự án tăng vốn 486 420 311 215 395 403 550
Bình quân vốn/dự án
(triệu usd) **
9,1 10,8 48,4 20,4 12,1 9,8 8,9
(**) Tổng nguồn vốn cấp mới và tăng thêm/tổng dự án cấp mới và tăng thêm
Nguồn : Báo cáo hàng năm của Cục đầu tư nước ngoài - FIA
• Giai đoạn 2006 – 2008 :
Giai đoạn năm 2006 – 2008 đánh dấu sự bùng phát luồng vốn FDI tại Việt Nam, điều
này phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường kinh doanh minh bạch
và thuận lợi hơn sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới
WTO. Kể từ năm 2006 đến nay, dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng đột biến, nếu như năm
2006 tổng nguồn vốn FDI mới chỉ là 12 tỷ USD (với 833 dự án cấp mới và 486 dự án tăng
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
3
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
vốn) thì đến năm 2007 con số này đã đạt 21,3 tỷ USD năm 2008 chạm mốc kỉ lục từ trước
đến nay trong việc thu hút nguồn vốn FDI với con số 71,73 tỷ USD
Nếu xét về số lượng dự án đầu tư tăng thêm, có thể thấy năm 2007 với 1544 dự án
cấp mới và 420 dự án tăng vốn, tỷ lệ dự án cấp mới đạt hơn 185% so với năm 2006, và số dự
án tăng vốn thì đạt 86,4% so với năm 2006. Trong năm 2008, cả hai số liệu về dự án cấp mới

Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, tỷ lệ thực sự đáng quan tâm là nguồn vốn FDI thực giải
ngân. Trong giai đoạn 2009 – 2011, sự giảm sút với khoảng cách rộng của tổng nguồn vốn
đầu tư nước ngoài lại không ảnh hưởng mạnh đến tỷ lệ nguồn vốn giải ngân thực tế. Qua 3
năm, nguồn vốn này vẫn đạt mức trung bình là 10,7 tỷ USD, tức đạt khoảng 93% so với mức
giải ngân cao nhất năm 2008. Chính vì tổng nguồn vốn đầu tư không tăng nhưng nguồn vốn
thực tế giải ngân vẫn ổn định đã làm cho tỷ lệ vốn giải ngân/tổng nguồn vốn đầu tư trong
giai đoạn 3 năm 2009 – 2011 đạt con số đáng mơ ước, lần lượt là 43% năm 2009, 56% năm
2010 và 70% năm 2011. Điều này thể hiện hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ngày càng tăng lên chứ không phải là những số liệu thổi phồng trước đó.
• Giai đoạn 2012 đến nay :
Mặc dù lượng vốn FDI chỉ tăng 0,73 tỷ USD so với năm 2011, đạt 16,35 tỷ USD,
nhưng trong điều kiện kinh tế thế giới phục hồi chậm, có khu vực còn bị suy thoái, tăng
trưởng bị sụt giảm và với chủ trương nâng cao chất lượng FDI, thì việc đạt được kết quả như
trên là đáng ghi nhận.
Bối cảnh sắp tới của kinh tế Việt Nam cũng sẽ tiếp tục khó khăn do nền kinh tế nhỏ
nhưng khá mở chịu ảnh hưởng từ kinh tế thế giới mà kinh tế thế giới thì chưa có dấu hiệu hồi
phục. Một khi các nhà đầu tư lo ngại về sự phục hồi chậm chạp của nền kinh tế thế giới thì
đưa ra quyết định đầu tư mới là vấn đề khó khăn.
Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2013 sẽ khó khăn hơn khi: (i) thị trường bất
động sản đóng băng, các nhà đầu tư nước ngoài không còn mặn mà với các dự án bất động
sản nhờ thu lợi từ giá bất động sản. Điều này có thể nhìn thấy qua cơ cấu vốn theo lĩnh vực
đầu tư trong mối tương quan với giá bất động sản và trong bối cảnh cho vay bất động sản
vẫn đang còn khống chế; (ii) môi trường đầu tư của Việt Nam theo nhiều báo cáo đánh giá
của các tổ chức càng ngày càng trở nên xấu đi và chưa có dấu hiệu cải thiện; (iii) Việt Nam
đang chủ trương giám sát chặt và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài qua điều
chỉnh nhiều văn bản pháp luật như Quyết định 1601/QĐ-TTg ngày 29/10/2012 phê duyệt đề
án nâng cao hiệu quả công tác quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, dự thảo
thông tư quy định công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư đối với việc tuân thủ các quy
định pháp luật về cấp Giấy chứng nhận đầu tư, triển khai thực hiện các dự án có vốn đầu tư

nghiệp
80 286.777.786 45 252.051.581
III
Dịch vụ 484 8.946.389.562 554 27.399.264.791
Dịch vụ 316 386.328.570 438 1.278.636.542
IV
Khách sạn-Du lịch 52 1.951.121.408 26 9.126.098.875
Bất động sản 36 5.331.042.082 38 14.490.981.114
Khác 80 1.277.897.502 52 2.503.548.260
Tổng số 1,544 18.718.404.516 1.171 60.271.376.040
(Nguồn : Báo cáo hàng năm của Cục đầu tư nước ngoài - FIA)
Trong giai đoạn này, số dự án đăng ký trong ngành nông, lâm, thủy sản rất ít và chỉ
chiếm tỷ trọng vốn rất thấp trong tổng vốn đăng ký theo các năm. Chính sách điều chỉnh năm
1996 đã đưa những ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút FDI đầu tư vùng nguyên liệu, chế biến nông
lâm, thủy sản, nhưng tác dụng chỉ rất nhỏ. Luật Đầu tư năm 2005 tiếp tục đưa ngành nuôi
trồng, chế biến nông, lâm nghiệp, thủy sản vào Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi, nhưng
đến năm 2008 cũng không làm thay đổi được xu hướng cũ. Năm 2008 chỉ có 45 dự án đăng
ký, chiếm 3,8% số dự án và chỉ chiếm 0,42% tổng vốn đăng ký. Điều đó chứng tỏ lĩnh vực
nông, lâm, ngư nghiệp vẫn kém hấp dẫn các nhà đầu tư và những nỗ lực điều chỉnh chính
sách đầu tư không đủ kích thích để thu hút nhiều hơn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành
này.
Trái ngược với xu hướng giảm thu hút FDI của ngành nông nghiệp là sự bùng phát
của FDI vào ngành dịch vụ từ năm 2001. Kết quả này một phần do tác động của Hiệp định
thương mại Việt-Mỹ, tiếp đó được tăng lên do Việt Nam gia nhập WTO. Thực hiện Hiệp
định BTA và cam kết WTO đồng nghĩa với việc giảm dần những rào cản đối với nhà đầu tư
trong một số loại dịch vụ, ví dụ tài chính, bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ pháp lý trong
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
6
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
vòng hai năm 2006-2007, số dự án dịch vụ tăng thêm 2,59% trong tổng số dự án; tỷ trọng

uống
32 4.982,6 33 279,3 19 252,78
Kinh doanh bất động sản 39 7.372,4 27 6.710,6 22 741,63
CN chế biến.chế tạo 245 2.220,0 385 4.032,2 435 5.220,95
Xây dựng 74 388,3 141 1.707,8 140 1.033,18
SX.pp điện.khí.nước.đ.hòa 16 129,0 6 2.942,9 5 2.525,66
Khác 433 1.253,2 648 1.556,8 570 1.784,35
Tổng số 839 16.345,4 1240 17.229,6
1.19
1
11.558,55
(Nguồn : Báo cáo hàng năm của Cục đầu tư nước ngoài - FIA)
Năm 2009 : Dịch vụ lưu trú và ăn uống là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của
các nhà đầu tư nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Trong đó, có 32 dự án
cấp mới với tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 8 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ
USD.
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
7
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm.
Trong đó có một số dự án có quy mô lớn được cấp phép trong năm như Khu du lịch sinh thái
bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại
Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có
tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD.
