TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 9:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
HỌC VIÊN THỰC HIỆN : ĐÀO MẠNH LONG
STT : 53
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 4
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 – K20
GVHD : T.S BÙI VĂN MƯA
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
TP. Hồ Chí Minh, Tháng 5/2011
DANH SÁCH NHÓM 4
STT Họ và Tên
49 Nguyễn Thị Bích Liên
50 Phan Hoài Linh
51 Trần Ngọc Linh
52 Đào Thị Bích Loan
53 Đào Mạnh Long
54 Trương Bảo Long
55 Đỗ Hữu Lộc
56 Nguyễn Văn Luận
57 Nguyễn Thanh Luận
58 Nguyễn Viết Mạnh
59 Trương Công Minh
60 Trương Quang Minh Nhóm trưởng
61 Đoàn Thị Minh
62 Trần Đăng Minh
63 Đoàn Thanh Nam
khoa học giúp con người nhận thức đúng và cải tạo Thế Giới, là tiền đề cho sự
phát triển văn minh nhân loại. Xét trên nhiều khía cạnh chúng ta thấy hai nền
Triết học này tuy hình thành ở những hoàn cảnh, vùng địa lý khác nhau và hình
thành những học thuyết Triết học khác nhau nhưng đồng thời cũng có những
điểm tương đồng không thể phủ nhận được.
Vì những lý do trên mà Nhóm 4 đã chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác
biệt giữa Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để tìm
hiểu và cũng để có cái nhìn sâu sắc hơn về hai nền Triết học này.
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp chúng ta hiểu lý
giải được nguồn gốc, quá trình và xu hướng phát triển của hai nền Triết học, hiểu
được lịch sử tư tưởng từ các học thuyết nổi tiếng của những nhà Triết học Hy lạp
và Trung Quốc thời bấy giờ cũng như sự tương quan giữa chúng.
Với mục đích như trên, nội dung đề tài được cô đọng trong 2 chương:
− Chương 1: Giới thiệu khái quát về Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết
học Trung Quốc cổ đại:
+ Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển
+ Các đặc điểm cơ bản
+ Các trường phái Triết học tiêu biểu
− Chương 2: Đánh giá và so sánh giữa 2 nền Triết học Hy Lạp cổ đại
và Trung Hoa cổ đại
+ Các đặc điểm tương đồng
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 4
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
+ Các điểm khác biệt
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 5
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHÁI
QUÁT VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.1. TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
tự nhiên, nên họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết
luận triết học, chứa đựng hầu hết các vấn đề cơ bản của thế giới quan. Do trình
độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ,
phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên
sơ lược để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới.
Đặc điểm 4: Triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề con người, sự hình thành,
bản chất con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm
khác nhau về con người, quá trình đấu tranh giữa tri thức khoa học và tín
ngưỡng, giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm tôn giáo, họ cố lý giải vấn đề quan hệ
giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ. Dù còn
có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là
tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
1.1.3. Các trường phái triết học Hy Lạp tiêu biểu
1.1.3.1 - Chủ Nghĩa Duy Vật :
a) Trường phái Milê: xuất phát từ giai đoạn đầu hình thành, do 3 nhà triết học
duy vật là Talét, Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng vào thế kỷ 6, TCN, nhằm
làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới. Talét chủ trương giải thích giới tự
nhiên không phải bằng niềm tin mà bằng sự kiện quan sát; ông kết luận: Nước là
yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của vạn vật. Theo Anaximăngđrơ, apeiron là
nguồn gốc của vạn vật. Còn theo Anaximen, không khí có thể biến đổi thành mọi
thứ và tạo ra vạn vật. => duy vật giản đơn, chất phác, thô sơ; nhưng có ý nghĩa
vô thần, chống lại thế giới quan thần thoại hiện giờ.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 7
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
b) Trường phái Hêraclít : nổi trội nhất trong thời kỳ hình thành, do Hêraclít xây
dựng vào thế kỷ 6, TCN. Hêraclít coi bản nguyên của thế giới là lửa, vạn vật đều
từ lửa mà ra, rồi sau đó sẽ mất đi để quay về với lửa, nhưng tuỳ theo độ của lửa
mà vạn vật có thể chuyển hóa – thay đổi trạng thái. Hêraclít đã nêu lên các phỏng
đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Các luận
điểm cốt lõi của phép biện chứng đều đã được ông đề cập đến dưới dạng danh
lý Elee và đạt được đỉnh cao trong trường phái duy tâm khách quan – thế giới ý
niệm của Platon.
