KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU VỀ HIỆU QUẢHOẠT ĐỘNG CỦA BAN VÌ SỰ TIẾN BỘ PHỤ NỮ NGÀNH GIÁO DỤC HUYỆN TRI TÔN potx - Pdf 20


KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU VỀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA BAN VÌ SỰ TIẾN BỘ PHỤ NỮ
NGÀNH GIÁO DỤC HUYỆN TRI TÔN I/ ĐẶT VẤN ĐE:
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam giữ vai trò và vị
trí quan trọng, đã phát huy truyền thống vẻ vang thể hiện tiềm năng to lớn: Phụ
nữ vừa là người lao động, là người công dân xây dựng bảo vệ đất nước, vừa là
người mẹ có ảnh hưởng sâu xa đến sự phát triển của thế hệ trẻ tương lai. Ở
ngành Giáo dục, các nữ cán bộ giáo viên chiếm đa số trong lực lượng của
ngành và đã đóng góp nhiều công lao to lớn cho sự nghiệp giáo dục.
Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận
động nữ trong tình hình mới, Nghị quyết đã khẳng định “Phụ nữ Việt Nam có
truyền thống vẻ vang, có những tiềm năng to lớn là một động lực quan trọng
của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế xã hội, phụ nữ vừa là người lao
động, người công dân, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người”.
Tiếp sau là Chỉ thị 37/CT.TW của Ban Bí thư khoá VII ngày 16/5/1994, đây là
văn bản chỉ đạo quan trọng cụ thể hoá Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị về công

tác nữ đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về công tác nữ công như
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng
đã nhấn mạnh “Thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi
dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao trình độ học vấn, có cơ chế, chính sách
để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở
các cấp các ngành”.
Xuất phát từ quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước.
Bản thân tôi là một cán bộ quản lý giáo dục, là uỷ viên thường vụ Hội liên hiệp
Phụ nữ huyện, là thành viên của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ huyện và cũng là
Trưởng Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ ngành giáo dục huyện nhà. Trước thực trạng

mỗi năm trên 150 giáo viên, năm 2004, 2005 số điều động có thấp hơn. Từ
những đặc thù trên của huyện, một phần nào đó cũng đã ảnh hưởng không nhỏ
đến hiệu quả hoạt động của ngành.

Nhận rõ trách nhiệm là một nữ cán bộ quản lý và là Trưởng ban Vì sự
tiến bộ phụ nữ trong ngành giáo dục huyện, tôi rất nhiều trăn trở phải tổ chức
thực hiện như thế nào để nâng hiệu quả hoạt động của Ban một cách thiết thực
trên cơ sở đó để thúc đẩy hiệu quả góp phần xây dựng đội ngũ nữ CB-GV
ngành vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ và tăng dần về số lượng nữ là cán
bộ quản lý cơ sở trường học ở các ngành học, cấp học.
Để có hướng đi đúng đắn, thích hợp, tôi tiến hành phân tích nguyên
nhân tồn tại yếu kém để từ đó đề ra biện pháp khắc phục nhằm nâng dần hiệu
quả công tác của nữ CB-GV ngành giáo dục huyện nhà mười năm phát triển rõ
nét.
Những nguyên nhân tồn tại chủ yếu đối với nữ CB-GV đó là:
- Trình độ chuyên môn được đào tạo đa dạng nhất là đối với ngành học
Mầm non và Tiểu học, một bộ phận nhỏ chị em rất bề bộn vừa công tác, vừa
làm mẹ, làm vợ, nên việc tham gia học tập nâng cao trình độ là một vấn đề rất
khó khăn.
- Với đặc điểm giới nữ, ngoài lực lượng cốt cán, đa số chị em thụ động,
an phận, ít phấn đấu để trở thành nhân tố tiêu biểu, từ đó việc giới thiệu bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng làm công tác quản lý, giới thiệu phát
triển vào hàng ngũ của Đảng gặp nhiều trở ngại.

- Một số giáo viên ở địa phương khác được Sở Giáo dục và Đào tạo điều
động chi viện cho huyện, chưa thật sự tâm huyết với nghề nghiệp, vẫn còn tư
tưởng ngại khó, chỉ trông mong đến hết thời hạn để xin chuyển về quê quán.
- Một bộ phận giáo viên sức khoẻ kém, còn nhiều vướng bận trong việc
gia đình, năng lực hạn chế, an phận bằng lòng với thực tại, thiếu ý chí phấn đấu
vươn lên để tự khẳng định mình.

