xã hội học gia đình- PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG VÀ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG GIA ĐÌNH pot - Pdf 21

PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG VÀ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
1. Hiện trạng vai trò của vợ - chồng trong hoạt động sản xuất
1.1. Vai trò của vợ chồng trong hoạt động sản xuất và đóng góp vào thu nhập gia đình
Để tìm hiểu vai trò của vợ chồng trong hoạt động sản xuất có tương xứng với đóng góp của vợ chồng
vào thu nhập gia đình không, nhóm sẽ triển khai các nôị dung chính sau:
- vai trò của người vợ và người chồng trong hoạt động sản xuất của gia đình?
- vai trò của người vợ và người chồng trong thu nhập của gia đình?
- Có phải người nào hoạt động sản xuất nhiều cũng sẽ tạo ra nguồn thu nhập chính cho gia đình?
- Xu hướng bình đẳng hơn trong hoạt động sản xuất và tạo ra thu nhập giữa vợ và chồng trong gia
đình hiện nay.
Cụ thể như sau:
Sự phân công lao động theo giới trong gia đình thể hiện rõ trong công việc sản xuất và tạo thu nhập cho
gia đình, với những biến đổi khác so với vai trò giới theo quan niệm truyền thống. Phụ nữ Việt Nam
hiện này trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong hoạt
động kinh tế. Người vợ ý thức được tầm quan trọng về sự đóng góp thu nhập đối với gia đình.
“Thu nhập là tổng các khoản thu bằng tiền hoặc hiện vật do lao động của các thành viên trong gia đinh
tạo ra”
Trong gia đình, các thành viên luôn cố gắng đóng góp công sức lao động của mình để tạo ra thu nhập
phục vụ cho cuộc sống gia đình. Trong gia đình có nhiều thành viên, nhiều thế hệ sinh sống thì nguồn
thu nhập của gia đình có thể được đóng góp bởi ông bà, cha mẹ, hoặc con cái khi đã trưởng thành. Tuy
nhiên, nếu ta xét trong gia đình chỉ có vợ chồng và con cái, thì việc đóng góp vào thu nhập chủ yếu do
vợ chồng tạo ra.
Nguồn thu nhập của gia đình chủ yếu được tạo ra từ 2 nguồn chính: bằng tiền và bằng hiện vật.
• Thu nhập bằng tiền: ( tiền lương, tiền thưởng, tiền bán sản phẩm, tiền lãi bán hàng,tiền làm
ngoài giờ, tiền lãi tiết kiệm, tiền trợ cấp xã hội,tiền phúc lợi, tiền bảo hiểm, tiền hưu trí…)
● Thu nhập bằng hiện vật:
- Các sản phẩm tự sản xuất: rau quả, gạo, cao su, café, gia súc, gia cầm…
- Các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ : thêu ren, đồ gỗ, mây tre đan…
Tùy từng nơi, từng địa phương, vùng miền mà mỗi hình thức thu nhập dựa trên điều kiện khí
hậu, tài nguyên tự nhiên, địa hình… là khác nhau. Cũng như thu nhập ở thành phố khác với thu nhập ở
nông thôn, thu nhập ở thành phố chủ yếu bằng tiền mặt, còn ở nông thôn thì thu nhập chủ yếu dựa trên

công việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình:
Có thể nói ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, sự phân công lao động theo giới đã
được hình thành. Khi ấy nam giới do khoẻ mạnh hơn thì vào rừng, xuống sông để săn bắn, hái lượm,
tìm kiếm thức ăn, còn phụ nữ do yếu hơn, phần nữa phải bận bịu với công việc nuôi con nên ở nhà trông
con cái và nấu nướng.
Xã hội ngày càng phát triển, sự phân công lao động giữa nam và nữ ngày càng chịu sự chi phối
của các lề thói và tập tục xã hội. Trong gia đình truyền thống người vợ đóng vai trò lo toan việc nhà,
làm nội trợ, sinh đẻ và dạy dỗ con cái. Còn người chồng đóng vai trò ông chủ, có quyền sở hữu về đất
đai tài sản, là người đảm bảo cho sự độc lập về kinh tế của gia đình.
