Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài:
Kiểm toán đang dần khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế phát
triển của Việt Nam. Cùng với sự phát triển không ngừng của kiểm toán nớc nhà,
Công ty Kiểm toán Việt Nam VACO tự hào là công ty kiểm toán đầu tiên đợc
thành lập, đã và đang là lá cờ đầu của Kiểm toán độc lập Việt Nam.
Theo Nghị định 105/2004/NĐ-CP của Chính phủ thì phạm vi của các
doanh nghiệp đợc kiểm toán mở rộng hơn so với Nghị định số 07/NĐ-CP
trớc đây. Do đó khách hàng thực hiện kiểm toán năm đầu tiên tăng lên rõ
rệt. Trong thời gian này em có cơ hội đợc thực tập tại VACO đồng thời với
việc nhận thức đợc vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm toán năm đầu tiên,
em hoàn thành báo cáo thực tập này với đề tài: "Nâng cao hiệu quả đánh giá rủi
ro trong quá trình kiểm toán năm đầu tiên, số d đầu năm do VACO thực
hiện".
2- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý thuyết kiểm toán đặc biệt gắn với việc đánh giá rủi ro kiểm
toán năm đầu tiên, đồng thời vận dụng vào thực tiễn công tác kiểm toán của
VACO. Từ đó, giúp em có thể rút ra bài học kinh nghiệm và đa ra kiến nghị nhằm
hoàn thiện hơn nữa quy trình kiểm toán năm đầu tiên tại VACO.
3- Nội dung của đề tài:
Kết cấu báo cáo tổng hợp gồm 3 chơng:
Ch ơng 1 : Cơ sở lý luận của đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo
cáo tài chính năm đầu tiên.
Ch ơng 2 : Thực trạng công tác đánh giá rủi ro kiểm toán Báo cáo tài chính
năm đầu tiên tại VACO.
Ch ơng 3 : Bài học kinh nghiệm, kiến nghị và đề xuất công tác đánh giá rủi
ro kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên.
- 1 -
Phần nội dung
Ch ơng I
cơ sở lý luận của đánh giá rủi ro
kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính
năm đầu tiên, số d đầu năm
------------
1.1- Lý luận chung về đánh giá
rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính
năm đầu tiên, số d đầu năm
1.1.1- Kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên chi phối rủi ro kiểm toán
Báo cáo tài chính đợc doanh nghiệp lập và trình bày cho những ngời quan tâm.
Mặc dù các Báo cáo tài chính này ở một số nớc có thể giống nhau, song chúng vẫn
khác nhau vì nhiều nghuyên nhân nh hoàn cảnh kinh tế, xã hội và pháp luật. Để đạt
đợc sự nhất quán trong các nguyên tắc kế toán hiện đang đợc các tổ chức kinh
doanh và nhiều tổ chức khác trên thế giới áp dụng để lập Báo cáo tài chính, ngời ta
đã cùng thống nhất những nguyên tắc chung. Trong những nguyên tắc đợc chấp
nhận chung có nguyên tắc kỳ kế toán.
Kỳ kế toán là khoảng thời gian nhất định mà trong đó các Báo cáo tài chính đợc
lập. Chúng ta thừa nhận một khoảng thời gian không nhất định cho hầu hết các thực
thể kinh doanh. Nhng kế toán lại phải đánh giá quá trình hoạt động và những thay
đổi về tình hình kinh tế của doanh nghiệp trong những thời kỳ tơng đối ngắn.
