PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM - Pdf 20

PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
1 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 02
PHẦN NỘI DUNG 03
I. Những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta 03
1.Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá 03
2.Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về Công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở
Việt Nam hiện nay 04
3.Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá 06
3.1. Mục tiêu tổng quát 06
3.2. Mục tiêu cụ thể 07
II. Các giai đoạn phát triển công nghiệp của Việt Nam……………………… 07
1.Giai đoạn trước năm 1945……………………………………………………….07
2.Giai đoạn từ 1945 đến năm 1985……………………………………………… 07
3.Giai đoạn từ 1986 – 2007 (Gia nhập WTO) 08
4.Giai đoạn hậu WTO (đến 2010)……………………………………………… 10
III.Sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp 12
1.Cơ cấu công nghiệp theo vùng………………………………………………….12
2.Cơ cấu công nghiệp theo ngành 13
3.Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế 13
IV.Đề xuất các giải pháp góp phần đảm bảo cho sự phát triển CNH-HĐH nền
vững 14
1. Giải pháp quản lý kinh tế và các nguồn lực……………………………………15
2. Giải pháp về công tác quản lý, xây dựng giai cấp công nhân…………………16
3. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng và hiệu lực quản lý của nhà
nước, phát huy vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân 16
Danh mục tài liệu tham khảo 18


PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
3

PHẦN NỘI DUNG
I.Những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
1.Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Từ cuối thế kỷ XVIII đến nay trong lịch sử đã diễn ra các loại công nghiệp
hóa khác nhau:
+ Công nghiệp hóa TBCN
+ Công nghiệp hóa XHCN
*Xét về mặt lực lượng sản xuất, khoa học - công nghệ là giống nhau
*Khác nhau về mục đích, phương thức tiến hành và sự chi phối của quan hệ
sản xuất thống trị.
Công nghiệp hóa diễn ra ở các nước khác nhau, thời điểm lịch sử khác nhau,
điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Do vậy, nội dung khái niệm cũng có sự khác
nhau.Nhưng theo nghĩa chung nhất, khái quát nhất thì: công nghiệp hóa là quá trình
biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp.
Quan niệm của Đảng ta: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển
đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh
tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa
trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng xuất
lao động xã hội cao. Quan niệm cho thấy, đây là một quá trình kết hợp chặt chẽ
công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong quá trình phát triển:
+ Nó không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện
chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, lĩnh vực và tòan bộ nền kinh tế quốc dân
theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
+ Là một quá trình không chỉ tuần tự từ cơ giới hóa sang tự động hóa, tin học
hóa mà còn kết hợp giữa thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi
nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định.

PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
5

chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, từ đó phấn đấu đến năm 2020 đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo quy luật chung nhất về sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì bất cứ
sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu sự phát triển của
lực lượng sản xuất. Trong suốt cả quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và
Nhà nước ta rất chú trọng ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, nhiều ngành kinh tế
được đầu tư, từng bước hiện đại. Mặt khác, chúng ta cũng không coi nhẹ việc xây
dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp. Thực tế những năm vừa qua,
trong nông nghiệp, nông thôn, sự thích ứng giữa trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất với quan hệ sản xuất mới đã tạo ra những bước phát triển quan trọng trong
khu vực kinh tế này.
Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn ngoại lực và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững. Trong bối cảnh
khu vực hoá và toàn cầu hoá kinh tế, Đảng ta chỉ rõ phải phát huy cao độ nội lực,
coi nội lực là quyết định, nhưng không được coi nhẹ nguồn ngoại lực, tranh thủ
nguồn vốn, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm quản lý…được xem là nguồn bổ
sung quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước trong khu vực và trên
thế giới, thuận lợi trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá trong nước
(những mặt hàng có lợi thế). Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển
nhanh, có hiệu quả và bền vững, điều này cần phải được quán triệt trong tất cả các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, cả trước mắt cũng như lâu dài.
Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo
vệ và cải thiện môi trường. Khái niệm phát triển ngày nay được nhìn nhận một cách
PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
7

3.2. Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2010, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp với tỷ trọng
trong GDP của nông nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%, dịch vụ
chiếm 42-43%, tỷ trọng lao động trong tổng lao động xã hội, lao động công nghiệp
và dịch vụ là 50%, nông nghiệp là 50%.

II.Các giai đoạn phát triển của công nghiệp Việt Nam
Quá trình phát triển công nghiệp của nước ta trong những thập niên qua đã trải
qua 4 giai đoạn. Việc phân chia các giai đoạn dựa theo các biến cố lịch sử có tác
động nhiều đến phương hướng phát triển và phân bố cũng như cơ cấu ngành công
nghiệp của nước ta.