Phân công lao động giữa vợ và chồng trong nhóm công việc nội trợ
Trong gia đình, các hoạt động tái sản xuất sức lao động cho các thành viên hay còn gọi là công
việc nội trợ gia đình được xem như là một hình thức hoạt động diễn ra hằng ngày, là công việc cần thiết
để duy trì cuộc sống của mỗi thành viên và sự tồn tại của gia đình. Gia đình sẽ không còn là gia đình
nguyên nghĩa nếu như hoạt động này không diễn ra mà thay vào đó là sự chen lấn của các loại hình dịch
vụ. Ngày nay việc chăm lo cho các thành viên trong gia đình được coi là một công việc quan trọng theo
đúng nghĩa của nó, trong đó vai trò của người phụ nữ đặc biệt được đề cao.
Chồng Vợ Chồng và vợ Con Người khác Tổng
Nội trợ 6,5% 64.5% 14.8% 8.1% 6.0% 100%
số liệu trên cho ta thấy một thực tế là hầu như không có thay đổi đáng kể ở sự phân công lao
động giữa người vợ và người chồng trong công việc nội trợ. Người vợ vẫn đảm nhận hết các công việc
thuộc về nội trợ 64,5%. Sự tham gia của người chồng chiếm một tỉ lệ nhỏ, chỉ có 6,5% và cả hai vợ
chồng cùng tham gia vào công việc nội trợ cũng chỉ ở mức 14,8%. Như vậy có thể thấy rằng trong các
hoạt động thiết yếu của gia đình hiện nay thì dường như vẫn còn duy trì theo mô hình phân công truyền
thống: công việc nội trợ của gia đình vẫn do người vợ đảm nhận.
Ví dụ như việc nấu ăn, ở nhiều xã hội trong đó có Việt Nam thì coi rằng công việc này là của riêng phụ
nữ - đó là một khả năng thiên bẩm về nấu ăn, và nam giới không có khả năng sinh học đó. Nếu phụ nữ
không biết nấu ăn hoặc nấu ăn vụng thì sẽ bị phê phán thậm tệ. Do vậy, vị trí của phụ nữ là ở trong bếp
hay Việt Nam có câu tục ngữ: “Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp…phụ nữ là nội tướng
trong nhà…”, các món ăn nấu ra không phải là theo khẩu vị của riêng người vợ mà luôn chú ý tới khẩu
vị của bố mẹ chồng hay chồng Người đàn ông chỉ ở nhà làm công việc nấu nướng, lau dọn nhà cửa

Trước đây vai trò của chồng và vợ trong hoạt động cộng đồng còn nhiều sự khác biệt, phân biệt.
người chồng là chủ gia đình và là người tham gia các hoạt động cộng đồng là chủ yếu, còn người vợ
còn bị phân biệt, e dè khi tham gia các hoạt động cộng đồng mà người chồng làm.
Giới tính NTL
Chăm sóc sức khoẻ cho con
Total
Chồng Vợ
Vợ
chồng
Con
Người
khác
Không
phù hợp
Nam 5.5% 43.1% 38.4% 1.3% 2.3% 9.4% 100.0%
Nữ 2.8% 54.7% 29.0% 2.3% 3.0% 8.2% 100.0%
Dạy học cho con
Nam 15.9% 21.4% 35.5% 4.4% 6.3% 16.4% 100.0%
Nữ 12.9% 29.4% 29.0% 5.1% 5.4% 18.2% 100.0%
3
Ví dụ:
Trong việc tiếp cận các kênh thông tin, nam giới thường đi hội họp, nghe đài, xem TV, đọc sách
báo Còn phụ nữ đảm nhiệm các công việc đồng áng, chăn nuôi, làm nội trợ. Hàng ngày phụ nữ ít
thời gian nghe đài, xem TV, đọc sách báo do vậy, họ ít được tiếp cận các kênh thông tin đại chúng
để nâng cao nhận thức và hiểu biết.
Trong việc tham gia họp thôn, nam giới thưòng giành quyền đi họp nhiều hơn phụ nữ vì quan
niệm người chồng là chủ hộ và họ có vai trò quan trọng hơn trong việc đại diện gia đình bàn bạc,
tham gia ra quyết định công việc thôn như xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, sửa chữa đình,
chùa.