Những ngời sử dụng các Báo cáo tài chính đòi hỏi phải có sự đánh giá thờng kỳ về
tình hình hoạt động để đề ra các quyết định và chính những yêu cầu này đã dẫn đến
sự cần thiết phải phân chia hoạt động của một doanh nghiệp thành nhiều phân đoạn
nh thành từng năm, từng quý, từng tháng Thông th ờng, trong kế toán năm tài
chính kéo dài 12 tháng bắt đầu từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 của năm đó. Trong
kiểm toán, kiểm toán viên coi năm tài chính cần kiểm toán nh khái niệm trong kế
toán.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam là quá trình vận dụng Những chuẩn mực và
rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, qua đó đa ra kết luận chung có chấp nhận Hợp
đồng kiểm toán hay không. Trên thực tế công việc này rất khó khăn vì việc thu
thập thông tin là khó khăn. Tiếp đó, trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm
toán viên phải bằng kinh nghiệm và xét đoán nghề nghiệp để đánh giá quá trình
thực hiện chế độ, chính sách về tài chính có phù hợp với pháp luật Việt Nam
không. Chính vì vậy, kiểm toán viên sẽ phải chú trọng hơn đến phơng thức và thời
gian để đánh giá. Nh vậy, chỉ cần một sơ suất nhỏ trong quá trình kiểm toán, sự
hạn chế trong việc hiểu biết về khách hàng cũng có thể làm chất lợng và uy tín của
công ty kiểm toán giảm sút.
- 4 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Còn khi thực hiện kiểm toán cho khách hàng quen thuộc, tức là đã kiểm
toán ở năm trớc đó về cơ bản vẫn phải thực hiện theo trình tự nh với năm đầu tiên.
Tuy nhiên, do kiểm toán viên có thể vận dụng những hiểu biết về khách hàng và
có kinh nghiệm trong các lần kiểm toán trớc nên có thể giảm bớt một số thủ tục
nhất định.
Do đó, kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên đợc đánh giá là có mức độ
rủi ro cao hơn bình thờng. Chính mức độ rủi ro đó đã chi phối toàn bộ cuộc kiểm
toán, cụ thể chi phối việc áp dụng các phơng pháp kiểm toán nhằm thu thập bằng
chứng kiểm toán đầy đủ và hợp lý. Nhng rủi ro là gì và rủi ro kiểm toán cần phải
đợc hiểu nh thế nào? Những thắc mắc đó sẽ đợc trình bày cụ thể ở phần tiếp sau
đây.
1.1.2- Rủi ro và qui trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên
1.1.2.1- Khái niệm rủi ro:
Xét trên phơng diện chung nhất: rủi ro ám chỉ một số hình thức không chắc
chắn về hậu quả của một tình huống nhất định. Tạm thời cha nói đến ý nghĩa của
từ không chắc chắn, chúng ta thờng hiểu rõ mình định nói gì khi dùng thuật ngữ
chúng ta đã sử dụng trớc đó, theo định nghĩa này rủi ro là không chắc chắn
về hậu quả trong một tình huống cụ thể.
ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam Hội đồng ban chỉ đạo biên
soạn từ điển Bách Khoa Việt Nam (Tập 3 2003) thì:
"Rủi ro: là hậu quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự kiến đợc của một hành vi
mà việc thực hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bên đơng sự. Ngời thực
hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây nên cho ngời kia"(
14, 859
).
Trên thực tế, các hoạt động kinh tế thờng gặp những rủi ro đặc trng. Mỗi
ngành nghề có một rủi ro riêng, chẳng hạn: rủi ro hối đoái, rủi ro đầu t, rủi ro kinh
doanh... và kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Theo Uỷ ban Thực hành Kiểm toán quốc tế (IAPC) thuộc Liên đoàn Kế toán
quốc tế IFAC thì rủi ro kiểm toán đợc hiểu nh sau: Rủi ro kiểm toán là khả năng
mà kiểm toán viên đa ra ý kiến không xác đáng về đối tợng đợc kiểm toán.
Chẳng hạn, kiểm toán viên đa ra ý kiến rằng Báo cáo tài chính của đơn vị đựơc
thực hiện trung thực và hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu, tuy nhiên trên
thực tế các Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán này vẫn tồn tại các sai phạm
trọng yếu mà kiểm toán viên không phát hiện trong quá trình kiểm toán..."(
15, 23
).