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong năm
2009 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và 749 triệu USD
vốn tăng thêm.
Với 1 dự án kinh doanh bất động sản có quy mô vốn 4 tỷ USD được cấp vào tháng
12, lĩnh vực kinh doanh bất động sản vươn lên đứng thứ nhất. Trong đó có 27 lượt dự án cấp
mới và 6 dự án tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 6,84 tỷ USD, chiếm

chiếm 4,7%.
Trong Quý I năm 2013 nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 15 ngành lĩnh vực,
trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm
của nhà đầu tư nước ngoài với 84 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng
thêm là 5,539 tỷ USD, chiếm 91,8% tổng vốn đầu tư đăng ký trong Quý I. Lĩnh vực kinh
doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là
249,84 triệu USD, chiếm gần 4,1% tổng vốn đầu tư. Đứng thứ 3 là lĩnh vực Bán buôn, bán
lẻ, sửa chữa với 29 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 85,2
triệu USD.
2. Đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI :
a. Thành tựu :
Thứ nhất, ĐTNN góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực đầu tư trong nước: Tác động của ĐTNN đối với tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ
hơn thông qua:
- Bổ sung cho tổng vốn đầu tư xã hội :
Vốn ĐTNN thực hiện tăng nhanh qua các thời kỳ, từ khoảng 20,67 tỷ USD, chiếm
24,32% tổng vốn đầu tư xã hội (1991 - 2000) lên 69,47tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu
tư xã hội (2001 - 2011). Tỷ trọng khu vực ĐTNN trong cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2011
tăng 5,4% .
Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội (%)
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
9
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê
- Góp phần quan trọng vào xuất khẩu : Chủ trương khuyến khích ĐTNN hướng về
xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó
giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu
+ ĐTNN góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng
giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng
chế tạo.

ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất là các dự án đầu tư vào phát triển nguồn
nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quán canh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở
một số địa phương.
- Khu vực ĐTNN đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao như
khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê,ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải
biển, lô-gi-stíc, siêu thị Các dịch vụ này cũng góp phần tạo ra phương thức mới trong phân
phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thích hoạt động thương mại nội địa và góp phần tăng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa.
Thứ ba, ĐTNN tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu
lao động : Hiện nay khu vực ĐTNN tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3 - 4
triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động
theo hướng CNH-HĐH. Doanh nghiệp ĐTNN được xem là tiên phong trong
việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ
thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học,
công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài. Ngoài ra, ĐTNN đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa lao động, cập nhật kỹ
năng cho bên cung ứng và bên mua hàng.
Thứ tư, ĐTNN là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng cao trình
độ công nghệ của nền kinh tế : Khu vực ĐTNN sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công
nghệ tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực. Thông qua các hợp
đồng chuyển giao công nghệ, khu vực ĐTNN đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ
tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực. Xét về cấp độ
chuyển giao công nghệ, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hiệu quả cao nhất. Theo Bộ Khoa
học và Công nghệ, một số ngành đã thực hiện tốt chuyển giao công nghệ như dầu khí, điện
tử, viễn thông, tin học, cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy và dệt may, giày dép, trong đó viễn
thông, dầu khí được đánh giá có hiệu quả nhất.
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
11
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
Tác động lan tỏa công nghệ của khu vực ĐTNN được thực hiện thông qua mối liên kết

gian qua vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục :
Thứ nhất, hiệu quả tổng thể nguồn vốn FDI chưa cao: Trong công nghiệp - xây dựng,
các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; có quá ít dự án về cơ sở hạ
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
12
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
tầng; tỷ trọng dự án trong nông - lâm - ngư nghiệp rất thấp và có xu hướng giảm dần trong
khi đây là những ngành Việt Nam có thế mạnh. Trong dịch vụ, các dự án bất động sản quy
mô lớn còn cao song nhiều trong số dự án này chậm triển khai, gây lãng phí về đất đai, vay
vốn trong nước.FDI vào các dịch vụ trung gian, dịch vụ giá trị gia tăng cao, giáo dục đào tạo,
y tế, chăm sóc sức khỏe, môi trường… còn hạn chế.