Trong quan hệ dòng tộc như họp dòng họ, xây mồ mả, nhà thờ họ, giỗ chạp vai trò và sự tham gia của

Cả hai 56,0 9,0 6,0 61,0
Người khác 2,0 23,0 22,0 1,0
Tổng 100,0 100,0 100,0 100,0
Người phụ nữ ngày càng có xu hướng tham gia vào các hoạt động xã hội, sinh hoạt văn hoá tại
địa phương, theo dõi các vấn đề xã hội để nâng cao kiến thức, nâng cao vai trò của mình trong gia đình
và ngoài xã hội. Người phụ nữ hiện đại không chỉ lo cơm nước, chăm sóc chồng con mà họ còn có thể
hoạt động sản xuất, tham gia sinh hoạt địa phương, tham gia vào các cuộc thi, các cuộc hội thảo dành
cho phụ nữ để khẳng định vị thế của mình trong gia đình và bên ngoài xã hội.
Tuy nhiên với 56% cả vợ lẫn chồng tham gia dự hiếu hỉ lại cho thấy rằng đó là tầm quan trọng
của một gia đình. Chẳng thế mà người ta hay ví “vợ chồng như đũa có đôi” đi đâu cũng phải cùng nhau.
Nhưng không phải bất cứ công việc gì cũng đi cùng nhau được mà điều đó phải tuỳ vào từng công việc
cụ thể. Việc cả hai vợ chồng cùng tham gia dự hiếu hỉ sẽ làm cho người vui càng vui hơn, còn người
buồn được sẻ chia. Đó là hành vi ứng xử kịch sự trong thời đại ngày nay của đất nước.
Việc giao tiếp với đoàn thể chính quyền thì người phụ nữ lại chiếm một tỉ lệ ít với 18%, còn
người chồng trung bình 50%, cả hai vợ chồng 9% và người khác 23%. Có những công việc chỉ dành
riêng cho phụ nữ nên chỉ có 18% số người giao tiếp với đoàn thể chính quyền. Thường thường người ta
nghĩ việc này nên dành cho nam giới hoặc những người lớn tuổi. Vì vậy tỉ lệ 50% người chồng và 23%
người khác giao tiếp với đoàn thể chính quyền cũng dễ hiểu. Qua đây ta thấy rằng việc giao tiếp với
đoàn thể chính quyền chưa thu hút được sự quan tâm của người phụ nữ và nhất là cả hai vợ chồng cùng
tham gia việc này chiếm một tỉ lệ nhỏ là 9%.
Trái ngược với việc giao tiếp với đoàn thể chính quyền thì việc họp tổ dân phố tỉ lệ người vợ
47% tham gia hội họp lại cao gần gấp đôi so với người nam 25%, còn cả hai vợ chồng thì lại rất ít 6%,
người khác là 22%. Thông thường việc hội họp tổ dân phố thì trong gia đình ai đi cũng được và chỉ cần
một người đại diện chứ không cần tới cả hai vợ chồng cùng tham gia. Việc người phụ nữ tích cực tham
gia hội họp cho thấy người phụ nữ đã từng bước hoà nhập cùng xã hội, cộng đồng để nâng cao sự hiểu
biết cũng như vai trò của mình trong gia đình.
5
Việc tiếp khách trong gia đình là công việc chung của cả hai vợ chồng nên đã chiếm một tỉ lệ
cao 61%, còn một mình người vợ tiếp khách chỉ có 9% người chồng là 29%, những người khác không
đáng kể chỉ có 1%. Trong mỗi gia đình thì việc tiếp khách đa số do người chủ gia đình thực hiện, nhưng

và vợ
Con
Người
khác
Không
phù hợp
Tổng
Các hoạt động kinh doanh 22.2% 21.4% 20.9% 3.4% 3.3% 28.9% 100.0%
Các hoạt động sản xuất 23.4% 17.0% 23.9% 2.5% 3.0% 30.1% 100.0%
Bảng số liệu trên cho ta thấy, quyền quyết định đối với các công việc kinh doanh, sản xuất, giờ
đây không chỉ dành riêng cho nam giới mà còn dành cho nữ giới (tỉ lệ người được hỏi trả lời quyền
quyết định trong hoạt động kinh doanh – sản xuất là do nam giới quyết định hay nữ giới quyết định
chênh nhau không đáng kể). Tuy nhiên phụ nữ không phải ra quyết định các công việc này một mình
mà có sự tham gia của nam giới. Xu hướng cả hai vợ chồng cùng quyết định trong hoạt động kinh
doanh là 20,9%, trong các hoạt động sản xuất là 23,9%. Với việc tham gia vào quyền quyết định trong
6
các lĩnh vực kinh tế như vậy đã nâng vị trí của người phụ nữ lên ngang tầm với nam giới khiến họ có
vai trò quan trọng trong việc cùng chồng ra quyết định và thực hiện các chức năng kinh tế của gia đình.