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 thì: "Rủi ro kiểm toán là rủi ro
do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến nhận xét không thích hợp
khi Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro
kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát
hiện"(
6, 78
).
- 6 -
muốn thích hợp đối với hợp đồng không thấp hơn 4% thì kế hoạch đó sẽ đợc chấp
nhận.
- 7 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mặc dù một kế hoạch kiểm toán nh trên có thể giúp kiểm toán viên tìm đợc
rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận, nó có thể không hiệu quả. Để có đợc một kế
hoạch hiệu quả hơn, kiểm toán viên thờng sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán theo
cách thứ hai để xác định rủi ro phát hiện và số lợng bằng chứng thích hợp phải thu
thập. Nhằm mục đích này, mô hình rủi ro kiểm toán đợc sử dụng theo công thức
sau:
Tiếp tục thí dụ trên, giả sử kiểm toán viên xây dựng tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn là 5%, kế hoạch kiểm toán có thể đợc thay đổi để thu thập bằng
chứng phù hợp với một mức rủi ro phát hiện là 12%, vì 0,5 / (0,8 x 0,5) bằng
0.125. Sử dụng hình thức này của mô hình rủi ro, yếu tố chính là rủi ro phát hiện
và nó xác định số lợng bằng chứng cần thiết. Số lợng bằng chứng thích hợp có
quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro phát hiện. Nhu cầu bằng chứng tăng lên khi rủi ro
phát hiện giảm xuống.
Cách thứ ba, thông dụng hơn, mà một số kiểm toán viên sử dụng mô hình
rủi ro kiểm toán là chỉ mối quan giữa các rủi ro khác nhau và mối quan hệ của
chúng với bằng chứng. Một sự hiểu biết về các mối quan hệ này là cần thiết để lập
kế hoạch thu thập bằng chứng thích hợp. Mỗi một yếu tố cấu thành mô hình rủi ro
kiểm toán đợc bàn đến một cách chi tiết trong phần dới đây.
Các yếu tố của mô hình rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán mong muốn (DAR - Desire Audit Risk)
Rủi ro kiểm toán mong muốn là rủi ro đợc xác định một cách chủ quan mà
Mức độ những ngời sử dụng tin vào các Báo cáo tài chính: Khi những
ngời bên ngoài đặt niềm tin vào các Báo cáo tài chính cao thì tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn phải giảm mới thích hợp. Khi ngời sử dụng bên ngoài đặt niềm tin vào
các Báo cáo tài chính thì mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu
có một sai sót không đợc phát hiện trên Báo cáo tài chính. Do vậy trong trờng hợp
này kiểm toán viên cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từ đó tăng số lợng
bằng chứng kiểm toán cần thu thập và tăng độ chính xác trong các kết luận đa ra
của mình. Một số dấu hiệu quan trọng để giúp kiểm toán viên nhận ra mức độ ng-
ời sử dụng bên ngoài tin vào các Báo cáo tài chính:
Quy mô của công ty khách hàng: Nói chung hoạt động của khách hàng
càng lớn, các Báo cáo tài chính càng đợc sử dụng rộng rãi. Quy mô của
một doanh nghiệp khách hàng đợc đo lờng bằng tổng số tài sản hoặc tổng
thu nhập sẽ có một ảnh hởng lớn đến rủi ro kiểm toán mong muốn.
- 9 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sự phân phối quyền sở hữu: Các Báo cáo tài chính của các công ty sở hữu
công cộng thờng đựoc nhiều ngời sử dụng tin tởng hơn các Báo cáo tài
chính của các công ty có quyền sở hữu hẹp hơn.
Bản chất và quy mô của công nợ: Khi các Báo cáo tài chính có một số lợng
lớn các công nợ thì chúng có khả năng đợc sử dụng rộng rãi hơn bởi các
chủ nợ.
Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi công bố
báo cáo kiểm toán: Trong những tình huống mà kiểm toán viên tin rằng khách
hàng có nguy cơ gặp khó khăn về tài chính và có thể phải chịu thiệt hại cao, khi đó
rủi ro kinh doanh của khách hàng tăng, rủi ro kiểm toán mong muốn sẽ giảm
xuống. Đối với kiểm toán viên, dự đoán khả năng khách hàng có thể gặp khó khăn
trong tài chính là một điều khá phức tạp, tuy nhiên có một số yếu tố giúp họ có thể
nhận biết đợc điều này:
viên phải có khả năng thiết lập một mức rủi ro có tính thăm dò và chủ quan cao.
Khi thực hiện kiểm toán, thông tin bổ sung về khách hàng sẽ đợc thu thập và mức
rủi ro kiểm toán mong muốn có thể đợc sửa đổi.
Các mức rủi ro kiểm toán khác nhau:
Có một số tình huống khiến kiểm toán viên khác nhau chọn mức rủi ro kiểm
toán khác nhau trong điều kiện tơng tự nh nhau. Đó là:
Khó khăn khi đánh giá rủi ro kiểm toán: Khi đánh giá rủi ro kiểm toán gặp khó
khăn thì việc kiểm toán viên chọn số lợng mẫu giống nhau cho những trờng
hợp tơng tự nhau là không hợp lý. Nguyên nhân là do khi đó kiểm toán viên sẽ
bị động trong việc thu thập các bằng chứng bổ sung.
Tránh các mức rủi ro khác nhau: Mức rủi ro mà kiểm toán viên lựa chọn phải
tính đến cân đối giữa chi phí và mức rủi ro kiểm toán mà kiểm toán viên sẵn
sàng chấp nhận.
Trình độ thành thạo khác nhau: Do năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp của
kiểm toán viên khác nhau là khác nhau nên thờng có nhiều khả năng đi đến
mức rủi ro kiểm toán là khác nhau.
Mối quan hệ giữa mức rủi ro kiểm toán mong muốn với bằng chứng kiểm
toán
Khi sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán, ta thấy mối quan hệ trực tiếp giữa rủi ro
kiểm toán mong muốn với rủi ro phát hiện, và mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa rủi ro
kiểm toán mong muốnvới bằng chứng kiểm toán.
Rủi ro tiềm tàng (IR - Inherent Risk)
- 11 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân các
đối tợng kiểm toán (cha tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán nào
kể cả kiểm soát nội bộ). Tức là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong
Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc
- 12 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị kiểm toán
không phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu. kiểm
toán viên không tạo ra và cũng không kiểm soát rủi ro kiểm soát. Họ chỉ có thể
đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đợc kiểm toán và từ đó đa ra mức
rủi ro kiểm soát dự kiến.
Theo Mục 14 - Nguyên tắc số 25 về Trọng yếu và rủi ro kiểm toán - Những
Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế, cho rằng: "Rủi ro kiểm soát là rủi ro
do xác định sai, có thể xảy ra với một số d tài khoản hoặc một nghiệp vụ và có
thể là sai sót nghiêm trọng. Những sai sót này xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết hợp
với các sai sót của các số d, các nghiệp vụ khác mà hệ thống kiểm soát nội bộ
đã không ngăn chặn hoặc không phát hiện kịp thời. Rủi ro kiểm soát sẽ luôn
luôn xuất hiện và khó tránh khỏi vì những hạn chế có tính bản chất của bất cứ
một hệ thống kiểm soát nội bộ nào"(
7,250
).
Theo Mục 05 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ lại nhận định rằng: "Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót
trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không
ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời."(
6, 77
).
Nh rủi ro tiềm tàng, mối quan hệ giữa rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện là
quan hệ tỷ lệ nghịch trong khi mối quan hệ giữa rủi ro kiểm soát và bằng chứng là
quan hệ tỷ lệ thuận. Thí dụ, nếu kiểm toán viên kết luận là hệ thống kiểm soát nội
bộ tồn tại và hoạt động có hiệu quả, rủi ro phát hiện có thể tăng lên, số lợng bằng
6, 77
).