- Vốn FDI hiện tập trung chủ yếu tại địa bàn có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng,
nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm gây mất cân đối vùng miền, không đạt được
mục tiêu hướng FDI vào địa bàn khó khăn.
- Đối tác đầu tư vào Việt Nam chủ yếu từ Châu Á, nhà đầu tư nước ngoài là
doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ cao. Hiện mới chỉ thu hút được trên 100 trong tổng số
500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới.
Thứ hai, mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn), chuyển
giao công nghệ chưa đạt được như kỳ vọng.
- Trên 80% doanh nghiệp ĐTNN sử dụng công nghệ trung bình của thế
giới, 5-6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức thấp và lạc hậu, cá biệt có trường hợp sử
dụng công nghệ lạc hậu. Chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện theo chiều ngang - giữa
doanh nghiệp với doanh nghiệp, ít có những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ.
- Do mặt bằng công nghệ sử dụng trong các dự án ĐTNN chưa cao nên hiệu quả
chuyển giao công nghệ theo chiều ngang còn hạn chế. Không ít trường hợp nhà đầu tư nước
ngoài lợi dụng sơ hở của luật pháp, yếu kém trong quản lý nhà nước để nhập khẩu vào Việt
Nam máy móc, thiết bị lạc hậu gây ô nhiễm môi trường, khai tăng giá trị nhập khẩu và giá trị
chuyển giao công nghệ. Công nghệ thấp dẫn đến các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu
thực hiện việc gia công, một số doanh nghiệp được coi là công nghệ cao nhưng những khâu
sử dụng công nghệ cao lại không thực hiện ở Việt Nam. Hệ quả là doanh nghiệp Việt Nam

Thứ sáu, có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế: Một số doanh nghiệp ĐTNN có biểu
hiện áp dụng các thủ thuật chuyển giá tinh vi như nâng khống giá trị góp vốn (bằng máy
móc, thiết bị, bản quyền…), giá trị mua bán nguyên vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, thành
phẩm, dịch vụ, phí quản lý, tiền bản quyền, chi phí bảo lãnh, cho vay, trả lương, đào tạo,
quảng cáo, nhà thầu, chuyển nhượng vốn … tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu
ngân sách, làm cho đa số bên Việt Nam phải rút khỏi liên doanh, doanh nghiệp trở thành
100% vốn nước ngoài
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
14
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
CHƯƠNG 2:
NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VỀ PHÁP LÝ VÀ
THỦ TỤC TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.
1. NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VỀ PHÁP LÝ :
1.1 Về chính sách thuế :
a. Những văn bản pháp luật điều chỉnh :
- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH ngày 03/06/2008;
- Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chit tiết
thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH ngày 27/06/2005;
- Nghị định 87/2010/NĐ-CP ngày 13/08/2010 của chính phủ quy định chit tiết
thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
- Luật Thương mại số 35/2005/QH11 ngày 14/06/2005;
- Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 06/02/2007 quy định chi tiết Luật Thương
mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán
hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
b. Những khó khăn, vướng mắc về pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN):
• Những quy định chồng chéo nhau :
- Điều 32 Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Nghị định

Bosch Việt Nam có dự án đầu tư nhà máy sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho
xe có động cơ và không động cơ tại Đồng Nai, sản phẩm xuất khẩu 100%, vốn đầu tư
đến nay hơn 140 triệu USD, công nghệ và sản phẩm dự án đáp ứng được các tiêu
chuẩn về dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao. Theo ông Võ Quang Huệ – TGĐ
Robert Bosch Việt Nam, công ty đã có kiến nghị được hưởng thuế TNDN ưu đãi đối
với dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao nhưng chưa được xem xét giải
quyết vì công ty sử dụng pháp nhân hiện tại đang có ở TP.HCM để đầu tư tại Đồng
Nai nên được xem như là dự án mở rộng đầu tư chứ không thành lập DN mới.