a) Trường phái Pytagore :
Là nhà triết học, toán học uyên bác, ông cho rằng “con số” là bản nguyên
của thế giới, là bản chất của vạn vật. Thừa nhận sự bất tử và luân hồi của linh
hồn =>đặt nền móng ban đầu cho duy tâm cổ đại. Ông cũng bàn đến các mặt đối
lập của mọi sự vật hiện tượng, ông quy về mười cặp đối lập hữu hạn và vô
hạn. Mười cặp đối lập này chia làm bốn lĩnh vực là: toán học, vật lý, sinh học và
đạo đức. Đó là những mặt đối lập cơ bản của tự nhiên và xã hội.
b) Trường phái Êlê :
Xênôphan (Xénophane): cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối cùng
trở về đất. Đất là cơ sở của vạn vật. Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của
muôn loài. Ông cho rằng, “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của
vạn vật trong thế giới. “Tồn tại” là một phạm trù triết học mang tính khái quát
cao, và nhận thức bởi tư duy, lý tính. Quan niệm “tồn tại”đánh dấu một giai đoạn
mới trong phát triển triết học Hy Lạp cổ đại.
Pácmênít (Parménide): sự vật không ngừng biến đổi từ dạng này sang
dạng khác, chỉ khác nhau ở cách thức biểu hiện của sự tồn tại, và tồn tại không
hề thay đổi, đó cũng là bản chất của sự vật, được nhận thức bởi tư duy lý tính.
Nhận thức lý tính đòi hỏi con người phải dùng trí óc để khám phá nguồn gốc, bản
chất của thế giới.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 9
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Dênông (Zénon): bảo vệ trường phái Êlê. Ông đưa ra những apôri nghĩa là
tình trạng không có lối thoát hay nghịch lý. Thông qua chúng, ông chứng minh
rằng “tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến”. Còn tính phức tạp, đa dạng và
vận động của thế giới là không thực.
c) Trường phái duy tâm khách quan :
Xôcrát (Socrate): không nghiên cứu về giới tự nhiên, ông dành phần lớn
nghiên cứu về con người, đạo đức:“Con người hãy nhận thức về chính mình”.
tưởng của giai cấp chủ nô quý tộc nên về mặt chính trị ông chỉ bảo vệ lợi ích cho
tầng lớp này, bảo vệ tầng lớp trung lưu, khinh miệt nô lệ, về mặt triết học ông là
nhà nhị nguyên luận.
1.2. TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.2.1. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ đại
Trung Hoa là một đất nước rộng lớn thuộc vùng Đông Á. Trên lãnh thổ
Trung Hoa có hai con sông lớn chảy qua: sông Hoàng Hà ở phía bắc và sông
Trường Giang ở phía nam tạo nên hai miền Bắc Nam với nhiều khác biệt, nền
kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, định canh, định cư.
Thời cổ đại của Trung Quốc bắt đầu từ vương triều nhà Hạ (~thế kỷ XXI -
thế kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ đặt nền móng, tồn tại tới thời vua Kiệt thì bị diệt
vong. Thời này, người Trung Quốc chỉ mới biết dùng đồng đỏ, thế giới quan thần
thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần.