Rủi ro phát hiện xác định bằng chứng mà kiểm toán viên có kế hoạch thu thập.
Khi rủi ro phát hiện thấp, kiểm toán viên sẽ không sẵn sàng chấp nhận nhiều rủi ro
của bằng chứng không phát hiện sai sót; do đó, cần thu thập một số lợng bằng
chứng đáng kể. Khi kiểm toán viên sẵn sàng chấp nhận thêm rủi ro, thì bằng
chứng cần sẽ ít hơn. Một phơng pháp tiếp cận đặc thù mà kiểm toán viên sử dụng
để vận dụng rủi ro phát hiện nhằm xác định số lợng bằng chứng kiểm toán phải
thu thập là chọn mẫu thống kê.
1.1.2.3- Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên
Do đặc thù của kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên có nhiều khác biệt
với kiểm toán cho khách hàng quen thuộc nên các thủ tục kiểm toán nhằm đánh
giá rủi ro kiểm toán thờng đợc thực hiện đa dạng và phức tạp hơn. Công việc này
thờng do chủ nhiệm kiểm toán - những ngời có nhiều kinh nghiệm trong quá trình
thực hiện cuộc kiểm toán. Mỗi cuộc kiểm toán có những đặc thù khác nhau tuy
- 14 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiªn nh×n chung tr×nh tù thùc hiÖn cuéc kiÓm to¸n B¸o c¸o tµi chÝnh n¨m ®Çu tiªn
thêng nh sau:
- 15 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sơ đồ số 01: Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán năm đầu tiên- 16 -
Thu thập những hiểu biết về hoạt động kinh
doanh, tổ chức quản lý, sản phẩm, nhà cung
cấp và phương pháp thanh toán lương cho nhân
viên.
Đánh giá sự tác động của các yếu tố kinh tế và
sự thay đổi trong môi trường luật pháp tới rủi ro
kiểm toán.
Xem xét các vấn đề trong hoạt động kế toán
của khách hàng (biểu mẫu các Báo cáo tài
chính, những thay đổi trong chuẩn mực, chính
sách kế toánđược áp dụng).
Xem xét kinh nghiệm của Công ty kiểm toán
trước, lưu ý đến những ảnh hưởng của các dịch
vụ phi kiểm toán tới hoạt động của khách
hàng.
- 17 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- 18 -
Tiếp theo trang 15
Đánh giá tính chất phức tạp của hệ thống máy tính. Xem
xét nhu cầu thuê chuyên gia máy tính cho kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ, cập nhật
các tài liệu về hai hệ thống quan trọng này
Khẳng định những hiểu biết của kiểm toán viên bằng việc
tiến hành các thủ tục kiểm tra từ đầu đến cuối
Đánh giá rủi ro tiềm tàng ở mức độ ảnh hưởng đến toàn bộ
Báo cáo tài chính và xác định những khu vực có rủi ro kiểm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quy trình đánh giá rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán khi chấp
nhận hợp đồng kiểm toán năm đầu tiên
Trớc khi ký hợp đồng với một khách hàng mới, công ty kiểm toán cần phải
điều tra khách hàng để khẳng định có nên chấp nhận Hợp đồng kiểm toán mới hay
không. Với khách hàng năm đầu tiên đã đợc kiểm toán bởi một công ty kiểm toán
khác trong năm tài chính trớc thì kiểm toán viên có thể liên hệ với kiểm toán viên
tiền nhiệm để có thêm thông tin về khách hàng. Với khách hàng lần đầu tiên thực
hiện hoạt động kiểm toán, kiểm toán viên có thể điều tra thông qua: các ngân
hàng, các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân có liên quan.
