MỤC LỤC
Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài………………………………
2 .Đối tượng nghiên cứu của đề tài………………………
3. Phương pháp nghiên cứu………………..…………….
4. Ý nghĩa và mục đích nghiên cứu………………………
5. Bố cục của đề tài………………………………………
Phần nội dung………………………………………
Chương 1 ;Một số lý luận và các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý
của người nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam……….
1.1. Khái niệm…………………………………………
1.1.1. Khái niệm người nước ngoài……………………
1.1.2.Khái niệm đầu tư trực tiếp ……………………..
1.1.3. Địa vị pháp lý của người nước ngoài …………..
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển chế định địa vị pháp lý của người
nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam……….
1.3. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người nước ngoài đầu tư trực tiếp
vào Việt Nam…..
1.3.1. Chính sách đầu tư và bảo đảm về vốn,tài sản. ........ ……
1.3.2.Các quyền và nghĩa vụ cơ bản……………………………………
Chương 2; Thực tiển áp dụng và một số hướng giải pháp hoàn thiện.
2.1. Thực tiễn áp dụng những quy định về địa vị pháp lý……
2.2. Thực trạng và hạn chế nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam….
2.3. Một số hướng giải pháp hoàn thiện………….
Phần kết luận……………………………………………
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong thời đại ngày nay phát triển của nền kinh tế thế giới đã chiụ
tác động của một loạt những xu thế mới , trong đó nổi bật lên là xu thế
quốc tế hóa , toàn cầu hóa đời sống kinh thế giới và xu thế chuyển từ đối
đầu sang đối thoại, từ biệt lập sang hợp tác với sự ưu tiên các nguồn lực
triển tại Việt Nam.Tuy nhiên, trong những năm gần đây kinh tế toàn cầu
suy thoái đã ành hưởng nhiều đến việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) của nhiều nước trên thế giới và Việt Nam cũng không
thoát khỏi khó khăn này .Trong hoàn cảnh như vậy nước ta cần có những
đường lối chính sách thiết thực để cải thiện tình hình, trước hết là phải có
một hệ thống pháp luật hoàn thiện.Với những lý do trên việc nghiên cứu
đề tài: Địa vị pháp lý người nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam
thực sự cần thiết và bổ ích.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Do hạn chế về thời gian và giới hạn nên niên luận chỉ tập trung
nghiên cứu về các quy định của pháp luật Việt Nam về những quyền và
nghĩa vụ mà người nước ngoài được hưởng và gánh vác khi đầu tư trực
tiếp vào Việt Nam .Trên cở sở đó đề ra phương hướng va giải pháp nhằm
hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật về “Địa vị pháp lý của
người nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam”.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp
phân tích.Bên cạnh, đó còn sử dụng một số phương pháp khác như:
Phương pháp đối chiếu
Phương pháp liệt kê
Phương pháp so sánh
Các phưong này được sử dụng song song để đề tài mang tính khoa học
hơn.
4. Ý nghĩa và mục đích nghiên cứu đề tài:
Thông qua việc nghiên cứu đề tài có một ý nghĩa rất thiết thực
,đem lại cho ta một cái nhiền chung hơn, cụ thể hơn về các quy định pháp
luật Việt Nam về “Địa vị pháp lý của ngừời nước ngoài đầu tư trực tiếp
vào Việt Nam ”. Đặc biệt, từ những quy định sẽ cho các nhà đầu tư xác
định cho mình đâu là thuận lợi ,đâu là khó khăn trong quá trình đầu tư và
phát triển. Riêng cá nhân tôi khi nghiên cứu đề tài này sẽ hiểu sâu hơn về
thể là người có quốc tịch nước khác, một vài nước khác hoặc không mang
quốc tịch của một nước nào.
+ Người nước ngoài có thể cư trú trên lảnh thổ Việt Nam cũng có thể
cư trú ngoài lảnh thổ Việt Nam.