- Duy trì họp lệ định kỳ mỗi quý 01 lần vào dịp 20/10 là tổng kết và 8/3
là sơ kết. Có đề xuất khen thưởng động viên kịp thời đối với tập thể và cá nhân
đạt thành tích tiêu biểu, thực hiện tốt nội dung chương trình mục tiêu của Ban
Vì sự tiến bộ phụ nữ ngành giáo dục đã đề ra.

- Các thành viên trong Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ phải thật sự gương
mẫu, đi đầu trong các phong trào do ngành và địa phương phát động. Không
ngừng nâng cao về trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ cũng như tu dưỡng
về đạo đức tác phong.
2/ Kết quả đạt được:
Qua 5 năm tổ chức thực hiện, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ ngành đã tổng
kết nội dung 4 mục tiêu đạt được như sau:
* Mục tiêu 1: Thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực
lao động việc làm:
- Ngành Giáo dục là ngành có số lượng nữ chiếm 53,97% trong tổng số
CB-GV-NV trong ngành: 1.308/706 người.
- Ban VSTNPN ngành Giáo dục luôn quan tâm đội ngũ CB-GV-NV nữ,
thường xuyên phối hợp với lãnh đạo Phòng Giáo dục và Công đoàn Giáo dục
để tạo điều kiện cho chị em được vay vốn tín chấp làm thêm kinh tế và có tích
luỹ để phát triển cuộc sống. Trong 5 năm qua đã có vay với tổng số tiền là
1.520.000.000 (Một tỷ năm trăm hai mươi triệu đồng). Đa số chị em đã sử
dụng vốn đúng mục đích và thực hiện nghĩa vụ đúng theo hợp đồng đã ký với
ngân hàng. Tuy nhiên vẫn có một chị do lạm dụng chức quyền tự ý mượn tên
giáo viên khác để vay cho mình dẫn đến mất cân đối trong việc thanh toán chi

trả ngân hàng đưa đến hậu quả mất lòng tin trong đơn vị và ngành đã buộc thôi
việc (chị Lý Ngọc Loan – Tiểu học A Núi Tô).
- Có 45 chị vay vốn phụ nữ nghèo với tổng số tiền là: 45.000.000 (Bốn
mươi lăm triệu đồng, lãi suất 1%/năm).
- Có 152 chị được vay vốn KBE với tổng số tiền là 180.000.000 (Một


* Mục tiêu 3: Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh
vực chăm sóc sức khoẻ.

- Tăng cường việc phổ biến tuyên truyền kiến thức dinh dưỡng cho các
bậc cha mẹ có con em trong độ tuổi đến trường Mầm non, Mẫu giáo và cấp
Tiểu học. 100% trường Mầm non, Mẫu giáo đều có xây dựng góc tuyên truyền
về kiến thức dinh dưỡng.
- Trong các đơn vị Mầm non, Tiểu học có tổ chức ăn cho cháu (Công
lập và tư thục) đều coi trong việc nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm, đặc biệt quan tâm mô hình thực phẩm tươi, xanh, sạch.
- Hàng tháng các đơn vị Mầm non đều có tổ chức cân đo trẻ theo dõi sức
khoẻ trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng và và các lớp Tiểu học bán trú (B Tri Tôn).
- 100% nữ CB-GV-NV từ ngành Mầm non, Tiểu học đến THCS và
THPT đều luôn thực hiện tốt chương trình dân số- kế hoạch hoá gia đình.
Thường xuyên khám sức khoẻ định kỳ nhất là đối với các chị lớn tuổi (thời kỳ
tiền mãn kinh); dự các lớp phổ biến kiến thức chăm sóc sức khoẻ phụ nữ và trẻ
em có 350 lượt chị tham dự.
- 100% CB-GV-NV nữ ngành Giáo dục đã đóng góp xây dựng quỹ hỗ
trợ xây dựng nhà công vụ cho giáo viên vùng núi, vùng sâu, vùng xa trong 3
năm qua với tổng số tiền là 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm

nghìn đồng). Bên cạnh đó Công đoàn ngành Giáo dục tỉnh, Hội Khuyến học
tỉnh cũng đã xây dựng nhà công vụ cho giáo viên cụm Ba Chúc 05 căn, Tân
Tuyến 02 căn, Lương An Trà 02 căn, Vĩnh Gia 02 căn để đội ngũ giáo viên ở
xa đến công tác được an tâm làm tốt nhiệm vụ.
* Mục tiêu 4: Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng số phụ nữ được
giới thiệu bầu tham gia lãnh đạo các cấp.
Luôn thực hiện tốt quyền bình đẳng của nữ CB-GV trong lĩnh vực tham