1.2 Về chính sách đất đai :
a. Những văn bản pháp luật điều chỉnh :
- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003;
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết
Luật đất đai;
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/5/2007 quy định bổ sung
về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất,
trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết
khiếu nại về đất đai.
b. Những khó khăn, vướng mắc về pháp lý trong chính sách đất đai :
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
16
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
Một trong những điều kiện tiên quyết đối với các hoạt động đầu tư, kinh doanh
của các doanh nghiệp là cần phải có các nguồn lực, nhưng không phải nhà đầu tư nào
cũng có đủ các nguồn lực cho các ý tưởng đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là các nguồn
lực về đất đai, về vốn và các dịch vụ liên quan khác. Các quy định của pháp luật về
đất đai về cơ bản đã có nhưng chưa đủ hoặc còn nhiều bất hợp lý, gây khó khăn cho
việc tiếp cận các nguồn lực này của doanh nghiệp:
- Về giao đất, cho thuê đất: quy định hiện nay chỉ cho phép nhà đầu tư
nước
ngoài được quyền lựa chọn hình thức thuê đất là chưa bình đẳng trong

các quy định của pháp luật liên quan tới công tác đền bù, giải phóng mặt bằng hay
thay đổi chưa phản ánh sát với điều kiện thực tế dẫn đến tình trạng chi phí bồi
thường, giá thuê đất tăng cao, làm giảm sức hấp dẫn đầu tư vào các KCN, KKT, giảm
tính cạnh tranh quốc gia của KCN. Hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào
của một số KCN, KCX và hạ tầng KKT còn chưa được đầu tư, xây dựng một cách
đồng bộ.
- Việc phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN, KKT trong một số lĩnh vực
còn chưa được thực hiện đầy đủ, nhất quán trên cả nước do có sự không thống nhất
với các quy định của pháp luật chuyên ngành, chưa được các bộ, ngành hướng dẫn cụ
thể hoặc chủ trương phân cấp, ủy quyền chưa được địa phương quán triệt và thực
hiện, đặc biệt là lĩnh vực thanh tra, môi trường, lao động
- Thiếu sự phối hợp của các cơ quan Chính phủ (Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên
và môi trường) trong việc xây dựng luật lệ về lĩnh vực này. Vì vậy có sự thiếu nhất
quán hoặc chồng chéo giữa Luật Đất đai, Luật nhà đất, Luật Bất động sản và các văn
bản dưới luật có liên quan.
Tình huống cụ thể : Tập đoàn InnovGreen mới đây đã có thư ngỏ gửi Chính
phủ, nhân dân và các cơ quan truyền thông xin đổi các lô đất rừng “nhạy cảm” lấy
diện tích đất rừng khác. Vị Tổng giám đốc khẳng định: “Nếu giờ đây các khu đất
chúng tôi đã được giới thiệu thuê được coi là “nhạy cảm, phương hại đến an ninh
quốc phòng” thì InnovGreen sẵn sàng bàn giao lại toàn bộ các diện tích đó ngay nếu
Nhà nước Việt Nam ban hành quyết định cho thuê và bàn giao đất ở khu vực khác với
diện tích, thời hạn thuê tương đương, phù hợp để trồng rừng, đồng thời bồi thường
các chi phí liên quan đến đầu tư làm đường, trồng, chăm sóc rừng đã thực hiện”.
Thực tế, Công ty InnovGreen đã thuê 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê
của các dự án trồng rừng có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Với 8.123 ha đã
được cấp, InnovGreen đã nộp ngân sách 77.946 USD. Như vậy, giá thuê đất trồng
rừng trung bình khoảng 9,6 USD/ha, tương đương 180.000 đồng/ha, một mức được
coi là rất “khiêm tốn”.