1.Giai đoạn trước năm 1945
Trong giai đoạn này, công nghiệp Việt Nam hầu như chủ yếu là các làng nghề
thủ công truyền thống, thị trường tiêu thụ rất nhỏ hẹp. Dưới chế độ thực dân Pháp
xâm lược, cơ cấu công nghiệp nước ta đã nhỏ bé lại càng phụ thuộc nặng nề vào
công nghiệp chính quốc. Máy móc thiết bị nhập khẩu chủ yếu phục vụ cho việc
khai thác tài nguyên và hầu như không có công nghệ chế biến các loại tài nguyên
này. Một số mỏ hình thành nhưng không trở thành khu công nghiệp vì trình độ
trang bị kỹ thuật lạc hậu, mức độ cơ giới hoá thấp.

2.Giai đoạn từ 1946 đến 1985
Mặc dù còn non yếu về tiềm lực, thiếu động lực phát triển, cơ cấu vẫn còn
được xây dựng dựa trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung,… nhưng với sự giúp đỡ của
các nước XHCN, công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này đã có những chuyển

công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu tiên đã được ĐH IV thông qua.
Thành công trong kế hoạch 5 năm 1986-1990 là đã chuyển đổi cơ bản cơ chế quản
lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh
tế - xã hội và giải phóng sức sản xuất.
PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
9

- Trong 5 năm (1991-1995), nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng tương
đối cao liên tục và tương đối toàn diện, thực hiện vượt mức hầu hết các chỉ tiêu chủ
yếu của kế hoạch 5 năm 1991-1995. GDP bình quân hàng năm trong thời kỳ 1991-
1995 tăng 8,2%, vượt mức kế hoạch đề ra.
- Thời kỳ 5 năm (1996-2000), được xác định là bước rất quan trọng của thời
kỳ phát triển mới, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.
- Thời kỳ 5 năm 2001-2005, kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh theo hướng
tích cực, năm sau cao hơn năm trước. Tổng sản phẩm trong nước 5 năm 2001-2005
tăng bình quân 7,5%, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra.
Từ sau khi đổi mới vào năm 1986, trong đó thực hiện chính sách đổi mới về
công nghiệp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thì nền công
nghiệp Việt Nam đã có những sự chuyển biến khá rõ rệt. Đất nước ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ
phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngoài ra, trong giai đoạn này tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh
và liên tục. Năm 1988 là 21,6%, năm 2005 tăng lên 41%. Riêng trong kế hoạch 5
năm từ năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng
15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm. Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ và đến
nay thì mỗi năm Việt Nam đã khai thác được khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu.
Ngành công nghiệp chế tác chiếm 80% giá trị sản lượng công nghiệp. Công nghiệp
xây dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại.
Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng: Máy vi tính, sản phẩm
điện tử và linh kiện; hàng dệt may, da giày; sản phẩm của công nghiêp. thực phẩm

theo hướng phát huy tối đa năng lực đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là
các đối tác chiến lược,các công ty, tập đoàn đa quốc gia. Phát triển công nghiệp hỗ
trợ theo hướng tập trung theo từng nhóm ngành công nghiệp để phát huy tối đa hiệu
quả cạnh tranh.
Theo đó, Việt Nam đã tăng cường xây dựng các khu công nghiệp, chủ yếu là
cho các ngành công nghiệp hỗ trợ. Tính đến đầu tháng 12/2010, cả nước có 21
PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
11

KCN được thành lập mới tổng vốn đầu tư đăng ký của 21 dự án phát triển kết cấu
hạ tầng KCN đạt gần 7.000 tỷ đồng. Hiện tại, cả nước đã có 255 KCN được thành
lập với tổng diện tích đất tự nhiên 69.253 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có
thể cho thuê đạt trên 45.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên.
Trong đó, 171 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 43.580 ha
và 84 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản
với tổng diện tích đất tự nhiên 25.673 ha.
Nhờ đó, ngành công nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu nỗi bật. Số liệu
thống kê, Tính chung năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 794,2 nghìn
tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2009, cho thấy sự phục hồi khá tốt của sản xuất và
kinh doanh sản phẩm công nghiệp trong năm qua.
Sự tăng tốc trở lại của công nghiệp trong năm nay có sự đóng góp lớn của
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Giá trị sản xuất ngành này cả năm ước đạt
710,9 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 89,5% toàn ngành công nghiệp, tăng 14,9% so
với năm 2009 (năm trước chỉ tăng 7,3%). Trong năm 2010, nhiều sản phẩm chủ
yếu của ngành công nghiệp có tốc độ tăng so với năm 2009 cao hơn mức tăng
chung của toàn ngành như khí hoá lỏng, sơn hoá học, sữa bột, bia, giày thể thao,
kính thuỷ tinh, tủ lạnh, tủ đá, khí đốt nhiên liệu dạng khí, điện sản xuất, xe máy, xi
măng, quần áo mặc cho người lớn, Tính chung 12 tháng năm 2009, GDP công
nghiệp và xây dựng tăng 5,4%, riêng công nghiệp tăng 3,8%; giá trị sản xuất công
nghiệp toàn ngành ước đạt 696,577 tỷ đồng, tăng 7,6% so với thực hiện năm 2008;

kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc
Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ và
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng
động lực cho tăng trưởng kinh tế cả nước.
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây dựng
các khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các vùng sản xuất
hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng vùng. Điều này
PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
13

tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo nên xu hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá, hướng về
xuất khẩu.