Những tư tưởng triết học đã xuất hiện; và trải qua 2 vương triều nhà Thương (còn
gọi là Ân, thế kỷ XVI - thế kỷ XII TCN) do Thành Thang thành lập, tồn tại tới
thời vua Trụ thì bị diệt vong. Thời này, người Trung Quốc sống định canh, định
cư; biết dùng đồng thau, khai khẩn ruộng đất và thực hiện đường lối tỉnh điền;
ma thuật được thay bằng tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên và thần xã – tắc; và Vương
triều nhà Chu (~thế kỷ XII - 221 TCN) do Văn Vương thành lập, tồn tại hơn 8
thế kỷ trải qua thời Tây Chu đóng đô ở Cảo Kinh, trước 771 TCN và thời Đông
Chu đóng đô ở Lạc Ấp. Thời Tây Chu, đất nước Trung Quốc tương đối ổn định.
Nhưng sang thời Đông Chu, khi đồ sắt được dùng phổ biến, chế độ sở hữu tư
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 11
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
nhân về ruộng đất được hình thành thay thế cho chế độ ruộng đất tĩnh điền trước
đó đã làm nảy sinh một loạt những thế lực chính trị mới. Đó là tầng lớp địa chủ
mới đang lấn át và xung đột gay gắt với tầng lớp quý tộc cũ. Do vậy, xã hội rơi
vào tình trạng rối ren; các giá trị, chuẩn mực cộng đồng bị đảo lộn. Sự tranh
giành địa vị xã hội của các thế lực chính trị đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào
tình trạng chiến tranh khốc liệt. Thời này bao gồm hai thời kỳ nhỏ là Xuân thu
1.2.3. Các trường phái triết học Trung Quốc cổ đại tiêu biểu
1.2.3.1 - Thuyết Âm – Dương, Ngũ hành :
Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ đại cho rằng, bản thân vũ trụ,
cũng như vạn vật trong nó, được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau của 2
thái cực (lực lượng) đối lập nhau là âm và dương. Nhưng hai thế lực Âm -
Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau.
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của
vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau,
tương sinh, tương khắc với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ.
Tóm lại, bằng lý luận Âm dương và lý luận Ngũ hành, Âm dương gia đã
đứng trên quan điểm duy vật chất phác để giải thích một cách máy móc sự phát
triển của thế giới. Chúng có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và
mục đích luận trong quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người. Ngoài ra, chúng
còn góp phần tạo nên cơ sở lý luận dẫn tới những phát minh về thiên văn, lịch
pháp, y học trong lịch sử Trung Hoa cổ trung đại.
1.2.3.2 - Nho gia :
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu, người
sáng lập là Khổng Tử (551 - 479 TCN). Nho gia nguyên thuỷ là triết lý của
Khổng Tử và Mạnh Tử về đạo làm người quân tử vá cách thức trở thành người
quân tử, cách cai trị đất nước. Đồng thời chứa đựng nhiều giá trị nhân bản và toát
lên tinh thần biện chứng sâu sắc. Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 13
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau:duy vật và
duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng-Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất
trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.
1.2.3.3 - Đạo gia :
Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI TCN), học thuyết
của ông được Dương Chu và Trang Chu thời chiến quốc hoàn thiện và phát triển
theo hai hướng ít nhiều khác nhau. Những tư tưởng triết học của Đạo gia được
CỔ ĐẠI
2.1. ĐÁNH GIÁ SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA HAI NỀN TRIẾT HỌC
2.1.1 Tư tưởng triết học chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã
hội
Triết học Hy Lạp cổ đại và Trung Quốc cổ đại cùng ra đời dựa trên những
thành tựu rực rỡ của các lĩnh vực văn hóa và khoa học tự nhiên, gắn bó mật thiết
với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm
xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất. Tuy
Hy Lạp cổ đại và Trung quốc cổ đại có điều kiện tự nhiên và lịch sử không giống
nhau nhưng tất cả điều ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sự phát triển của Triết
học.
Bên cạnh đó, cả hai nền Triết học này cùng ra đời trong bối cảnh xã hội có
sự phân chia giai cấp, địa vị xã hội ngày càng rõ nét.
2.1.2 Sự tương đồng khi nghiên cứu về con người, đạo đức nhân sinh quan,
đặt vai trò con người ở vị trí trung tâm.
Triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề con người, sự hình thành, bản
chất con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác
nhau về con người, quá trình đấu tranh giữa tri thức khoa học và tín ngưỡng, giữa
chủ nghĩa duy vật và duy tâm tôn giáo, họ cố lý giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn
và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ. Dù còn có nhiều bất
đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao
quý nhất của tạo hóa.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 16
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Triết học Trung Quốc cổ đại cũng bàn nhiều về vấn đề con người, đặc biệt
là nguồn gốc, số phận, bản tính… của con người, nhằm mang lại cho con người
một quan niệm nhân sinh vững chắc, giúp con người định hướng hoạt động trong
điều kiện xã hội phức tạp và đầy biến động. Để lại triết lý: nhân –nghĩa –trí –học,
tu thân –trị gia –tề quốc.
Nhìn chung triết học Trung Quốc cổ đại và triết học Hy lạp cổ đại đều coi
cai trị đất nước, chủ trương nhà cầm quyền không phải chú trọng nhiều đến việc
tu thân theo nghĩa là đặt ra luật pháp cho rõ ràng và ban bố cho mọi người cùng
biết để tuân theo nghiêm chỉnh.
2.2. ĐÁNH GIÁ SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI NỀN TRIẾT HỌC
2.2.1 Đối tương nghiên cứu:
Triết học Trung Quốc cổ đại nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ
giữa con người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc “thiên
nhân hợp nhất”. Lấy con người làm đối tượng nghiên cứu mang tính hướng nội.
Mạnh Tử thì cho rằng vũ trụ, vạn vật đều tồn tại trong ý thức chủ quan và trong ý
niệm đạo đức Trời phú cho con người. Ông đưa ra quan điểm “vạn vật đều có
đầy đủ trong ta”. Thiện Ung thì cho rằng: vũ trụ trong lòng ta, lòng ta là vũ trụ.
Đối với khuynh hướng duy vật thô sơ - kinh dịch thì biết đến cùng cái tính của
con người thì cũng có thể biết đến cái tính của vạn vật, trời đất: trời có chín
phương, con người có chín khiếu. Bát quái trong thuyết âm dương là: Càn –
khôn, chấn – tốn, cấn – đoài, khảm – ly tượng trưng cho 8 yếu tố vật chất tạo
thành vũ trụ đối lập nhau là: Trời – đất, sấm – gió, núi – hồ, nước – lửa; tượng
trưng cho quan hệ gia định: cha – mẹ, con trai cả – con trai giữa, con gái giữa –
con gái út, con trai út – con gái cả; tượng trưng cho tính khí con người: tính kiên
nghị - tính ghen tuông, tính phản trắc – tính lừng khừng, tính tháo vác – tính hay
chê, tính hay lo – tính hoạt bát…
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 18
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Đối với Triết học Hy Lạp cổ đại tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con
người là chủ thể, chúa tể để nghiên cứu chinh phục vũ trụ – thế giới khách quan.
Triết học Hy Lạp đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại.
Một số trường phái nếu có đề cập đến con người thì cũng chỉ thông qua đó để cố
giải thích thế giới. Pytago cho rằng bản nguyên thế giới là con số. Trật tự các con
số được quy định bởi trật tự của vạn vật, trong đời sống phải cố vạch ra trật tự
các con số từ trong trật tự của sự vật (trật tự những điều ác, điều thiện….) để
khám phá ra trật tự thần thánh. Điều ác nhất định sẽ xảy ra nếu người ta không
lại sai lầm, ảo giả, không thể khám phá ra bản chất đích thực của thế giới. Nhận
thức lý tính thông qua hoạt động trí óc khám phá ra bản chất đích thực của thế
giới – cái tồn tại, nghĩa là phát hiện ra chân lý. Platông cho rằng con người là sự
kết hợp giữa thể xác khả tử (được cấu thành từ đất, nước, lửa, không khí) và linh
hồn bất tử (được thượng đế tạo ra). Linh hồn con người bao gồm ba bộ phận:
cảm giác, ý chí và lý trí; trú ngụ tạm thời ở ba chổ trong cơ thể (từ rốn trở xuống,
trong lồng ngực, trong đầu óc) hoạt động theo ba khía cạnh (dục vọng, tình cảm,
nhận thức), thể hiện ba phẩm hạnh (điều độ, can đảm, khôn ngoan), trong đó chỉ
có lý trí là bất tử.