Tính đến
2005-2006,
còn 26 đơn vị
trường học
chưa có nữ
CBQL (đính

2005-2006 109 45 41,28%
kèm phụ lục)

Trong quá trình vận dụng các giải pháp trên, bản thân tôi đã rút ra được
những nguyên nhân thành công và tồn tại sau:
a/ Nguyên nhân thành công:
- Tranh thủ để luôn được sự lãnh, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và thủ
trưởng đơn vị để hoạt động của Ban có điều kiện phát triển mỗi năm rõ nét.
Năm sau hiệu quả cao hơn năm trước.
- Duy trì chế độ hội họp thường kỳ, khen thưởng kịp thời nhằm động
viên khích lệ tinh thần phấn đấu của chị em đạt được thành tích tiêu biểu trong
công tác.
- Tập thể thành viên trong Ban luôn gương mẫu trong công tác, phải
luôn: Vì sự tiến bộ và quyền lợi chị em phụ nữ luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi
để đội ngũ CB-GV-CNV cùng tiến bộ.
b/ Về mặt hạn chế:
- Các thành viên trong Ban đều là cán bộ quản lý nên việc phối hợp đến
cơ sở có đông lực lượng nữ để kiểm tra, giám sát hoạt động trong lĩnh vực công
tác có liên quan đến phụ nữ thiếu thường xuyên.

- Chưa tổ chức được việc giao lưu học tập kinh nghiệm cho nữ cán bộ
quản lý và giáo viên giỏi tiêu biểu trong thời gian qua.
- Có một nữ CBQL lợi dụng chức quyền để vay vốn ngân hàng và bội

tiểu học 17 trường, THCS có 9 trường).
- Các cấp quản lý giáo dục phải làm tốt công tác quy hoạch kế hoạch,
nhất là công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, kế hoạch bồi dưỡng, bố trí sử
dụng, tạo ra nguồn cán bộ nữ dồi dào và ngày càng được bổ sung. Trong bố trí
sử dụng, điều động và luân chuyển, cần chú ý những đặc điểm về giới của nữ
để có chính sách đúng đắn, ưu tiên cần thiết hợp lý, khắc phục mọi biểu hiện tư
tưởng hẹp hòi, khắt khe trong việc đánh giá và đề bạt cán bộ quản lý nữ.

- Trong bồi dưỡng và đào tạo, chú trọng đội ngũ cán bộ giáo viên đang
công tác ở vùng sâu vùng xa, là người dân tộc thiểu số. Luôn coi trọng chính
sách tạo điều kiện cho nữ cán bộ giáo viên làm việc và khuyến khích tài năng
nữ phát triển. Đẩy mạnh công tác phát triển đảng trong nữ CB-GV-CNV (vì
hiện nay tỉ lệ Đảng viên nữ rất thấp so với nam CB-GV-CNV, chỉ mới đạt
38,25%).

III/ KẾT LUẬN:
Phụ nữ Việt Nam vốn có truyền thống lịch sử vẻ vang và có tiềm năng
to lớn là động lực quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Ngay từ thuở sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “ Non sông
gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức thêu dệt mà thêm tốt
đẹp rực rỡ”. Y thức được điều này, đội ngũ nhà mô phạm nữ của ngành giáo
dục sẽ cùng nhau phấn đấu nhiều hơn nữa để đạt 5 chuẩn mực người phụ nữ
ngành giáo dục đó là: “Yêu nước, có trình độ chuyên môn vững vàng, năng
động, sáng tạo và hoàn thành tốt công việc được giao, có sức khoẻ, có lối sống
văn hoá và tấm lòng nhân hậu, vị tha, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng
đồng”.
Hoà cùng dòng chảy của xã hội tiến bộ văn minh, giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Có nhiều cán bộ quản lý nữ giỏi, nhiều cô giáo giỏi sẽ góp phần đào
tạo thế hệ đàn em có tài có đức cho mai sau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status