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
18

- Dự án thuộc diện thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư:
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
19
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
+ Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên;
+ Dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện theo Điều 29 Luật Đầu tư
và Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài
- Thủ tục đăng ký đầu tư : Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ đăng ký đầu tư và hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu
tư hoặc Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký
đầu tư, hồ sơ đăng ký kinh doanh (đối với trường hợp thành lập tổ chức kinh tế gắn
với dự án đầu tư) và cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
- Thủ tục thẩm tra dự án đầu tư
+ Thủ tục thẩm tra thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ
Bước 1
Nhà đầu tư nộp 10 bộ hồ sơ dự án đầu tư, trong đó ít nhất có 1 bộ hồ sơ gốc đến
Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Ban quản lý các Khu công nghiệp.
Bước 2
-Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án đầu tư, cơ
quan tiếp nhận hồ sơ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và gửi hồ sơ lấy ý kiến thẩm tra
của các Bộ, ngành liên quan
-Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan tiếp nhận đầu tư thông báo bằng văn
bản cho nhà đầu tư biết để sửa đổi, bổ sung hồ sơ
Bước 3
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án đầu tư, cơ
quan được hỏi có ý kiến thẩm tra bằng văn bản và chịu trách nhiệm về những vấn đề
của dự án thuộc chức năng quản lý của mình
Bước 4
Trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan cấp
Giấy chứng nhận đầu tư lập báo cáo thẩm tra, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch
và Đầu tư lập báo cáo thẩm tra, trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Trong thời
hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm tra, Uỷ ban nhân dân tỉnh
quyết định việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
Bước 5
Đối với dự án do Ban quản lý cấp Giấy chứng nhận đầu tư, trong thời hạn 20
ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ban quản lý tổng hợp ý kiến các cơ
quan được hỏi ý kiến để quyết định cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
21
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
Trường hợp dự án đầu tư không được chấp thuận, cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án
đầu tư gửi thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư, trong đó nêu rõ lý do.
- Thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư
1. Khi điều chỉnh dự án đầu tư liên quan đến mục tiêu, quy mô, địa điểm, hình
thức, vốn và thời hạn thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư phải làm thủ tục tại Sở Kế
hoạch và Đầu tư để làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư.
2. Không phải làm thủ tục đăng ký điều chỉnh hoặc thẩm tra điều chỉnh đối với
các dự án đầu tư điều chỉnh về mục tiêu, quy mô, địa điểm, vốn, hình thức, thời hạn,
dự án thuộc các trường hợp sau:
- Các dự án đầu tư trong nước sau khi điều chỉnh có quy mô vốn đầu tư dưới 15
tỷ đồng Việt Nam và không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện;
- Các dự án đầu tư trong nước mà sau khi điều chỉnh, dự án có quy mô vốn đầu
tư dưới 300 tỷ đồng Việt Nam và không thay đổi mục tiêu, địa điểm đầu tư.
3. Đăng ký điều chỉnh dự án đầu tư :
a) Dự án thuộc diện đăng ký điều chỉnh gồm các dự án mà sau khi điều chỉnh về
mục tiêu, quy mô, địa điểm, vốn, hình thức, thời hạn, dự án đó thuộc các trường hợp
sau: dự án có vốn đầu tư nước ngoài sau khi điều chỉnh có quy mô vốn đầu tư dưới
300 tỷ đồng Việt Nam và không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện; dự án đầu tư
trong nước mà sau khi điều chỉnh, dự án không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện, trừ

hoạch hoặc chưa có điều kiện đầu tư được pháp luật quy định, thì Sở Kế hoạch và
Đầu tư chuẩn bị hồ sơ để Chủ tịch UBND tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
trước khi điều chỉnh, bổ sung nội dung Giấy chứng nhận đầu tư.
e) Trường hợp nội dung điều chỉnh liên quan đến lĩnh vực đầu tư có điều kiện,
thì Sở Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến thẩm tra của Bộ, ngành có liên quan trước khi
trình Chủ tịch UBND tỉnh điều chỉnh, bổ sung nội dung Giấy chứng nhận đầu tư.
c. Thực trạng khó khăn, vướng mắc DN gặp phải
Thủ tục liên quan đến hoạt động đăng ký đầu tư, thẩm tra đầu tư, cấp Giấy
chứng nhận đầu tư còn trùng lặp, chưa minh bạch và rõ ràng về mục tiêu quản lý của
các thủ tục này. Thủ tục rườm rà, hướng dẫn thực hiện không nhất quán làm cho các
nhà đầu tư khó có thể xác định được những quy định mà nhà đầu tư phải tuân theo
hay những ưu đãi mà nhà đầu tư có được.