2.Cơ cấu công nghiệp theo ngành.
Nước ta có 3 nhóm với 29 ngành công nghiệp. Đó là : nhóm công nghiệp khai
thác (4 ngành), nhóm công nghiệp chế biến (23 ngành) và nhóm sản xuất, phân
phối điện, khí đốt, nước (2 ngành). Cơ cấu ngành của công nghiệp nước ta có sự
chuyển dịch rõ rệt nhằm thích nghi với tình hình mới để có thể hội nhập vào thị
trường khu vực và thế giới.
Trong cơ cấu ngành công nghiệp hiện nay đang nổi lên một số ngành trọng
điểm, đó là các ngành có thế mạnh lâu dài, mang lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội
và có tác động mạnh mẽ đến việc phát triển các ngành kinh tế khác như : công
nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến lương thực – thực phẩm, công nghiệp dệt
– may, công nghiệp hóa chất – phân bón – cao su, công nghiệp vật liệu xây dựng,
công nghiệp cơ khí – điện tử…
Xây dựng một cơ cấu ngành công nghiệp tương đối linh hoạt, Đẩy mạnh các
ngành công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng Đầu tư theo chiều sâu, đổi mới trang thiết bị và công nghệ nhằm nâng cao

động của nó tới phát triển ngành, đánh giá đầy đủ nguồn lực, cơ hội, thách thức,
khả năng cạnh tranh để từ đó có quy hoạch tổng thể cũng như quy hoạch từng cơ sở
sản xuất kinh doanh.Cần chú trọng phát triển đồng bộ các loại thị trường: Sản
phẩm, nguyên vật liệu, công nghệ, thông tin, lao động, vốn… Doanh nghiệp cần
duy trì và mở rộng thị trường nhờ nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản
phẩm, sản xuất sản phẩm mới.

- Đẩy mạnh công tác huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả

PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
15

Sự nghiệp CNH-HĐH đòi hỏi nguồn vốn rất to lớn. Do đó mở rộng quy mô
huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là một điều kiện, tiền đề quan trọng để
CNH-HĐH được thành công.
Vấn đề của nước ta hiện nay là phải nỗ lực sản xuất cho hiệu quả, khắc phục
tình trạng yếu kém, gây thất thoát, lãng phí tiền của Nhà nước và nhân dân, tập
trung vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.
- Chuyển dịch cơ cấu đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư
Đầu tư có trọng điểm, tránh tràn lan. Hướng ưu tiên là đầu tư xây dựng cho
kết cấu hạ tầng và đầu tư vào các ngành trọng điểm, nhất là các ngành mũi nhọn.
Chuyển hướng mạnh mẽ từ đầu tư theo chiều rộng sang đầu tư theo chiều sâu trong
tất cả các ngành kinh tế, đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật mới và thiết bị máy móc mới
vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị
trường.
- Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần tạo điều kiện thuận
lợi cho mọi thành phần kinh tế phát triển.
Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần để cho công dân, các thành phần kinh tế khác yên tâm đầu tư vào sản
xuất.Cần phát huy vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tập

nhân lực đồng bộ về tất cả các mặt. Việc xây dựng nguồn nhân lực phải phù hợp
với từng thời kỳ và phải bố trí, sử dụng tốt nguồn nhân lực đã đào tạo. Phải phát
huy được khả năng sáng tạo của từng người để nâng cao nâng suất, chất lượng và
hiệu quả kinh tế.

3.Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng và hiệu lực quản lý của
nhà nước, phát huy vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân
- Để tăng cường nâng cao nâng lực lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp
CNH-HĐH, trước hết phải tiếp tục giữ vững ổn định chính trị.
- CNH-HĐH phải tiến hành theo đường lối, quan điểm của Đảng.
PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
17

- Đảng phải không ngừng đổi mới về lý luận cho vững chắc, đẩy mạnh công
tác chỉnh đốn Đảng, nâng cao trình độ của Đảng viên.
Đối với Nhà nước thì phải đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính, làm cho
bộ máy hành chính gọn nhẹ, có nâng lực quản lý cao.

PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.GS.Ts.Vũ Thị Ngọc Phùng (2006). Giáo trình kinh tế phát triển. NXB Lao
động Hà Nội.
2.Nguyễn Văn Thường (2004). Một số vấn để kinh tế xã hội Việt Nam trong
thời kì đổi mới. NXB Chính Trị Quốc Gia.
3.PGS.TS.Võ Thị Thanh Lộc (2010). Giáo trình phương pháp nghiên cứu
khoa học và viết để cương nghiên cứu (Ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế xã hội).
NXB Đại học Cần Thơ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status