2.2.2 Quá trình hình thành và phát triển.
Triết học Trung Quốc cổ đại ít thấy có những bước nhảy vọt về chất có
tính vạch ra ở các thời điểm, mà chỉ là sự phát triển cục bộ, kế tiếp xen kẽ. Nội
dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đi sâu vào
từng chi tiết như: Nho tiền tần, Hán nho, Tống nho vẫn trên cơ sở nhân – lễ –
chính danh, nhưng có cải biên về một phương diện nào đó ví như Lễ thời tiền
Tần là cung kính, lễ phép, văn hoá, thời Hán biến thành tam cương ngũ thường,
đời Tống biến thành chữ Lý… Âm Dương Gia với lý luận âm dương là hai yếu
tố, hai khuynh hướng đối lập không tách rời nhau, ôm lấy nhau, xoắn vào nhau.
Đạo Gia thì cho rằng Đạo sinh ra vạn vật, nhờ đức mà thể hiện, khi mất đi là lúc
vạn vật quay về với Đạo. Đạo sinh ra Một – khí thống nhất, Một sinh ra Hai –
âm dương đối lập, Hai sinh ra Ba – trời, đất, người, Ba sinh ra vạn vật, như vậy
Âm Dương cũng được phát triển ở Đạo Gia với bản chất không đổi so với Âm
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 20
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Dương Gia nhưng nó được lý giải theo một chu trình khác, phát triển bên cạnh
nhiều yếu tố khác. Khổng Tử cho rằng vạn vật không ngừng biến hóa theo một
trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng của trật tự đó là thiên mệnh. Khổng
Tử cho rằng con người có tính người, tính người do trời phú. Khi đến Mặc Gia
thì yếu tố Trời hay ý trời được Mặc Tử phát triển thêm bên cạnh yếu tố Quỷ thần,
các yếu tố này luôn giám sát chặt chẽ mọi hành vi của con người để khen thưởng
tâm biện chứng, siêu hình không rõ nét. Sự phân chia chỉ xét về đại thể, còn đi
sâu vào những nội dung cụ thể thường là có mặt duy tâm có mặt duy vật, sơ kỳ là
duy vật, hậu kỳ là nhị nguyên hay duy tâm, thể hiện rõ thế giới quan thiếu nhất
quán, thiếu triệt để của triết học. Các trường phái triết học ít đấu tranh với nhau
mà có tính kế thừa nhau. Âm Dương gia xuất hiện đầu tiên thời nhà Thương với
lý luận âm dương và lý luận ngủ hành đứng trên quang điểm duy vật chất phát.