Tuy nhiên khi nói đến quyền quyết định giữa vợ và chồng trong các công việc kinh doanh, sản
xuất thì yếu tố quan trọng không thể bỏ qua là trình độ học vấn. Trình độ học vấn sẽ quyết định khá
nhiều đến quyền ra quyết định các công việc kinh doanh – sản xuất, sự thành bại trong các công việc đó.
Quyền ra quyết định chính trong việc định hướng nghề nghiệp và định hướng hôn nhân cho
con cái
Chồng Vợ
Chồng
và vợ
Con
Người
khác
Không

trong gia đình.
Quyền quyết định sinh con còn phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ học vấn, lứa tuổi
Người phụ nữ đã có thể tham gia bàn bạc, quyết định các việc chi tiêu trong gia đình cùng
người chồng.
Trong gia đình có rất nhiều khoản chi tiêu khác nhau. Những chi tiêu thường nhật cho sinh hoạt,
ăn uống thường do người phụ nữ chủ động thực hiện bởi vì họ là những người hàng ngày làm công việc
đó. Tuy nhiên có những khoản chi tiêu lớn có ảnh hưởng đáng kể tới đời sống kinh tế của các gia đình.
Những khoản chi tiêu này rất cần tới sự bàn bạc, thống nhất và quyết định của người chủ gia đình.
Bảng 5 - Người quyết định các khoản chi tiêu trong gia đình.
Người
quyết định
Mua sắm
tài sản đắt
tiền (%)
Xây sửa
nhà (%)
Tiền học
cho con
(%)
Hiếu hỉ (%)
Các khoản
chi khác
(%)
Vợ 4.0 3,0 31,0 75,0 66,0
Chồng 33,0 28,0 28,0 4,0 11,0
Cả 2 61,0 66,0 41,0 20,0 23,0
Người khác 2,0 3,0 1,0
Tổng 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
7
Nhìn vào bảng số liệu trên đây có thể thấy rằng việc mua sắm tài sản đắt tiền do người vợ quyết

chung của cả hai người. Họ phải có trách nhiệm với con cái mình, không chỉ lo cái ăn cái mặc cho con
mà còn phải quan tâm tới việc học hành của chúng. Cho dù có bề bộn công việc nhưng cha mẹ vẫn phải
dành một khoảng thời gian nhất định cho việc học tập của con cái bởi con cái luôn luôn là niềm tự hào
của cha mẹ. Con học giỏi thì cha mẹ nở mày nở mặt, còn ngược lại conchỉ lo chơi mà không lo học sẽ
làm cho cha mẹ phiền lòng. Chính vì vậy mà học vấn là rất quan trọng nên gia đình nào cũng phải cố
gắng nuôi con ăn học tới nơi tới chốn cho bằng bạn bằng bè. Và như vậy việc quyết định tiền học cho
con không chỉ một mình người vợ hay người chồng gánh vác nữa mà đã trở thành việc chung của cả hai
người.
Người quyết định việc hiếu hỉ trong gia đình là người vợ chiếm tỉ lệ 75% trong khi đó tỉ lệ người
chồng chỉ là 4%, cả hai vợ chồng là 20%. Việc người phụ nữ quyết định chính trong các khoản hiếu hỉ
cũng là điều dễ hiểu bởi những công việc này đa số đến tay người phụ nữ. Họ luôn được coi là hậu
phương vững chắc của người chồng nên những việc nhỏ này đến tay họ là lẽ đương nhiên. Việc người
chồng cùng quyết định với vợ các khoản chi tiêu trong hiếu hỉ với tỉ lệ 20% cho thấy người chồng đã
quan tâm tới mọi việc dù lớn hay bé trong gia đình. Tỉ lệ này chưa phải là cao nhưng qua đây ta thấy
8
rằng người chồng đã biết chia sẻ cùng với người vợ các công việc liên quan tới đời sống tình cảm trong
gia đình của chính mình.