Trong quá trình điều tra sơ bộ về khách hàng, kiểm toán viên hoặc công ty
kiểm toán cần tìm hiểu các thông tin về: Tính chính trực của Ban Giám đốc, độ tin
cậy của các Báo cáo tài chính của đơn vị khách hàng, sự phù hợp của hệ thống bộ
máy tổ chức. Bên cạnh đó kiểm toán viên cũng cần tìm hiểu và đánh giá sơ bộ tình
hình tài chính của doanh nghiệp khách hàng.
Việc đánh giá rủi ro để chấp nhận Hợp đồng kiểm toán đòi hỏi kiểm toán
viên giàu kinh nghiệm và có trình độ nghiệp vụ cao, thông thờng là các chủ nhiệm
kiểm toán hay thành viên của Ban Giám đốc.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên cần dựa vào các yếu tố ảnh h-
ởng sau đây:
Bản chất kinh doanh của khách hàng: rủi ro tiềm tàng thờng bị tăng lên
bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà nó tạo nên những khó khăn cho
kiểm toán do tồn tại những khoản không chắc chắn hoặc khả năng tồn tại một
cách tiềm tàng các gian lận và sai sót trên Báo cáo tài chính.
Tính trung thực của Ban Giám đốc: Ban Giám đốc không thể xem là
hoàn toàn trung thực trong mọi trờng hợp. Khi Ban Giám đốc bị kiểm soát bởi một
hay một số cá nhân thiếu trung thực thì khả các Báo cáo tài chính bị báo cáo sai sẽ
tăng lên, do vậy rủi ro tiềm tàng sẽ đợc đánh giá ở mức cao.
Tính liêm chính của ban Giám đốc;
Kinh nghiệm, trình độ và những thay đổi của Ban Giám đốc trong giai đoạn
kiểm toán: Sự thiếu kinh nghiệm của Ban Giám đốc có thể ảnh hởng tới việc
lập Báo cáo tài chính của doanh nghiệp;
Sức ép không bình thờng đối với Ban Giám đốc: áp lực từ các cơ quan chức
năng, điều kiện và hoàn cảnh tác động khiến Ban Giám đốc phảI trình bày sai
các Báo cáo tài chính;
Công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
Các nhân tố ảnh hởng tới ngành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt
động"(
7,295
)
- 20 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo Mục 16 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ chỉ dẫn nh sau: Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phơng diện Báo
cáo tài chính:
Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng nh sự
thay đổi thành phần Ban quản lý trong niên độ kế toán;
Trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ kế toán và kiểm toán viên nội bộ;
áp lực bất thờng đối với Ban Giám đốc;
Đặc điểm hoạt động của đơn vị;
Các nhân tố ảnh hởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị"(
6, 81
)
Nh vậy về cơ bản không có sự khác nhau giữa cách thức thực hiện để đánh
giá rủi ro tiềm tàng trên phơng diện Báo cáo tài chính của thế giới và tại Việt
Nam. Kiểm toán viên cần đánh giá lần lợt các yếu tố trên và quyết định mức rủi ro
những điều chỉnh liên quan đến niên độ kế toán trớc; Báo cáo tài chính có
nhiều ớc tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế
toán;
Việc xác định số d và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế,
nh: Số d các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế phát sinh sau khi ghi
nhận ban đầu tài sản cố định tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá tài
sản cố định;
Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, nh: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu,
chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lợng lớn, thời gian thanh toán dài;
Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có ý
kiến của chuyên gia, nh: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp...;
Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thờng và phức tạp, đặc biệt là gần thời
điểm kết thúc niên độ kế toán;
Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thờng khác" (
6, 82
).
Quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm toán Báo cáo tài chính
năm đầu tiên
Đánh giá rủi ro kiểm soát: đợc thực hiện theo một trình tự nhất định và có
thể khái quát qua bốn bớc cơ bản sau:
B ớc 1 : Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết hệ
thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc:
Trong giai đoạn này kiểm toán viên tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ
của đơn vị đợc kiểm toán trên hai mặt chủ yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm
thiết kế về quy chế kiểm soát và bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có hiệu
lực của kiểm soát nội bộ.