Nho Gia với Khổng Tử dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,
giữa chủ nghĩa vô thần và hữu thần. Duy vật: có chỗ ông coi sự biến đổi của trời
như là một quy luật, là trật tự của vạn vật: “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vẫn
thay đổi, muôn vật vẫn sinh ra”. Đứng bên bờ sông nhìn dòng nước chảy, Khổng
Tử tự hỏi: “Trôi chảy mãi thế ư? Ngày đêm không ngừng lại”. Duy tâm: Ông
cho trời là một lực lượng vô hình quyết định số phận của mỗi người và sự thịnh
sang của mỗi thời đại (Vua dân tế trời). Mỗi cá nhân sự sống chết, phú quý hay
nghèo hèn là do Thiên mệnh quy định, phú quý không thể cầu mà có được, do
vậy bất tất phải cầu. Tin ở Mệnh trời “Thiên mệnh”, sống chết có mệnh, giàu
sang tại trời. Sống theo mệnh trời, tuân theo mệnh trời thì sống, làm những điều
nhân điều thiện thì có thể biến nguy thành an. Trời như một vị thần có nhân cách,
mắc tội với trời thì cầu cũng vô ích. Mặc gia cho rằng, ý trời luôn muốn mọi
người yêu thương nhau, nhưng sự giàu – nghèo, thọ – yểu, hành phúc – bất
hạnh… lại là do nhân tạo, thuyết tam biểu cho rằng: cái gì lỗ tai, con mắt không
cảm thấy là không có. Muốn xác định cái gì đó đúng hay sai, cần phải xem nó có
cái gốc (căn cứ lịch sử) như thế nào, có cái nguồn (ý kiến của trăm họ) hay
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 22
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
không. Do coi thường nội dung khách quan của kinh nghiệm con người mà
thuyết tam biểu dựa trên quan điểm duy giác, từ bỏ duy vật đến với duy tâm và
cuối cùng rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm cực đoan. Đạo Gia với Lão Tử dùng
Đạo để giải thích thế giới, Đạo được hiểu như là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng,
mộc mạc, hỗn độn, mập mờ, thấp thoáng, không có đặt tính, không có hình thể,
Đao là nguồn gốc sinh ra vạn vật, là quy luật của mọi cái đã, đang và sẽ tồn tại.
tâm ngụy biện Xôcrát Platông (TKV-TKIV TCN), Xôcrát chú ý đến đạo đức học
duy lý. Ông cho rằng hiểu biết là cơ sở của điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của
cái ác, chỉ có cái thiện phổ biến mới là cơ sở của đạo đức. Platông với thuyết ý
niệm chia thế giới ra thành thế giới ý niệm (lý tính, tồn tại trên trời, mang tính
phổ biến, chân thực, tuyệt đối…) và thế giới sự vật (cảm tính, tồn tại dưới đất,
mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối…), Trường phái duy vật siêu hình Arixtốt
(TKIV TCN) với thuyết nguyên nhân và thuyết vận động, Arixtốt đã đứng trên
quan niệm duy vật tiến bộ phê phán thuyết ý niệm của Platông ông cũng không
ủng hộ quan điểm duy vật bàn về khởi nguyên vật chất của vũ trụ. Với thuyết
nguyên nhân Ông cho rằng tồn tại nói chung phải xuất phát từ 4 nguyên nhân cơ
bản: Vật chất (vật liệu), hình thức (hình dạng), vận động (thao tác) và mục đích
(cứu cánh). Trong đó, hình thức và vật chất giữ vai trò quan trọng nhất (nhị
nguyên luận), tuy nhiên, ông lại cho rằng hình thức có vai trò quyết định hơn vật
chất (nhất nguyên luận). Với thuyết vận động Ông cho rằng giới tự nhiên là toàn
bộ các sự vật, quá trình luôn vận động có liên hệ với nhau và được cấu thành từ
một bản thể vật chất. Vận động không thể bị tiêu diệt và cũng không thể tách ra
khỏi sự vật quá trình tự nhiên. Từ các giá trị mà Arixtốt đem lại cho nhân loại
ông trở thành người “khổng lồ” về tư tưởng, mở ra một chân trời khoa học mênh
mông cho phương Tây phát triển và lý trí Hy Lạp nảy nở.
2.2.4 Phương pháp nhận thức và thuật ngữ sử dụng.
Triết học Hy Lạp cổ đại dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vật
chất”. Triết học Trung Quốc cổ đại lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạo sắc, hình,
vạn pháp, hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Để nói về bản chất của
vũ trụ đặc biệt là khi bàn về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ thì Hy Lạp
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 24
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
dùng phạm trù khách thể – chủ thể; con người với tự nhiên, vật chất với ý thức,
tồn tại và tư duy. Triết học Trung Quốc cổ đại lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí –
khí, hình – thần. Trong đó hình thần là những phạm trù xuất hiện sớm và dùng
nhiều nhất.