THÔNG BA LÁ
Pinus kesiya Royle ex Gordon, 1840
Tên đồng nghĩa: Pinus insularis Endl., 1847; Pinus khasya Royle ex Hook. f., 1888
Tên khác: Xà nu, xà núi (Tây Nguyên), ngo (Đà Lạt), tòng thú (Mèo-Lai Châu).
Họ: Thông – Pinaceae
Tên thương phẩm: Khasya pine, gum rosin of pine, tall oil, turpentin oil, pine oil Hình thái
Cây gỗ lớn, thân thẳng đứng, cao 20-
30(-45)m, đường kính thân có thể tới 50-
70(-100)cm, vỏ dày, nứt thành những
rãnh sâu, màu nâu đen. Cành nhỏ thường
có màu vàng nhạt, màu phấn trắng. Lá
hình kim, họp thành từng túm 3 lá (ít khi
có 2 hoặc 4 lá), dài (10-)12-21(-25)cm,
mảnh, mềm, màu xanh sáng.
Nón đơn tính cùng gốc. Nón cái hình
trứng, dài (4-)5-8(-10)cm, gần như không
cuống hoặc có cuống rất ngắn (dài nhất
chỉ khoảng 10 mm).
Hạt nhỏ có cánh mỏng, dài 1,5-
2,5cm.
Các thông tin khác về thực vật
Cây ưa mát, ẩm và ưa sáng. Trong tự nhiên chúng
thường sinh trưởng ở các khu vực có độ cao từ 300m đến
2.700m, song thích hợp nhất là ở các độ cao từ 1.000 đến
1.500m.
Ở nước ta, rừng thông ba lá mọc thuần loại chỉ phân bố ở
một số khu vực có độ cao trên 1.000m tại Tây Nguyên (nhiều
nhất là ở Lâm Đồng, tiếp đó là Gia Lai và Kon Tum). Trong
vành đai 800-1.000m là các kiểu rừng hỗn giao của thông ba
lá và thông nhựa (Pinus merkusii). Càng xuống thấp độ gặp
của thông ba lá giảm dần, nhưng với thông nhựa lại tăng lên.
Tại một số địa phương ở phía Bắc cũng có thể gặp thông ba
lá mọc thuần loại hoặc hỗn giao với một số cây lá rông khác,
nhưng với diện tích nhỏ và tạo thành loại hình rừng thưa lá
kim. Thông ba lá thích hợp với các khu vực có nhiệt độ trung
bình năm khoảng 15-20
0
C, tổng lượng mưa khoảng 2.000-
2.500mm và mùa khô ngắn. Chúng ưa đất nhiều mùn, tương
đối ẩm, chua (pH 4,8-5,5), phong hoá trên đá mẹ hoa cương, gnai, phiến thạch, phiến thạch
mica, sa thạch…, thoát nước tốt, quang đãng và được chiếu sáng đầy đủ. Thông ba lá không
thích ứng với đất kiềm.
Phân bố của thông ba lá
ở Việt NamTại Tây Nguyên, thông ba lá tái sinh tự nhiên khá tốt. Hạt thường phát tán vào mùa khô và
nẩy mầm vào mùa mưa. Cây con ưa sáng và ưa ẩm. Trong tự nhiên, thông ba lá tăng trưởng
chiều cao khá nhanh ở giai đoạn trước 14-15 tuổi. Đến giai đoạn 18-25 năm tuổi, cây đạt chiều
cao su, sơn, sản xuất giấy, vật liệu cách điện, nhựa hàn, keo dán, chất tạo bọt cho xà phòng,
công nghiệp in, vẽ các sản phẩm in batic, làm xi, dùng để bôi trơn cho nhiều loại nhạc cụ và
chế biến cao dán chữa trị mụn nhọt…
Tinh dầu (turpentine oil) được dùng làm thuốc bôi, có tác dụng kích thích tại chỗ, lưu thông
máu đối với bệnh viêm thấp khớp, cảm lạnh. Tinh dầu thông có tính sát trùng mạnh nên được
dùng làm thuốc diệt khuẩn đường hô hấp (thuốc ho, thuốc xông họng). Tinh dầu thông cũng là
nguồn nguyên liệu trong công nghiệp hoá mỹ phẩm, sản xuất thuốc trừ sâu thảo mộc, làm dung
môi trong công nghiệp sơn, vecni và công nghiệp tuyển quặng.
Từ gốc thông già ta có thể xử lý, chưng cất lấy tinh dầu và hắc ín thảo mộc. Gỗ thông ba lá
tuy không bền bằng gỗ thông nhựa, nhưng cũng được sử dụng khá phổ biến (đồ gỗ thông
thường, thùng đựng hàng, cột điện, đóng toa xe…), đặc biệt là trong công nghệ chế biến gỗ
dán, bột giấy, sợi tổng hợp.
Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
Nhân giống:
Thông ba lá cho khối lượng hạt giống nhiều và đạt phẩm chất tốt ở thời kỳ khoảng (10-)15-
30(-35) tuổi. Cần chọn hạt giống từ những cây mẹ có tầm vóc to, cao, dáng đẹp, không sâu
bệnh. Ở các tỉnh Tây Nguyên có thể thu hạt vào tháng 12-2 và gieo hạt từ tháng 4 đến tháng
10. Như vậy cây non có thể đưa trồng vào tháng 7-10 năm sau. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc,
nên tận dụng thu hái hạt giống và gieo trồng vào vụ đông-xuân. Có thể gieo hạt vào bầu đất
hoặc gieo theo luống trong vườn ươm, rồi sau đó mới chuyển cây con sang bầu đất trước khi
đưa trồng. Để cây con sinh trưởng nhanh, người ta thường cho nhiễm nấm cộng sinh ở rễ (như
các loài Pisolithus tinctorius, Scleroderma sp., Thelephora terrestris, Cenoccoccum graniforme,
Rhizopogon sp…) vào đất ươm hạt. Việc phun thuốc trừ nấm gây bệnh định kỳ và giữ độ ẩm
thích hợp ở vườn ươm sẽ hạn chế bệnh hại, đặc biệt là hiện tượng tàn lụi dần ở cây thông non.
