THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU CỦA ĐẢNG VỀ XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
TỪ 1996 ĐẾN 2005
2.1. Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
2.1.1. Những thành tựu đạt được
Trong 10 năm (1996-2005), dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc xây dựng và phát
triển thành phần kinh tế nhà nước đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Một là, chuyển đổi thành công cơ chế quản lý kinh tế, đưa Luật Doanh
nghiệp vào thực tiễn, đã phát huy được hiệu quả, tạo nên khung hành lang pháp lý
thông thoáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước tổ chức sản xuất kinh
doanh có hiệu quả.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo theo những chủ trương chính sách cụ thể, phù hợp với từng thời kỳ.
Sự quản lý, lãnh đạo chặt chẽ của Nhà nước với cơ chế quản lý thông thoáng. Cơ
chế cũ đã trở nên lỗi thời, không những không phát huy được tiềm năng của nền
kinh tế, thúc đẩy sản xuất, mà còn kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Vì vậy, cơ chế quản lý mới đã thổi một "luồng gió" mạnh, thúc đẩy các thành phần
kinh tế nói chung, thành phần kinh tế nhà nước nói riêng phát triển nhanh chóng và
mạnh mẽ. Đặc biệt, đã chuyển đổi từ cơ chế nhiều cửa, nhiều dấu sang cơ chế một
cửa, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc nắm bắt cơ hội đầu tư,
kinh doanh sản xuất.
Đánh giá về thành tựu của việc chuyển đổi thành công cơ chế quản lý kinh
tế, Đảng ta nhận định: Đất nước đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục giữ ở mức cao và ổn định. Các
thành phần kinh tế được tạo điều kiện để phát triển, làm ăn có hiệu quả. Đạt được
những thành tựu đó là nhờ đường lối đúng đắn của Đảng, sự quản lý thống nhất
theo pháp luật của Nhà nước, sự điều hành năng động của Chính phủ. Đó còn là do
tác động tích cực của những cơ chế, chính sách đã ban hành. Trong những năm tới,
cơ chế mới này sẽ tiếp tục phát huy tác dụng, đồng thời không ngừng được điều
chỉnh để phù hợp với sự phát triển năng động của nền kinh tế, thực sự là khung
hành lang pháp lý trong sạch lành mạnh, góp phần thúc đẩy thành phần kinh tế nhà
của tốc độ tăng trưởng kinh tế. Do đó, tốc độ tăng trưởng có giảm trong những năm
từ 1997 - 2001, nhưng vẫn giữ ở mức cao so với các nước trong khu vực và trên
thế giới.
Ba là, thành phần kinh tế nhà nước đã đóng góp lớn vào GDP và ngân sách
quốc gia.
Thành phần kinh tế nhà nước đã đóng góp 65% tổng số thu của ngân sách
nhà nước và giữ vai trò quan trọng trong đẩy lùi lạm phát, ổn định tài chính, tiền tệ,
vật ngang giá trong những năm trước Đại hội lần thứ VIII của Đảng. Theo ước
tính, tổng giá trị vốn và tài sản của Nhà nước trong tất cả các doanh nghiệp nhà
nước là 72.200 tỷ đồng. Năm 1996 đạt lợi nhuận khoảng 14.000 tỷ đồng. Mỗi đồng
vốn tạo ra 4 đồng thu và 0,2 đồng lợi nhuận. Như vậy, hiệu quả hoạt động của kinh
tế nhà nước có thể ghi nhận được. Năm 1997 kinh tế nhà nước chiếm tới 85% tài
sản cố định trong công nghiệp của cả nước, trong đó 100% mỏ khoáng sản lớn;
83% diện tích cây công nghiệp; 93% lao động được đào tạo. Mặc dù so với trước
đó tỷ trọng GDP của các doanh nghiệp nhà nước có giảm vì quá trình sắp xếp và
tinh gọn, nhưng lại đóng góp từ 30 - 35% cho ngân sách nhà nước, trong khi khu
vực ngoài quốc doanh chiếm tới 56% GDP nhưng chỉ đóng góp 15% cho ngân
sách nhà nước. Năm 2005 ước tính đóng góp 39% GDP, chiếm 50% tổng ngân
sách nhà nước.
Các doanh nghiệp nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là
bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Liên tục trong những năm
gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải
phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát triển nội lực vào phát triển kinh tế
- xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch
xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội
như: tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, mở rộng các công trình công cộng,phát triển
giao thông...
Theo báo cáo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê thì trong 5 năm trở lại
đây, từ 2001 - 2005, khu vực doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ số doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh có lãi cao hơn và số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bị lỗ cũng
phát triển đầu tư hoặc cùng đầu tư vào những lĩnh vực, những ngành nghề mà
trước đây các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả thua lỗ, những ngành
nghề ít sinh lời.
Năm là, thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đạt kết quả tốt.
Cổ phần hoá là một chủ trương đúng đắn của Đảng, một giải pháp quan
trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, khi
áp dụng vào thực tiễn, đã phát huy tác dụng to lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cho
nhiều doanh nghiệp. Tính đến tháng 12/2004 cả nước đã cổ phần hoá được 2242
doanh nghiệp nhà nước, riêng năm 2004 cổ phần hoá được 753 doanh nghiệp nhà
nước. Có nhiều doanh nghiệp nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hoá đã đạt được
nhưng kết quả lớn, hiệu quả kinh tế được nâng lên rõ rệt, quyền chủ động trong tự
chủ về vốn và sản xuất kinh doanh được phát huy,đời sống của người lao động
được quan tâm, cải thiện đáng kể.