Có nhiều phơng pháp tiếp cận để thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát
nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát, trong đó có hai cách phổ biến:
- Tiếp cận theo khoản mục;
- Tiếp cận theo chu trình nghiệp vụ.
B ớc 2 : Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho từng
khoản mục
Sau khi thu thập đợc một sự hiểu biết về cách thiết kế và sự vận hành của hệ
thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ đa ra đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm
soát cho từng mục tiêu kiểm soát chi tiết. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ đợc thiết
kế và vận hành hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát đợc đánh giá ở mức thấp, và ngợc lại.
Công việc này đợc làm riêng rẽ cho từng nghiệp vụ kinh tế chủ yếu trong từng chu
trình nghiệp vụ theo các bớc sau:
Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận dụng:
kiểm toán viên vận dụng các mục tiêu kiểm soát nội bộ cho từng loại khoản mục
để đánh giá rủi ro kiểm soát với từng loại khoản mục.
- 23 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhận diện quá trình kiểm soát đặc thù: kiểm toán viên không nhất thiết phải
xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ tập trung phân tích các quá trình kiểm
soát chủ yếu.
Nhận diện và đánh giá các nhợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ: Nhợc
điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ đợc hiểu là thiếu những quá trình kiểm soát
thích đáng hoặc có tồn tại nhng hoạt động không có hiệu quả làm tăng khả năng
rủi ro.
Đánh giá rủi ro kiểm soát: kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro kiểm soát
theo yếu tố định tính (cao, thấp, trung bình), hoặc theo yếu tố định lợng (tỷ lệ phần
trăm).
Mối quan hệ giữa việc đánh giá rủi ro kiểm soát và việc xác định các thử
nghiệm áp dụng;
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính việc đánh giá rủi ro kiểm soát có ảnh hởng
trực tiếp đến việc xác định các phép thử nghiệm áp dụng.
Trong Mục 18, 19, 20 - Nguyên tắc 29 - Những Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm
yếu"(
6, 89
).
Tuy nhiên đó chỉ là đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát. Việc đánh giá lại
rủi ro kiểm soát và thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản trên số d và các nghiệp vụ
sẽ chỉ thực hiện trên kết quả của việc thực hiện thu thập bằng chứng kiểm toán
bằng phơng pháp tuân thủ nhằm giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số d.
B ớc 3 : Thu thập bằng chứng kiểm toán bằng phơng pháp tuân thủ nhằm
hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ thấp hơn
Theo Mục 25 - Nguyên tắc 29 - Những Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán
quốc tế:
"Sau khi hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ và kế toán và đã đánh giá rủi ro
kiểm soát, kiểm toán viên có thể tìm kiếm thêm các bằng chứng về cơ cấu và
tính hiện hữu trong hoạt động để hỗ trợ cho sự đánh giá đánh giá ở mức thấp
hơn đối với các cơ sở dẫn liệu nhất định. Do vậy, kiểm toán viên có thể thay đổi
nội dung và thời hạn của phơng pháp kiểm toán cơ bản hay giảm bớt phạm vi
của các biện pháp đó. Trong các trờng hợp nh vậy, kiểm toán viên cần phải
xem xét liệu các bằng chứng cần có để hỗ trợ cho sự đánh giá này đã đủ hay
cha và liệu việc tiến hành các biện pháp kiểm tra về tính tuân thủ để thu thập
bằng chứng có cần không (có nghĩa là các công việc kiểm toán dành cho phơng
pháp tuân thủ ít hơn các công việc kiểm toán có thể giảm bớt đợc do hạn chế
bớt phạm vi của phơng pháp cơ bản)"(
7,300
).
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ
quy định kiểm toán viên phải thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để thu thập
bằng chứng về sự đầy đủ, về tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và kế
toán trên các phơng diện:
Thiết kế: Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của đơn vị đợc thiết kế sao
cho có khả năng ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu.