Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt - Pdf 24

Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt
DẪN NHẬP
Triết học Hy Lạp cổ đại là nền triết học được hình thành vào khoảng thế kỷ VI
trước công nguyên. Triết học Hy Lạp cổ đại được xem là thành tựu rực rỡ của văn
minh phương tây, tạo nên cơ sở xuất phát của triết học châu Âu sau này. Alfred
Whitehead nhận xét rằng "triết học phương tây thực ra chỉ là một loạt các chú thích
cho Plato".
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tập trung vào hai chủ đề chính. Thứ nhất là mối
liên hệ giữa nguyên nhân và hệ quả, hay nói cách khác, tìm câu trả lời cho câu hỏi
phải chăng các sự vật hiện tượng vận động theo một chuỗi nguyên nhân-hệ quả tất
yếu khách quan hay chỉ là sự trùng hợp, tình cờ ngẫu nhiên. Thứ hai là bản chất và
khởi thủy của thế giới tồn tại.
Trong quá trình hình thành và phát triển, lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại cũng
diễn ra quá trình đấu tranh mạnh mẽ giữa Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Đây cũng là vấn đề được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử triết học.
Chúng ta tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử cũng như một số trường phai1 đặc trung để tìm
hiểu về sự đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy
Lạp cổ đại.
I. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ
BẢN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI:
1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội Hy Lạp cổ đại:
1.1. Trong những nền văn minh cổ đại rực rỡ mà ngày nay người ta biết được thì nền
văn minh Hy Lạp - La Mã xuất hiện muộn hơn cả, nhưng nó lại rất phong phú, đặc
biệt là về triết học. Điều đó có thể giải thích bằng tính chất điển hình của chế độ
chiếm hữu nô lệ ở đây. Hy Lạp và La Mã đã có một chế độ chiếm hữu nô lệ phát
triển tới hình thức cao, mang tính chất điển hình, biểu hiện ở các điểm sau đây:
− Sự phân hoá giai cấp trong xã hội hết sức rõ rệt thành hai giai cấp chủ yếu là
giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Nô lệ có số lượng đông đảo trong xã hội và
sống tập trung.
Học viên Đào Đức Hạnh – Lớp cao học ngày 4 Khoá 22 1
Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt

Học viên Đào Đức Hạnh – Lớp cao học ngày 4 Khoá 22 2
Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt
Một là, thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ
nô thống trị.
Hai là, có sự phân chia và các sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái,
duy vật - duy tâm, biện chứng - siêu hình, vô thần - hữu thần.
Ba là, đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác, hoang sơ. Triết học Hy Lạp
đã nghiên cứu phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật tranh luận và hùng biện nhằm
bảo vệ quan điểm của mình và tìm ra chân lý nhưng chưa trình bày chúng trong một
hệ thống lý luận chặt chẽ.
Bốn là, gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các
lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh
chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó.
Năm là, Bên cạnh tính giai cấp rõ rệt đó, triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng, đề
cao vai trò của con người, coi con người là tinh hoa của tạo hoá.
Do là một trong những nền triết học mở đường trong lịch sử triết học nhân loại
hơn nữa các quan niệm triết học được rút ra trên cơ sở suy luận, suy đoán từ sự quan
sát trực tiếp các sự kiện xảy ra trong tự nhiên, trong xã hội nên triết học Hy Lạp cổ
đại mang nặng tính sơ khai, chất phác, ngây thơ.
II. MỘT SỐ TƯ TƯỞNG, TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI:
Với hoàn cảnh lịch sử và từ trong sự khởi đầu, các nhà triết học sau này đã nhìn
thấy ở triết học Hy Lạp cổ đại mầm mống của tất cả các kiểu thế giới quan sau này
và xem nó là một đỉnh cao của triết học nhân loại. Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ lịch
sử, tuỳ từng không gian địa lý cụ thể mà triết học Hy Lạp cổ đại chia thành các
trường phái và các giai đoạn phát triển khác nhau. Trong nội dung của bài tiểu luận
này đề cập đến những trường phái là đại diện xuất xắc nhất cho chủ nghĩa duy vật
chất phác và chủ nghĩa duy tâm thời kỳ này:
1. Chủ nghĩa duy vật:
1.1Trường phái Héraclite:
Hêraclit được các nhà kinh điển macxit xem là người xây dựng nên phép biện

do quy luật khách quan (logos) quy định. Logos khách quan là trật tự khách quan
của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói
và suy nghĩ của mọi người. Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan
Học viên Đào Đức Hạnh – Lớp cao học ngày 4 Khoá 22 4
Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt
nhưng nó biểu hiện ở từng người có khác nhau. Người nào càng tiến gần tới logos
khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu.
Những đóng góp của Hêraclit thể hiện trong quan niệm của ông về bản nguyên
của thế giới, việc ông xây dựng phép biện chứng và thiết lập lý luận nhận thức. Lý
luận nhận thức của ông mang tính chất duy vật và biện chứng sơ khai nhưng về bản
chất là đúng đắn. Hêraclit cho rằng nhận thức bắt đầu từ cảm giác, không có cảm
giác thì không có bất cứ nhận thức nào. Tuy coi trọng nhận thức cảm tính nhưng ông
không tuyệt đối hoá giai đoạn này vì “thị giác thường bị lừa bởi tự nhiên thích giấu
mình”. Nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt tới sự nhận thức “logos” của sự vật, tức
là phải nhận thức được bản chất quy luật của sự vật. Ngoài ra ông còn nêu lên tính
chất tương đối của nhận thức, tuỳ điều kiện cụ thể mà thiện - ác, tốt - xấu, lợi - hại
chuyển hoá cho nhau. Ông cho rằng, linh hồn là vật chất, là một trạng thái quá độ của
lửa. Quan niệm này sai lầm nhưng giá trị triết học của nó nằm ở chỗ: Ông tìm bản
chất của tinh thần không phải là ở ngoài vật chất mà là ở chính thế giới vật chất, giá
trị ấy có tính chất định hướng cho sự tìm tòi bản chất đích thực của đời sống tinh
thần.
Hêraclit đã đưa triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và triết học duy vật cổ đại nói
riêng tiến lên một bước mới với những quan điểm duy vật và những yếu tố biện
chứng. Học thuyết của ông được nhiều nhà triết học sau này kế thừa. Mác và Ăng
ghen coi ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại.
1.2Trường phái nguyên tử luận Loxip – Democrit:
Đêmôcrit là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại. Ông là học
trò của Lơxíp và là người kế tục tư tưởng của Lơxip về nguyên tử và phát triển nó
thành một học thuyết gắn liền với tư tưởng của ông.
Học thuyết nguyên tử là học thuyết phản ánh rõ nhất, tập trung nhất lập

tượng của nhận thức là thế giới vật chất ở bên ngoài con người, sự nhận thức là
sự phản ánh của con người về thế giới ấy. Theo ông quá trình nhận thức chia ra hai
giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức trí tuệ. Nhận thức cảm tính là hiểu biết
của con người về đối tượng thông qua tác động trực tiếp của đối tượng ấy vào các
giác quan của con người vì thế có sự nhận thức khác nhau giữa các cá nhân. Tri thức
thu nhận được là tri thức riêng lẻ, bộ phận. Ông đưa ra ba thuật ngữ “mờ tối”, “dữ
kiện”, “dư luận” và coi tri thức “mờ tối” là sự hiểu biết về tri thức chưa chính xác,
chưa đầy đủ đúng đắn, chưa cho ta biết về bản chất của sự việc, tri thức “dữ kiện” là
Học viên Đào Đức Hạnh – Lớp cao học ngày 4 Khoá 22 6
Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt
sự hiểu biết về từng mặt, từng bộ phận của đối tượng nên chưa có tính khái quát, tính
hệ thống, chỉ đem lại cho con người dữ kiện về đối tượng; tri thức “dư luận” là sự
hiểu biết được chủ thể nhận thức tổng hợp một cách dễ dàng, dễ được nhiều người
tán thành. Ông cho rằng, giai đoạn nhận thức cảm tính còn có nhiều hạn chế do chưa
cho ta biết về bản chất của đối tượng. Theo ông, nhận thức trí tuệ là giai đoạn cao
của quá trình nhận thức, những hiểu biết có được không phải do sự tác động trực tiếp
mà có được thông qua hoạt động tư duy (suy luận, phán đoán, phân tích các dữ
kiện, dữ liệu mà giai đoạn nhận thức cảm tính đem lại để từ đó vạch ra được bản chất
của sự vật, đối tượng khách quan).
Trong quan điểm chính trị, xã hội của mình, Đêmôcrit tập trung vào các
vấn đề đạo đức và nhà nước, từ đó chú tâm lý giải những động lực, sự phát triển
của xã hội loại người. Ông cho rằng khi tổ tiên của loài người thoát ra khỏi thế giới
động vật thì đời sống của họ hết sức mông muội, họ sống thành những bầy đàn khác
nhau, bị tự nhiên chi phối hoàn toàn. Điều này dẫn tới những hệ quả: Ban đầu con
người tìm kiếm thức ăn để thoả mãn nhu cầu sống, chưa có ý thức dự trữ và tích luỹ
thức ăn (tư tưởng và hành động tư hữu) do vậy con người sẽ bị thiếu thức ăn vào
những thời điểm mà thời tiết, thiên nhiên khắc nghiệt. Về sau này, dần dần người ta
đã biết tích luỹ, dự trữ thức ăn và biến nó thành thói quen. Do con người sống thành
những bầy đàn khác nhau, lượng tài sản tư hữu không giống nhau nên xảy ra tranh
giành giữa các thành viên trong bầy đàn và giữa các bầy đàn. Con người trở nên có

rằng thế giới ý niệm có vô vàn ý niệm, trong số tất cả các ý niệm thì ý niệm phúc lợi
là cao nhất - nó là ý niệm của các ý niệm.
Theo Platôn, vật chất nói chung cũng tồn tại vĩnh viễn, nó là căn nguyên tạo ra
chất liệu cụ thể của mỗi sự vật, làm cho chúng đa dạng, biến đổi không ngừng; các ý
niệm là bản chất chung của mọi sự vật, là cơ sở thống nhất toàn vũ trụ, là linh hồn
đem lại sinh khí cho toàn vũ trụ; còn các con số là một dạng bản chất độc lập đặc biệt
chiếm vị trí trung gian ở giữa ý niệm và sự vật cảm tính, sự khác nhau giữa các sự
vật là do khác nhau về quan hệ toán học, do những con số quyết định.
Như vậy, tuy đứng trên lập trường duy tâm khách quan trong quan niệm về thế
giới, coi sự vật chỉ là cái bóng của ý niệm nhưng ông đã thực hiện một bước tiến
trong việc chuyển triết học từ tư duy ẩn dụ tới tư duy khái niệm, giải thích một hiện
tượng ở mức độ khái niệm, tư duy lý luận.
Học viên Đào Đức Hạnh – Lớp cao học ngày 4 Khoá 22 8
Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt
Lý luận nhận thức và học thuyết về linh hồn của Platôn được xây dựng trên cơ
sở bản thể luận duy tâm khách quan mà cốt lõi của chúng là học thuyết về ý niệm và
học thuyết về sự tồn tại độc lập của linh hồn bất tử. Ông cho rằng, nhận thức cảm
tính không phải là nguồn gốc của tri thức chân thực, mà tri thức chân thực - nhận
thức ý niệm - chỉ có thể đạt được bằng nhận thức lý tính và thể hiện trong khái niệm.
Theo ông, mọi tri thức phải có tính khái quát cao. Sự nhận thức của con người không
phải là sự phản ánh thế giới vật chất mà là sự hồi tưởng của linh hồn bất tử, hồi
tưởng lại những gì mà linh hồn bất tử đã quên đi khi nằm trong thế giới ý niệm. Linh
hồn bất tử vốn thuộc về thế giới ý niệm, khi đó nó biết hết tất cả những gì thuộc về
thế giới ý niệm nhưng vì thế giới ý niệm luôn vận động nên linh hồn bất tử vận động
xuống mặt đất, nhập vào con người, biến con người từ một thực thể bất động vô tri,
vô giác thành một cơ thể năng động và có tri giác. Nhưng cũng từ đó linh hồn bất tử
quên hết những gì biết được ở thế giới ý niệm, khi nó hồi tưởng những gì đã biết tạo
ra sự nhận thức. Quan niệm này của Platôn có một số yếu tố hợp lý khi ông đề cao
vai trò của tư duy, sự tác động trở lại của tư duy đối với vật chất nhưng do ông đề
cao quá theo hướng tuyệt đối hoá nên trở thành duy tâm; đồng thời khi thừa nhận