Qua điều tra cổ phần hoá ở 4 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và
gốm xây dựng cho thấy:
Ở Công ty gạch ốp lát Thăng Long - Viglacera, doanh nghiệp chuyên sản
xuất và kinh doanh các sản phẩm gạch ốp lát ceramic và granite cao cấp mang
thương hiệu Viglacera. Các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty luôn
phát triển ổn định. Với công suất thiết kế 3 triệu m
2
/năm, năm 2001 sản lượng đạt
3,5 triệu m
2
, năm 2002 đạt 4,2 triệu m
2
, vượt 40% công suất thiết kế. 10 tháng đầu
năm 2003 đạt 171 tỷ đồng. Giá trị năm 2002 đạt 1,1 triệu USD. Thu nhập bình
quân 1,7 triệu đồng cho một người trong một tháng.
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá, Đảng uỷ và Ban lãnh đạo công ty đã tiến
hành xây dựng kế hoạch chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần,
Ngày 9 tháng 9 năm 2003, công ty đã hoàn thành thủ tục bán cổ phần và thu đủ số
tiền bán cổ phần được 2.835.030.000 đồng theo đúng quy định. Bộ Xây dựng có
Quyết định ngày 9 tháng 9 năm 2003 chuyển nhà máy gốm xây dựng Đông Anh
thành công ty cổ phần. Sau khi thực hiện cổ phần hoá, lợi nhuận và mức thu nhập
bình quân của người lao động tăng lên.
Như vậy, quá trình cổ phần hoá tại 4 đơn vị nói trên đã diễn ra thuận lợi, bảo
đảm được yêu cầu và tiến độ đề ra. Việc cổ phần hoá không những nâng cao hiệu
quả sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp, cải thiện đời sống của người lao
động, mà còn đem lại lợi ích cho Nhà nước; động viên được trí tuệ tập thể đóng
góp vào quá trình xây dựng và phát triển doanh nghiệp; kích thích người lao động
yên tâm làm việc, cống hiến khả năng của mình cho công việc chung của doanh
nghiệp; thu hút nguồn nhân lực có tay nghề cao vào làm việc, hạn chế đáng kể tình
trạng "chảy máu chất xám" sang các thành phần kinh tế khác.
Những thành tựu đạt được trong 10 năm (1996 - 2005) về xây dựng và phát
triển thành phần kinh tế nhà nước do nhiều nguyên nhân mang lại, song chủ yếu là:
Một là, thành tựu của quá trình đổi mới từ 1986 - 1996 đã tạo tiền đề vững
chắc cho các thành phần kinh tế nói chung, thành phần kinh tế nhà nước nói riêng
phát triển.
Qúa trình đổi mới đã tạo điều kiện cho thành phần kinh tế nhà nước cải tiến
kỹ thuật sản xuất, đổi mới dây chuyền công nghệ. Từ đó hiệu quả hoạt động không
ngừng được nâng lên, vị trí chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước ngày càng
được củng cố và tăng cường. Công cuộc đổi mới đất nước được Đảng ta đề ra từ
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với mục tiêu phát
triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Dưới ánh sáng của Đảng, nền kinh tế đất nước không ngừng được phát triển, đó là
tiền đề vững chắc cho các thành phần kinh tế nói chung, thành phần kinh tế nhà
nước nói riêng lớn mạnh, có điều kiện để đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất,
làm ra những sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng được thị hiếu của
người tiêu dùng. Xây dựng một nền kinh tế mở trên nguyên tắc độc lập tự chủ đã
sinh, tạo tiền đề về chính trị, kinh tế, con người cho sự phát triển của các doanh
nghiệp nhà nước. Chủ trương, chính sách của Đảng được Nhà nước cụ thể hoá vào
thực tiễn thông qua các văn bản, chỉ thị, quyết định... tổ chức điều hành, quản lý
nền kinh tế nói chung và quá trình hoạt động của thành phần kinh tế nhà nước nói
riêng. Tuy nhiên, Nhà nước quản lý các quá trình kinh tế không phải do ý muốn
chủ quan, mà theo yêu cầu của các quy luật kinh tế, quy luật thị trường, trên cơ sở
đó khắc phục những yếu kém trong hoạt động của thành phần kinh tế nhà nước.
Đặc biệt Nhà nước tạo điều kiện về vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, nhất là
các doanh nghiệp hoạt động công ích, làm cho kinh tế nhà nước thật sự là công cụ
để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô có hiệu quả.
Ba là, quá trình xây dựng và phát triển thành phần kinh tế nhà nước cũng
như thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tiếp thu
kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Các nước trên thế giới tuy thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh, chi
phối đến nhiều lĩnh vực then chốt, song Chính phủ các nước đó vẫn sử dụng thành
phần kinh tế nhà nước như một công cụ hữu hiệu và đắc lực trong việc điều tiết vĩ
mô nền kinh tế, thực hiện các vấn đề dân sinh xã hội. Thực tiễn cho thấy, doanh
nghiệp nhà nước tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, mặc dù quy mô và
vị trí của chúng có khác nhau ở từng nước, song doanh nghiệp nhà nước vẫn là bộ
phận chủ yếu của nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp. Ở Trung Quốc và
các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, doanh nghiệp nhà nước cũng đã có những
đóng góp hết sức quan trọng trong kinh tế xã hội. Hoạt động của các doanh nghiệp
nhà nước, chủ thể kinh tế chủ yếu trong các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã góp
phần giải quyết các vấn đề chính như:
- Xây dựng và củng cố được nền kinh tế tự chủ của các quốc gia xã hội chủ
nghĩa.
- Giải quyết được một số vấn đề liên quan đến sự phát triển đồng đều giữa
các khu vực kinh tế và xã hội.
- Giải quyết nhiều vấn đề xã hội quan trọng.
- Tạo ra việc làm cho quần chúng nhân dân.
cầu trọng yếu. Đặc biệt là tuyến đường cao tốc khu vực Tokyo - Osaka, ba cây cầu