Khái niệm người nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng trong một số văn
bản pháp quy không chỉ dùng để chỉ thể nhân nước ngoài, đôi khi còn chỉ
các quốc gia nước ngoài nữa. Người nước ngoài theo nghĩa hẹp chỉ dùng
để hiểu đó là công nhân nước ngoài (hay thể nhân nước ngoài) hoặc thậm
chí cả người không quốc tịch. Có thể nói cách hiểu như trên chỉ màng
tính chất quy ước.
Trong sự phat triển khách quan lịch sử của cộng đồng các quốc
gia trên thế giới, công nhân nước này nước kia cùng chung sống
trên lảnh thổ của một quốc gia do những nguyên nhân khác nhau đó là:
- Do chiến tranh dẩn đến di cư ồ ạt.
- Do việc chia tách lảnh thổ quốc gia.
- Do hậu quả của thiên tai như;động đất,núi lửa…
- Do thay đổi của chính trị, kinh tế.
- Và cuối cùng là sự hợp tác kinh tế, khoa học kỷ thuật, giao lưu
văn hóa giữa các nước. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu của
thời đại ngày nay làm cho khoảng cách giữa các quốc gia rút ngắn, dân cư
có sự giao thoa và các nguyên nhân khác nữa.
Như vậy, việc nghiên cứu quy chế pháp lý của công nhân nước ngoài
không thể không tìm hiểu khái niệm người nước ngoài đã được hình
thành trong khoa học pháp lý ở nước ngoài và ở nước ta.
1.1.2. Khái niệm đầu tư trực tiếp.
Hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động kinh tế quan
trọng của Nhà nước, một hoạt động sản xuất - kinh doanh cơ bản của
doanh ngiệp .Vì lỉnh vực này thể hiện định hướng kinh tế - chính trị của
một đất nước có tác dụng đối với sự phát triển của Doanh nghiệp và của
đất nước về mọi mặt kinh tế xã hội. Đối với Doanh nghiệp, đầu tư là một
tư” nó khác với hình thức đầu tư gián tiếp là hình thức thông qua mua cổ
phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông
qua chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia
quản lý hoạt động đấu tư. Đầu tư tác động đến nhiều lỉnh vực khác nhau
như cung , cầu, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và làm tăng khả năng khoa
học kỷ thuật.
Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp:
- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc
100% vốn của nhà đầu nước ngoài.
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
với các nhà đầu tư nước ngoài.
Đầu tư theo hợp đồng hợp tác - kinh doanh (hợp đồng BCC), hợp đồng
xây dựng - kinh doanh (hợp đồng BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển
giao(hợp đồng BTO), hợp đồng xây dựng chuyển giao (hợp đồng BT).
- Đầu tư phát triển kinh doanh.
- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia hoạt động đầu tư.
- Đầu tư việc sát nhập và mua lại doanh nghiệp.
- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
Hoạt động đầu tư trực tiếp cũng biếu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau như hoạt động liên doanh, công ty cổ phần, mở rộng, tăng
cương năng lực sản xuất. Đầu tư trực tiếp có thể chia thành 2 nhóm là đầu
tư chuyển dịch và đầu tư phát triển.
- Đầu tư chuyển dịch là sự chuyển dịch vốn đầu tư tài sản từ
người này sang người khác theo cơ chế thị trường của tài sản
được chuyển dịch. Hay chínhà việc mua lại cổ phần trong
Doanh nghiệp nào đó. Việc chuyển dịch nay không ảnh hưởng
đến vốn của Doanh nghiệp nhưng có khả năng tạo ra một năng
lực quản lý mới, như sản xuất mới. Tiến hành hóa các cổ phần
hóa các Doanh nghiệp ở nước ta hiện nay là một hình thức đầu
tư chuyển dịch.
quyết xung đột pháp luật về năng lực pháp luật và năng lực hành vi trong
tư pháp quốc tế.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý của người Việt Nam cũng như một số
nước năng lực pháp luật cá nhân là khả năng của người đó đựơc hưởng
các quyền và gánh vác các nghĩa vụ mà theo pháp luật quy định.Còn năng
lực hành vi của cá nhân là khả năng của chính người đó bằng các hành vi
của mình thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ theo quy định
của pháp luật.