Cây con 1 năm tuổi, có thân cứng, ngọn chắc, bộ lá xanh tươi, bộ rễ có màu trắng với nhiều
nấm cộng sinh là đủ tiêu chuẩn mang đi trồng.
từng mục tiêu (lấy nhựa hay lấy gỗ) mà ta áp dụng các biện pháp khai thác nhựa khác nhau đối
với các dải rừng thông ba lá tự nhiên tại Tây Nguyên. Trường hợp lấy nhựa là chính thì có thể
bắt đầu chích dưỡng từ lúc cây có đường kính thân ngang ngực khoảng 20-30cm đến khi cây
đạt đường kính thân 80-90cm. Chế độ chích rút được áp dụng trong thời kỳ cây đã chậm lớn,
song vẫn còn khả năng cho nhiều nhựa. Các khu rừng thông đã đưa vào kế hoạch khai thác gỗ
cần phải đưa vào chế độ chích kiệt trước khi chặt cây. Những rừng thông ba lá được trồng
nhằm tạo nguyên liệu cho công nghệ giấy sợi, gỗ trụ mỏ thì mật độ trồng tương đối dày, thân
cây cao, thẳng, đường kính thân nhỏ… và tuổi khai thác tương đối ngắn. Do đó trong các đợt
tỉa thưa trung gian cũng như khai thác trắng, ta có thể sử dụng biện pháp chích kiệt để tận
dụng hết nhựa.
Với thông ba lá ở Tây Nguyên ta có thể khai thác nhựa quanh năm, nhưng chủ yếu là các
tháng mùa khô. Năng suất nhựa tăng lên rõ rệt trong thời gian chuyển tiếp giữa mùa mưa và
mùa khô. Những rừng thông ba lá sinh trưởng tốt có thể bắt đầu cho khai thác nhựa ở giai
đoạn cây đạt 18-20 tuổi. Ở độ tuổi 25-40, thông ba lá cho năng suất nhựa cao nhất. Thời gian
khai thác nhựa có thể kéo dài đến khi cây 60-80 tuổi, tuỳ thuộc tốc độ tăng trưởng đường kính
thân hàng năm và khả năng cung cấp nhựa của từng cá thể. Cá biệt có cây trên 100 tuổi vẫn
tiếp tục tăng trưởng theo đường kính thân và năng suất tiết nhựa vẫn cao. Trong tự nhiên, mỗi
cây cho trung bình 0,8-1,5(-3)kg nhựa/năm. Nếu có kỹ thuật kích thích hợp lý thì bình quân một
cây cho tới 3-4kg nhựa/năm. Với mật độ trung bình 60-80 cây/ha, năng suất nhựa của thông ba
lá tại Tây Nguyên có thể đạt 90-160(-300)kg/ha năm.
Nhựa thông sau khi thu về cần loại bỏ các tạp chất vô cơ, hữu cơ (bằng cách lọc qua mặt
lưới hay mặt sàng) trước khi đưa chưng cất. Khi nấu nhựa, nên cho thêm một lượng nước nhất
định (bằng khoảng 20% khối lượng chung) để colophan không bị cháy. Dung tích nước và
nhựa chỉ nên bằng hoặc ít hơn 60% thể tích của nồi. Sử dụng thiết bị chưng cất bằng thép
không gỉ hoặc bằng đồng là thích hợp và colophan sẽ có màu vàng nâu nhạt sáng, bóng, đẹp
đạt chất lượng sản phẩm mà thị trường ưa thích.
*- Chích dưỡng: Mỗi cây chỉ được chích 1 máng (với cây nhỏ) đến 2-3 máng (ở cây to), nhưng phải cách xa nhau một số năm.
ngày càng lớn.
Tài liệu tham khảo
1. Lã Đình Mỡi (2002). Chi Thông – Pinus L. Tài nguyên Thực vật có tinh dầu ở Việt Nam. Tập II (Lã Đình Mỡi –
Chủ biên). Tr. 380-410. Nxb Nông nghiệp – Hà Nội; 2. Lâm Công Định (1977). Trồng rừng thông. Tr. 1-220. Nxb Nông
nghiệp; 3. Lưu Đàm Cư, Lã Đình Mỡi, Đặng Thị An (1982). Góp phần nghiên cứu thông Tây Nguyên. Báo cáo nghiên
cứu khoa học sinh vật học. Tr. 34-45. Nxb khoa học và kỹ thuật – Hà Nội; 4. Nguyễn Tiến Bân, Lã Đình Mỡi, 1998. Các
loài cây gỗ thuộc chi Thông (Pinus L.). Tài nguyên Thực vật Đông Nam Á, Tr. 9-20. Nxb Nông nghiệp – Hà Nội. Tập 3,
số 1-2; 5. Armitage, F. B. & Burley, J., 1980. Pinus kessiya. Tropical Forestry Papers. No 9, 199 pp. Commonweath
Forestry Institute, Oxford; 6. Militante, E. P. (2000). Pinus L. In: E. Boer and A. B. Ella (Editors): Plant Resources of
South-East Asia 18. Plants producing exudates. pp. 98-104. Backhuys Publishers, Leiden; 7. Plocek, T. (1998).
Turpentine: a global perspective. Perfumer & Flavorist 23(4): 1,2,4,6 pp.