Các
điều kiện đầu tư trong từng ngành để làm cơ sở cho việc cấp GCNTĐT
chưa thật rõ ràng, nhất quán. Nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc nắm bắt thông tin,
mất thời gian, chi phí để chờ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được cấp
.
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
23
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam - Vướng mắc pháp lý và thủ tục 2013
Quá trình thẩm tra dự án (thẩm tra theo quy hoạch ngành, thẩm tra năng năng lực
tài chính và kinh nghiệm đối với dự án có quy mô lớn, tác động xã hội; thẩm tra về công
nghệ, môi trường, loại đất và quy mô sử dụng đất) còn mất nhiều thời gian, thiếu sự nhất
quán giữa các cơ quan chuyên ngành.
Thực tế quản lý ở địa phương thời gian cấp chứng nhận đầu tư ở địa phương
thường bị chậm trễ do phải chờ các cơ quan trung ương cho ý kiến thẩm tra: “Thời
gian cho ý kiến là 15 ngày nhưng hầu như đều bị quá thời hạn, trong khi ý kiến các bộ
đôi khi còn chung chung, làm khó cho địa phương”. Điều 49 -Nghị định số
108/2006/NĐ-CP.
Một số Bộ, Ngành chậm ban hành các thông tư hướng dẫn các nghị định của

kinh doanh khi có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Nhưng theo Điều 52 Luật
Đầu tư 2005 lại giới hạn thời hạn hoạt động của các dự án ĐTNN. Quy định như vậy
một mặt làm cho nhà ĐTNN chưa thực sự được đối xử bình đẳng như các nhà đầu tư
trong nước, mặt khác nhiều trường hợp việc làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận
đầu tư mới mang tính hình thức để duy trì hoạt động của doanh nghiệp chứ không
thực sự là một dự án đầu tư mới.
Thực tế cho thấy, vấn đề sở hữu của NĐT nước ngoài trong DN FDI chuyển đổi
thành CTCP theo Quyết định 55/2009 QD-TTg còn nhiều vướng mắc, cụ thể như sau:
• Việc hạn chế tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài đối với các DN FDI chuyển
đổi như các công ty đại chúng nói chung là 49% sẽ khiến cho nhiều DN không
được phát hành quyền mua cổ phiếu theo tỷ lệ sở hữu cho các NĐT nước
ngoài
• Trường hợp bắt buộc các DN FDI chuyển đổi phải giữ tỷ lệ sở hữu nước ngoài
không quá 49% vừa vi phạm quyền lợi của cổ đông nước ngoài hiện hữu, vừa
vô tình khuyến khích việc thoái vốn nước ngoài, trong khi các DN này vẫn
được thành lập với 100% vốn nước ngoài trong những ngành nghề không bị
hạn chế.
 Hạn chế của lựa chọn này là việc đăng ký lại có thể gây phiền hà cho doanh
nghiệp về mặt thời gian và thủ tục giấy tờ. Doanh nghiệp sẽ phải chuẩn bị hồ sơ đăng
ký lại và soạn thảo điều lệ cho phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp theo quy định
của Luật Doanh nghiệp 2005.
- DN có vốn ĐTNN chọn tiếp tục hoạt động theo GPĐT đã được cấp
Về nguyên tắc, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN có thể tiếp tục thực hiện việc tổ
chức quản lý doanh nghiệp theo những nguyên tắc đã được được quy định trong điều
lệ của các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, một vấn đề thực tiễn đặt ra là khi các doanh
Cao học Đêm 4 – Khóa 22 – LuậKt inh tế
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status