nói đó là cuộc đấu tranh giữa trường phái Duy Vật của Đe mo-crít và Duy Tâm của
Platon là tiêu biểu và điển hình hơn cả. Chúng ta sẽ phân biệt sự tương đồng và khác
nhau qua quan niệm từng vấn đề của Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm
mà đại diện bởi hai trường phái xuất xắc nhất :
− Về vấn đề khởi nguyên của thế giới:
+ Đe mo-crít quan niệm rằng nguyên tử và khoảng trống là cơ sở đầu tiên cấu
tạo nên mọi vật đó là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được,
không màu sắc, không âm thanh, không mùi vị, không thể phân chia được,
không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình thức, trật tự, tư thế.
Nguyên tử có rất nhiều nhưng mỗi nguyên tử có một h́ình thức nhất định:
hình cầu, góc cạnh và mỗi loại sinh vật đều được cấu thành bởi các nguyên
tử do chúng kết hợp với nhau theo một trật tự nhất định.
+ Platôn không xuất phát từ vật chất để giải thích nguồn gốc của thế giới, ông
không khẳng định thế giới này là thế giới vật chất và duy nhất. Theo ông,
thế giới ý niệm là nguyên mẫu, nó có trước và thế giới vật chất là cái được
sinh ra, nó là thế giới cảm tính. Thế giới vật chất chẳng qua là cái bóng, là
sự mô phỏng, bắt chước thế giới ý niệm, thế giới ý niệm quyết định thế giới
vật chất, không có thế giới ý niệm thì không có thế giới vật chất.
Học viên Đào Đức Hạnh – Lớp cao học ngày 4 Khoá 22 10
Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt
− Về vũ trụ:
+ Đe mo-crít cho rằng vũ trụ là vô tận vĩnh cửu; có vô số thế giới phất sinh
phát triển và tiêu diệt.
+ Còn Platon thì ngược lại ông cho rằng vũ trụ này không tồn tại thực, tất cả
chỉ là sự phức hợp của ý niệm do ý niệm quy định do thượng đế quyết định
và không tồn tại.
− Về vấn đề nhận thức:
+ Đe mo-crít là người có công lao to lớn trong lịch sử triết học về vấn đề xây
dựng lý luận nhận thức vai trò của cảm giác với tính cách là điểm khởi đầu
của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc nhận thức thế giới xung

+ Còn Platon: ông đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trên lập trường của
phái chủ nô quý tộc chống lại chế độ dân chủ tiến bộ của xã hội. Ông cho
rằng linh hồn gồm các bộ phận lý tính, ý chí và cảm tính trong xã hội có
các hạng người tương ứng với các bộ phận của linh hồn. Lý tính là cơ sở
của các đức tính cao cả chỉ có được ở những nhà triết học, các nhà thông
thái; ý chí là cơ sở của đức tính can đảm. Nó thể hiện ở trong những người
lính, những chiến binh. Cảm tính là cơ sở của các đức tính thận trọng. Đức
tính này thường có ở những người dân tự do, những người thợ thủ công.
Platon chủ trương duy trì các hạng người trong xã hội, cũng có nghĩa là duy
trì sự bất bình đẳng giữa mọi người. Nhà nước ra đời là để đáp ứng những
nhu cầu đó. Theo Platon hình thức cộng hoà là “Nhà nước lý tưởng”. Trong
đó quyền thống trị tuyệt đối về tầng lớp chủ nô quý tộc. Nhà nước, đó là
hiện thân của cả ba đức tính đó là thông thái, can đảm và thận trọng. Trong
“Nhà nước lý tưởng”, ông chia xã hội ra thành 3 đẳng cấp dựa vào đặc
trưng đạo đức.
− Về vấn đề linh hồn:
+ Đe mo-crít, ông đã bác bỏ quan niệm về sự sản sinh ra sự sống và con
người của thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả biến đổi dần dần từ thấp
đến cao của tự nhiên. Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường nước và
dưới tác động của nhiệt độ. Sinh vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần
xuất hiện sinh vật có vú sống trên cạn. Cuối cùng là con người ra đời trên
Học viên Đào Đức Hạnh – Lớp cao học ngày 4 Khoá 22 12
Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm triết học Hy Lạp cổ đại: Tương đồng và khác biệt
quả đất. Ông đã phân biệt rõ ràng sự vật và sinh vật chúng khác nhau ở chỗ
sự vật không có linh hồn, còn sinh vật có linh hồn: linh hồn được cấu tạo
bởi các nguyên tử hình cầu, giống như nguyên tử của lửa vận động với vận
tốc cao. Nguyên tử linh hồn sinh ra nhiệt, nhiệt làm cho cơ thể hưng phấn
và vận động. Ông coi cái chết là sự phân tán của các nguyên tử cấu tạo nên
thể xác và các nguyên tử cấu tạo nên linh hồn chứ không phải là linh hồn
ĺìa khỏi thể xác. Tuy quan niệm của Đe mo-crít về linh hồn còn mang tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status