Cũng giống như quyết định việc hiếu hỉ do người phụ nữ đảm nhiệm là chính thì việc quyết định
các khoản chi tiểu khác trong gia đình đa số là do người vợ với tỉ lệ rất cao 66%, còn người chồng chỉ
có 11%, cả vợ lẫn chồng là 23%. Các khoản chi tiêu khác ở đây là những khoản như tiền điện, tiền
nước, tiền vệ sinh, tiền an ninh…
Phụ nữ vốn là người chu toàn nên những việc tưởng như nhỏ nhặt này do họ đảm đương. Tuy nhiên chỉ
có 11% người chồng quyết định các khoản chi khác trong gia đình là một điều không công bằng cho
người vợ bởi các khoản chi này là của chung gia đình. Nhưng với xu hướng đổi mới hiện nay, việc cả
vợ lẫn chồng cùng quyết định các khoản chi khác trong gia đình là rất phổ biến vì họ hiểu đây là công
việc chung của cả gia đình chứ không phải của riêng người vợ hay người chồng. Tỉ lệ 23% các cặp vợ
chồng quyết định các khoản chi tiêu khác trong gia đình cho thấy người chồng đã biết quan tâm, chíảe,
gánh vác với người vợ mọi việc dù là nhỏ nhặt nhất trong gia đình.
Bên cạnh những công việc trên do phần lớn người phụ nữ đảm nhiệm thì việc quản lý tiền trong
gia đình cũng là điều đáng quan tâm. Tìm hiểu ai là người quản lý tiền trong gia đình sẽ có nhiều điều

thoát ra khỏi vị trí phụ thuộc vào người chồng. Các công việc như mua sắm tài sản, xây sửa nhà cửa, lo
9
tiền học cho con… không phải là việc của riêng một người quyết định mà đó là công việc chung của cả
hai vợ chồng, công việc chung của gia đình.
3. Tiếp cận các nguồn lực phát triển của gia đình
Hay nói cách khác cụm từ này giúp chúng ta hình dung ra được đó chính là sự đảm bảo những nguồn
lực, yếu tố bao gồm: kinh tế, giáo dục, sức khỏe, học vấn, tâm lý – tình cảm cho các thành viên trong
gia đình.
Trước tiên tôi sẽ đi vào phân tích yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc phát
triển gia đình.
* Thứ nhất là nói tới yếu tố kinh tế: sở hữu tài sản, đứng tên chủ hộ hay tiếp cận các nguồn vốn
tài chính…
QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG SỞ HỮU: PHẦN LỚN VỢ KHÔNG CÓ
TÊN TRONG "SỔ ĐỎ"
Tổ chức Nghiên cứu phát triển Action Aid Việt Nam vừa công bố kết quả khảo sát “Quyền tiếp cận đất
đai của phụ nữ nhìn từ thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Kết quả cho thấy chỉ có
khoảng 3-5% số hộ gia đình được cấp “sổ đỏ” có tên cả hai vợ chồng.
Mất nhà vì thiếu hiểu biết
Chị Nguyễn Thị Hằng, SN 1982, thường trú tại xã Bình Lư, huyện Tam Đường (Lai Châu). Năm 2000,
chị kết hôn và có một con gái 7 tuổi. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị được mẹ vợ cho một
mảnh đất. Sau đó, nghe theo lời khuyên của chồng, chị Hằng bán mảnh đất trên lấy tiền mua mảnh đất
của bố mẹ chồng để ở.
Điều 43 Nghị định 181 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 quy định phải ghi tên cả vợ và chồng
khi bất động sản là tài sản chung của hai vợ chồng, hoặc trường hợp nhà nước giao đất nông nghiệp
không thu tiền sử dụng đất. Trừ trường hợp một trong hai người là người nước ngoài, hoặc người Việt
Nam định cư ở nước ngoài. Khi bất động sản là tài sản chung của cả con cái thì chủ hộ đại diện viết tên.
Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất mới này không ghi tên chị mà ghi tên bố chồng. Năm
2007, chồng chị Hằng nghiện hút nặng, chị đưa đơn ly hôn. Trước tòa, bố chồng tuyên bố mảnh đất mà
chị đang ở là của ông, vì “sổ đỏ” mang tên ông.
Toà buộc chị Hằng phải giao trả lại mảnh đất, chị đành đi thuê nhà để ở. Nghề nghiệp không ổn định,

Kết quả khảo sát còn cho thấy, một nguyên nhân khác khiến phụ nữ chưa hiểu biết đến quyền lợi của
mình trong việc sở hữu tài sản, đất đai là do chính quyền địa phương không tuyên truyền cho họ hiểu.
Một số cán bộ cấp huyện khi được hỏi cho biết, họ chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh hướng
dẫn triển khai cụ thể về vấn đề này để tuyên truyền cho người dân
* Yếu tố chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình: thời gian nghỉ ngơi, khám bệnh,
uống thuốc bổ…
Gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sức khoẻ của mỗi cá nhân và cũng chính là tế bào của
xã hội nên vai trò gia đình trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng là không thể thiếu và vô cùng
quan trọng. Nó là nhân tố đóng góp cho chất lượng cuộc sống, nơi sản sinh, nuôi dưỡng, giáo dục
và chăm sóc con người từ khi còn trong bụng mẹ cho đến tuổi trưởng thành, thành nguồn lực xã
hội.
Mối quan hệ gia đình trong việc bảo vệ sức khoẻ.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới “sức khoẻ là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất tinh
thần và xã hội và không chỉ là không có bệnh hay khuyết tật”. Nói một cách cụ thể hơn sức khoẻ có thể
chia ra:
-
Phần thân: Sức khoẻ về thể chất.
-
Phần tâm: Sức khoẻ về tinh thần.
Sự thống nhất về sức khoẻ giữa phần thân và phần tâm đều phải được coi trọng như nhau, không thể coi
nhẹ phần nào trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ.
Với gia đình thì cả 2 phần này đều có ảnh hưởng rất lớn, vì gia đình là một môi trường xã hội thu hẹp,
gia đình là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục xây dựng các hành vi lối sống đầu tiên của con người.
Gia đình có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống của mỗi cá nhân,vai trò của gia đình trong việc giáo dục
chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình nói riêng và trong cộng đồng là rất quan trọng và
không thể thiếu.
+Công tác chăm sóc.
Gia đình là một tổ ấm là chỗ dựa vững chắc cho con người, giúp con người phát huy được những tiềm
năng sẵn có. Do vậy gia đình có trách nhiệm chăm sóc để con người được khoẻ mạnh có lối sống, nếp
sống tốt để chăm lo bảo vệ sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình, cũng là việc chăm lo bảo vệ sức

hình thành nhân cách cho trẻ em.
Trong gia đình, ngoài các mối qua hệ nói trên còn có mối quan hệ giữa ông bà và các cháu, anh chị và
các em. Mối quan hệ này càng bền chặt thì càng làm phong phú thêm đời sống tinh thần của các cá nhân
trong gia đình. Các bậc lớn tuổi phải làm gương, tự điều chỉnh hành vi của mình thì mới đáp ứng được
vấn đề đạo đức, văn hóa và các mối quan hệ đặt ra trong phạm vi gia đình. Người xưa nói “rau nào sâu
đó”, lối sống của cha mẹ và những người trong gia đình ảnh hưởng rất lớn đến trẻ em.
Khi cha mẹ dạy con phải lễ phép với bố, mẹ nhưng chính họ lại không tôn trọng cha, mẹ của mình (ông
bà của trẻ) thì chắc chắn trẻ sẽ chẳng bao giờ lễ phép với cha, mẹ và cả ông, bà. Những bậc cha mẹ luôn
quan tâm đến con cái sẽ chú trọng đến việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ, dạy con không được
nói dối người lớn, phải thật thà và biết nhìn nhận khuyết điểm, biết cám ơn khi được cho quà. Nhưng
cũng có nhiều gia đình thiếu quan tâm đến việc giáo dục con cái, người lớn đối xử với nhau bằng lời
nói, cử chỉ, hành động thiếu văn hóa…, những hành động xấu đó đã phản chiếu vào tâm hồn non nớt
của trẻ em, làm cho các em trở lên cộc cằn, thô lỗ. Môi trường gia đình có vai trò quyết định đến sự
phát triển của trẻ em. Những mâu thuẫn, lục đục trong gia đình hay gia đình tan vỡ đã đẩy nhiều trẻ em
rơi vào tình trạng hụt hẫng về mọi phương diện, nhiều em không đủ ý chí để vượt qua khó khăn này đã
rơi vào những bệnh như trầm cảm, rối loạn tâm lý hoặc bỏ nhà đi lang thang, phạm tội.
Yếu tố gia đình chịu trách nhiệm đối với quá trình xã hội hóa ban đầu của cá nhân, ảnh hưởng đến việc
hình thành phẩm chất, nhân cách gốc của trẻ. Nếu ngay từ đầu các phẩm chất đó bị sai lệch, trẻ sẽ dễ
sinh hư. “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, câu tục ngữ mang tính giáo dục đến nay vẫn còn nguyên
giá trị. Sống trong các gia đình có bố mẹ hoặc người lớn khác có hành vi thiếu văn hóa, đạo đức thậm
chí có cả những hành vi phạm tội, như bố mẹ bất hòa hay đánh chửi nhau, nghiện rượu, nghiện ma túy,
trộm cắp, tham ô…thì những gương xấu này làm cho trẻ em dần dần coi thường pháp luật, nhiễm các
thói hư tật xấu và dễ bị lôi kéo rồi dần dần vi phạm pháp luật Chúng dễ dàng phạm tội khi bị rủ rê, lôi
kéo…
 Gia đình có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người. Nếu
nhân cách của con người bao gồm hai mặt đức và tài, thì gia đình là nơi nuôi dưỡng đạo đức và gieo
mầm tài năng. Chỉ khi nào gia đình đảm bảo được chức năng vai trò giáo dục của mình thì nó mới trở
thành nền tảng thúc đẩy sự phát triển bền vững của các thành viên.
*Yếu tố tâm lý- tình cảm
12

đấy thôi, để rồi một ngày xuân khi tết đến thấy người ra vui vầy bên nhau mà lòng tự ti, tủi hờn.
Tuổi thơ của chúng con là những ngày ở đầu đường xó chợ, nhiều hôm nhìn con phố muôn người xuôi
ngược, con đã từng tưởng tượng ra khuôn mặt của đấng sinh thành ra con và tự nhủ, biết đâu giữa hàng
ngàn người đi trên phố, có bố mẹ cất bước đi qua.
Bố mẹ có biết không, tuổi thơ con buồn nhất là những ngày người ta gọi là quốc tế thiếu nhi đó. Ngày
đó tụi con thu mình và để cho đêm khép lại, ngủ một giấc rồi tiễn ngày đi qua. May mắn lắm chúng con
được những tổ chức bảo trợ trẻ em phát cho những món quà, mừng ơi là mừng!
Bố mẹ biết đấy, con đã lớn lên với những tháng ngày như thế.
 Một bức thư với ngôn ngữ hết sức giản đơn nhưng đọc nó thì lại vô cùng cảm động, đứa trẻ viết
bức thư này chưa được tiếp cận đầy đủ cơ hội để phát triển, đặc biệt là luôn thiếu thốn về mặt
tình cảm gia đình.
Ngoài ra khi đề cập đến các nguồn lực phát triển của gia đình thì ta cũng có thể đề cập tới yếu tố con
người (nguồn nhân lực), đất đai, kinh nghiệm cha ông để lại, vui chơi – giải trí,. …
* Thách thức đối với gia đình hiện nay :
Cùng với sự biến đổi vô cùng to lớn của đời sống xã hội thời kỳ đổi mới, gia đình Việt Nam cũng diễn
ra sự biến đổi một cách toàn diện. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến
13
mọi mặt đời sống gia đình. Bên cạnh những tác động tích cực, những cơ hội phát triển mới, gia đình
Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức mới. Đó là tình trạng ly hôn có xu hướng
tăng cao; ngoại tình; sống chung không kết hôn; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; tình trạng trẻ em
nghiện hút; trẻ em hư, phạm tội, lang thang có xu hướng tăng; bạo lực gia đình; buôn bán phụ nữ; bất
bình đẳng giới; mua bán hôn nhân có yếu tố nước ngoài; xu hướng tôn sùng tiền bạc trong quan hệ giữa
người với người; tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hối lộ, mua quan bán chức diễn ra phổ biến trong xã
hội… đang tác động đến từng cộng đồng, tập thể, cá nhân, từng gia đình ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn
cảnh, mọi phương diện. Tỷ lệ ly hôn ngày một tăng. Cuộc điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với
Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Nếu năm 2000
chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ. Người vợ đứng đơn ly hôn hiện gấp 2 lần
so với người chồng đứng đơn. Người tốt nghiệp đại học, cao đẳng có tỷ lệ ly hôn từ 1,7- 2%, thấp hơn
tỷ lệ 4- 6% của người không có bằng cấp. Số năm sống trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợ
chồng 18- 60 tuổi là 9,4 năm; còn riêng ở các khu vực nội thành, các thành phố lớn, chỉ 8 năm. Có 4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status