Năng lực hành vi và năng lực pháp luật quy định quyền năng chủ thể
của một thực thể khi đó tham gia vào mối quan hệ pháp luật nhất định.
Nhưng trong thực tế pháp luật của các nước trên thế giới các khái niệm
năng lưc pháp luật và năng lực hành vi được hiểu rất khác nhau và dẫn
đến việc quy định trong pháp luật cũng khác nhau.
Trong hệ thống pháp luật các nước Châu Âu lục địa, tiêu biểu có thể kể
đến là nước Pháp thì hai khái niệm trên được hiểu là: Năng lực pháp luật
nói chung (capacite’jouisance) và năng lực thực hiện nghĩa vụ
( capctice’de’xercese) .Theo hệ thống pháp luật Anh – Mĩ (Common law)
thì năng lực chủ thể (capcity) bao gồm năng lực hành vi và năng lực pháp
luật. Để giải quyết xung đột pháp luật về năng lực pháp luật dân sự của
công nhân nước ngoài, pháp lụât của các nước thường quy định người
nước có năng lực pháp luật ngang hoặc tương đương công nhân sở tại.
Còn giải quyết xung đột pháp luật về hành vi thì đại đa số các nước áp
dụng nguyên tắc luật quốc tịch (Lex pactriae) riêng hệ thống phấp luật
Anh – Mĩ (commn law) lại áp dụng luật nơi cư trú (Lex domicilli).
Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, Điều 761 Bộ luật dân sự năm
2005 về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài quy
định: Năng lực pháp luật dân sự cá nhân là người nước quy định: Năng
lực pháp luật cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật
mà người đó có quốc tịch.
Điều 762 Bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực hành vi dân sự là của cá
trong mối tương quan phụ thuộc lẩn nhau giữa các quốc gia. Nội dung
của nó thể hiện ở chổ:
Một quốc gia dành một chế độ pháp lý nhất định cho thể nhân và pháp
nhân nước ngoài tương ứng như nươc đó đã dành và sẻ dành cho công
nhân và pháp nhân của nước mình ở đó trên cở sở có đi có lại.
- Chế độ báo phụ quốc.
Chế độ này được áp dụng trên cở sở: Chế độ có đi có lại và cùng xuất
phát từ tinh thần “có đi có lại” nên vấn đề “báo phụ” được đặt ra trong
quan hệ giữa các quốc gia.
1.1.3.2 . Địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 1 Quyết định 122/CP của Hội Đồng Chính phủ ban hành
25/4/1977 quy định: Người nước ngoài là người cư trú và làm ăn sing
sống tai Việt Nam nhưng không mang quốc tịch Việt Nam.Như vậy, dấu
hiệu quốc tịch là dấu hiệu cơ bản để phân biệt ai là người nươc ngoài ai
là người Việt Nam.
Trên cở sở thời hạn cư trứ mà pháp luật Việt Nam cũng như nhiều nước
phân biệt người nưới ngoài thành hai loại:
- Người nước ngoài tạm trú.
- Người nước ngoài thường trú.
Địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam được quy định trong
các vẳn bản pháp quy của Việt Nam cũng như các điều uớc quốc tế của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 8 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chũ nghĩa Việt Nam quy định:
Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và Pháp
luật Việt Nam,được nhà nươc Việt Nam bảo hộ tính mạng ,tài sản và
quyền lơị chính đáng theo pháp luật Việt Nam.
Như vậy , địa vị pháp lý của người nước ngoài được pháp luật Việt Nam
ghi nhận trên cở sở những quyền và nghĩa vụ cở bản của công nhân nước
ngoài khi cư trú, làm ăn sinh sống trên lảnh thổ Việt Nam. Nhìn chung,
về nguyên tắc địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam được