TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 9:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
HỌC VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN
STT : 49
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 4
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 – K20
TP. Hồ Chí Minh, tháng 5/2011
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
DANH SÁCH NHÓM 4
STT Họ và Tên
49 Nguyễn Thị Bích Liên
50 Phan Hoài Linh
51 Trần Ngọc Linh
52 Đào Thị Bích Loan
53 Đào Mạnh Long
54 Trương Bảo Long
55 Đỗ Hữu Lộc
56 Nguyễn Văn Luận
57 Nguyễn Thanh Luận
58 Nguyễn Viết Mạnh
59 Trương Công Minh
60 Trương Quang Minh Nhóm trưởng
61 Đoàn Thị Minh
62 Trần Đăng Minh
63 Đoàn Thanh Nam
khoa học giúp con người nhận thức đúng và cải tạo Thế Giới, là tiền đề cho sự
phát triển văn minh nhân loại. Xét trên nhiều khía cạnh chúng ta thấy hai nền
Triết học này tuy hình thành ở những hoàn cảnh, vùng địa lý khác nhau và hình
thành những học thuyết Triết học khác nhau nhưng đồng thời cũng có những
điểm tương đồng không thể phủ nhận được.
Vì những lý do trên mà Nhóm 4 đã chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác
biệt giữa Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để tìm
hiểu và cũng để có cái nhìn sâu sắc hơn về hai nền Triết học này.
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp chúng ta hiểu lý
giải được nguồn gốc, quá trình và xu hướng phát triển của hai nền Triết học, hiểu
được lịch sử tư tưởng từ các học thuyết nổi tiếng của những nhà Triết học Hy lạp
và Trung Quốc thời bấy giờ cũng như sự tương quan giữa chúng.
Với mục đích như trên, nội dung đề tài được cô đọng trong 2 chương:
− Chương 1: Giới thiệu khái quát về Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết
học Trung Quốc cổ đại:
+ Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển
+ Các đặc điểm cơ bản
+ Các trường phái Triết học tiêu biểu
− Chương 2: Đánh giá và so sánh giữa 2 nền Triết học Hy Lạp cổ đại
và Trung Hoa cổ đại
+ Các đặc điểm tương đồng
+ Các điểm khác biệt
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 4
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHÁI
QUÁT VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.1 TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1.1 Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của Triết học Hy Lạp cổ đại
Hy Lạp cổ đại là một quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa, nhiều đồng bằng
trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ
xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự
nhiên sơ lược để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới.
Đặc điểm 4: Triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề con người, sự hình
thành, bản chất con người. Các nhà Triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan
niệm khác nhau về con người, quá trình đấu tranh giữa tri thức khoa học và tín
ngưỡng, giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm tôn giáo, họ cố lý giải vấn đề quan hệ
giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ. Dù còn
có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các Triết gia đều khẳng định con người là
tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
1.1.3 Các trường phái Triết học Hy Lạp tiêu biểu
1.1.3.1 Chủ Nghĩa Duy Vật
a) Trường phái Milê: xuất phát từ giai đoạn đầu hình thành, do 3 nhà Triết
học duy vật là Talét, Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng vào thế kỷ 6, TCN,
nhằm làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới. Talét chủ trương giải thích
giới tự nhiên không phải bằng niềm tin mà bằng sự kiện quan sát; ông kết luận:
Nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của vạn vật. Theo Anaximăngđrơ, apeiron
là nguồn gốc của vạn vật. Còn theo Anaximen, không khí có thể biến đổi thành
mọi thứ và tạo ra vạn vật. => duy vật giản đơn, chất phác, thô sơ; nhưng có ý
nghĩa vô thần, chống lại thế giới quan thần thoại hiện giờ.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 6
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
b) Trường phái Hêraclít : nổi trội nhất trong thời kỳ hình thành, do Hêraclít
xây dựng vào thế kỷ 6, TCN. Hêraclít coi bản nguyên của thế giới là lửa, vạn vật
đều từ lửa mà ra, rồi sau đó sẽ mất đi để quay về với lửa, nhưng tuỳ theo độ của
lửa mà vạn vật có thể chuyển hóa – thay đổi trạng thái. Hêraclít đã nêu lên các
phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Các
luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đều đã được ông đề cập đến dưới dạng
danh ngôn, tỷ dụ. Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của Triết học
Hêraclít vào kho tàng tư tưởng của nhân loại.
a) Trường phái Pytagore :
Là nhà Triết học, toán học uyên bác, ông cho rằng “con số” là bản nguyên
của thế giới, là bản chất của vạn vật. Thừa nhận sự bất tử và luân hồi của linh
hồn =>đặt nền móng ban đầu cho duy tâm cổ đại. Ông cũng bàn đến các mặt đối
lập của mọi sự vật hiện tượng, ông quy về mười cặp đối lập hữu hạn và vô
hạn. Mười cặp đối lập này chia làm bốn lĩnh vực là: toán học, vật lý, sinh học và
đạo đức. Đó là những mặt đối lập cơ bản của tự nhiên và xã hội.
b) Trường phái Êlê :
Xênôphan (Xénophane): cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối cùng trở
về đất. Đất là cơ sở của vạn vật. Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của muôn
loài. Ông cho rằng, “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của vạn
vật trong thế giới. “Tồn tại” là một phạm trù Triết học mang tính khái quát cao,
và nhận thức bởi tư duy, lý tính. Quan niệm “tồn tại”đánh dấu một giai đoạn mới
trong phát triển Triết học Hy Lạp cổ đại.
Pácmênít (Parménide): sự vật không ngừng biến đổi từ dạng này sang dạng
khác, chỉ khác nhau ở cách thức biểu hiện của sự tồn tại, và tồn tại không hề thay
đổi, đó cũng là bản chất của sự vật, được nhận thức bởi tư duy lý tính. Nhận thức
lý tính đòi hỏi con người phải dùng trí óc để khám phá nguồn gốc, bản chất của
thế giới.
Dênông (Zénon): bảo vệ trường phái Êlê. Ông đưa ra những apôri nghĩa là
tình trạng không có lối thoát hay nghịch lý. Thông qua chúng, ông chứng minh
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 8
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
rằng “tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến”. Còn tính phức tạp, đa dạng và
vận động của thế giới là không thực.
c) Trường phái duy tâm khách quan :
Xôcrát (Socrate): không nghiên cứu về giới tự nhiên, ông dành phần lớn
nghiên cứu về con người, đạo đức:“Con người hãy nhận thức về chính mình”.
Platông (Platon): nhà Triết học duy tâm khách quan: học thuyết về ý niệm, đưa ra
hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm. Nhận thức
nhà nhị nguyên luận.
1.2 TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.2.1 Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ đại
Trung Hoa là một đất nước rộng lớn thuộc vùng Đông Á. Trên lãnh thổ Trung
Hoa có hai con sông lớn chảy qua: sông Hoàng Hà ở phía bắc và sông Trường
Giang ở phía nam tạo nên hai miền Bắc Nam với nhiều khác biệt, nền kinh tế chủ
yếu là nông nghiệp, định canh, định cư.
Thời cổ đại của Trung Quốc bắt đầu từ vương triều nhà Hạ (~thế kỷ XXI - thế
kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ đặt nền móng, tồn tại tới thời vua Kiệt thì bị diệt vong.
Thời này, người Trung Quốc chỉ mới biết dùng đồng đỏ, thế giới quan thần thoại,
tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần. Những
tư tưởng Triết học đã xuất hiện; và trải qua 2 vương triều nhà Thương (còn gọi là
Ân, thế kỷ XVI - thế kỷ XII TCN) do Thành Thang thành lập, tồn tại tới thời vua
Trụ thì bị diệt vong. Thời này, người Trung Quốc sống định canh, định cư; biết
dùng đồng thau, khai khẩn ruộng đất và thực hiện đường lối tỉnh điền; ma thuật
được thay bằng tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên và thần xã – tắc; và Vương triều
nhà Chu (~thế kỷ XII - 221 TCN) do Văn Vương thành lập, tồn tại hơn 8 thế kỷ
trải qua thời Tây Chu đóng đô ở Cảo Kinh, trước 771 TCN và thời Đông Chu
đóng đô ở Lạc Ấp. Thời Tây Chu, đất nước Trung Quốc tương đối ổn định.
Nhưng sang thời Đông Chu, khi đồ sắt được dùng phổ biến, chế độ sở hữu tư
nhân về ruộng đất được hình thành thay thế cho chế độ ruộng đất tĩnh điền trước
đó đã làm nảy sinh một loạt những thế lực chính trị mới. Đó là tầng lớp địa chủ
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 10
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
mới đang lấn át và xung đột gay gắt với tầng lớp quý tộc cũ. Do vậy, xã hội rơi
vào tình trạng rối ren; các giá trị, chuẩn mực cộng đồng bị đảo lộn. Sự tranh
giành địa vị xã hội của các thế lực chính trị đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào
tình trạng chiến tranh khốc liệt. Thời này bao gồm hai thời kỳ nhỏ là Xuân thu
(722-481 TCN) và Chiến quốc (403-221 TCN). Thực trạng đó của xã hội làm
xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của những "kẻ sĩ" luôn tranh luận về
Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ đại cho rằng, bản thân vũ trụ,
cũng như vạn vật trong nó, được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau của 2
thái cực (lực lượng) đối lập nhau là âm và dương. Nhưng hai thế lực Âm -
Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau.
Tư tưởng Triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của
vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau,
tương sinh, tương khắc với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ.
Tóm lại, bằng lý luận Âm dương và lý luận Ngũ hành, Âm dương gia đã đứng
trên quan điểm duy vật chất phác để giải thích một cách máy móc sự phát triển
của thế giới. Chúng có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và mục
đích luận trong quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người. Ngoài ra, chúng còn
góp phần tạo nên cơ sở lý luận dẫn tới những phát minh về thiên văn, lịch pháp, y
học trong lịch sử Trung Hoa cổ trung đại.
1.2.3.2 Nho gia
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu, người
sáng lập là Khổng Tử (551 - 479 TCN). Nho gia nguyên thuỷ là Triết lý của
Khổng Tử và Mạnh Tử về đạo làm người quân tử vá cách thức trở thành người
quân tử, cách cai trị đất nước. Đồng thời chứa đựng nhiều giá trị nhân bản và toát
lên tinh thần biện chứng sâu sắc. Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh
Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau:duy vật và
duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng-Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất
trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 12
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
1.2.3.3 Đạo gia
Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI TCN), học thuyết của
ông được Dương Chu và Trang Chu thời chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo
hai hướng ít nhiều khác nhau. Những tư tưởng Triết học của Đạo gia được khảo
cứu chủ yếu qua Đạo Đức kinh và Nam hoa kinh. Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là
học thuyết về “Đạo” với những tư tưởng biện chứng, cùng với học thuyết “Vô
khía cạnh chúng ta thấy hai nền Triết học này có những điểm tương đồng sau:
2.1.1 Điều kiện ra đời và phát triển
Về điều kiện tự nhiên, cả Trung Quốc cổ đại và Hy Lạp cổ đại có những nét
tương đồng với nhau về lãnh thổ, đất đai, khí hậu.
Dựa trên điều kiện tự nhiên thuận lợi đó, hai quốc gia đã đạt được nhiều bước
phát triển trong lĩnh vực kinh tế - xã hội : xã hội bước vào thời kỳ chiếm hữu nô
lệ, xã hội xuất hiện đối kháng giai cấp, nông nghiệp phát triển mạnh, hình thành
các nhà nước – thị thành, bắt đầu xuất hiện sự đối lập giữa thành thị và nông thôn
tạo nên hoạt động mua bán trao đổi sôi động
Cả Hy Lạp cổ đại và Trung Quốc cổ đại đều có một lịch sử lâu đời và trải qua
nhiều thời kỳ phát triển.
Tuy xã hội trải qua nhiều giai đoạn biến động nhưng cả Trung Quốc cổ đại và
Hy Lạp cổ đại đều đạt được những thành tựu rực rỡ về văn hoá, khoa học kỹ
thuật, Triết học và trở thành một trong những cái nôi lớn của văn minh nhân loại
2.1.2 Đặc điểm của hai nền Triết học
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, cả hai nền Triết học đã có
sự xuất hiện của phép biện chứng duy vật chất phác
Thứ hai, tuy nội dung nghiên cứu chủ yếu của Triết học Hy Lạp cổ đại là về
giới tự nhiên và thế giới, nhưng Triết học Hy Lạp cũng nghiên cứu về con người.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 14
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Về phía mình, Triết học Trung Quốc cổ đại bên cạnh mối quan tâm về con người
và xã hội, cũng có đề cập tới vũ trụ và giới tự nhiên.
2.1.3 Quan niệm đối với bản thể luận hay nguồn gốc thế giới
Triết học Hy Lạp cổ đại cũng có điểm tưởng đồng với Triết học Trung Quốc
cổ đại về vấn đề bản nguyên của thế giới thể hiện ở quan điểm của Mạnh Tử và
của Sôcrát, mọi thứ đều do thượng đế(trời) sinh ra và an bài sẵn. Ngoài ra, nó còn
thể hiện ở tư tưởng của Đạo gia và Âm Dương gia cho rằng bản nguyên của thế
giới được hình thành từ vật chất : “Đạo” và “khí âm và khí dương”; điều này
tương đồng với quan điểm của trường phái Milê(Talet, Anaximen,
Đề cao giá trị đạo đức đối với con người, con người muốn hoàn thiện phải có
đạo đức.
Sống có đạo đức là làm điều thiện, sống đúng mực ôn hoà, không gây hại cho
mình và cho người.
2.1.8 Quan điểm về chính trị xã hội và xây dựng nhà nước
Xây dựng xã hội có sự phân biệt đẳng cấp
Phải sử dụng kết hợp với pháp luật trong cai trị xã hội
Cho rằng người quản lý nhà nước phải có tri thức
Xoá bỏ chế độ sỡ hữu tư nhân
Quản lý nhà nước phải mang lại hạnh phúc, no đủ cho dân
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 16
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
2.2 ĐÁNH GIÁ SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI NỀN TRIẾT HỌC
Bên cạnh những điểm chung, do đặc điểm văn hoá cũng như hoàn cảnh lịch
sử khác nhau nên sự thể hiện tư tưởng trong học thuyết Triết học Hy Lạp cổ đại
và Trung Hoa cổ đại cũng hình thành những đặc điểm riêng không giống nhau.
2.2.1 Điều kiện ra đời và phát triển
Thứ nhất, xã hội Hy Lạp cổ đại và Trung Quốc cổ đại đều là xã hội chiếm
hữu nô lệ. Nhưng ở Hy Lạp là sự đấu tranh giai cấp giữa địa chủ và nô lệ. Với xã
hội Trung Quốc cổ đại đó là sự đấu tranh giữa giai cấp địa chủ mới với tầng lớp
quý tộc cũ, làm tan rã dần chế độ chiếm hữu nô lệ gia trưởng, bắt đầu hình thành
quan hệ sản xuất phong kiến
Thứ hai, tư tưởng Triết học Trung Quốc có mầm mống từ thần thoại thời tam
đại (Hạ, Thương, Chu) với các biểu tượng như đế, thượng đế, quỷ thần…chúng
hoà quyện vào thế giới quan thần thoại – tôn giáo chi phối mạnh đời sống tinh
thần của người Trung Quốc. Còn tư tưởng Triết học Hy Lạp cổ đại là sự duy lý
hoá các hình tượng thần thoại thành các khái niệm, quá trình này dựa vào tri thức
khoa học mà Talet, Pitago và sau đó là các nhà khoa học tự nhiên xây dựng nên
Thứ ba, Triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với lịch sử ra đời của nền chính trị
Hy Lạp cổ đại và phản ánh lịch sử của đất nước này. Vì vậy, nó trải qua ba giai
Triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp
luận của giai cấp chủ nô thống. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật
tự xã hội, củng cố vai trò thống trị của mình. Giai cấp thống trị đã dùng Triết học
như một công cụ hữu hiệu trong việc củng cố và khẳng định vị trí đối với các tầng
lớp khác trong xã hội. Đối với Triết học Trung Quốc cổ đại, hầu hết các học
thuyết có xu hướng đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức
của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con người, xây dựng con người, xã hội
lý tưởng và con đường trị nước .
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 18
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Triết học Hy lạp có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường
phái duy vật – duy tâm, vô thần – hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính
trị - tư tưởng; trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của
Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của Platông . Về phía mình, trong các trào lưu, học
thuyết của Triết học Trung Quốc, thường có sự đan xen các yếu tố duy vật và duy
tâm, biện chứng và siêu hình. Cuộc đấu tranh giữa các chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa duy tâm không gay gắt, quyết liệt, không thành trận tuyến rạch ròi như
trong Triết học Hy Lạp.
Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp
mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như
một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Vì vậy,
các nhà Triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các
hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận Triết học. Triết học Trung Hoa cổ
đại có tính hệ thống được hình thành vào thời Đông Chu, phần lớn các nhà Triết
học đồng thời cũng là nhà chính trị và đạo đức
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các trường phái Triết học
Trung Hoa cổ đại không chỉ phê phán, xung đột nhau mà còn biết hấp thụ những
tư tưởng của nhau để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chính mình và chịu ảnh
hưởng ít nhiều bởi tư tưởng biện chứng trong kinh Dịch. Triết học Hy Lạp các
trường phái mới và cũ xuất hiện đồng thời, không kế thừa lẫn nhau, chỉ xung đột
Triết học Trung Quốc cổ đại nổi bật với tư duy nhận thức trực giác, tức là có
trong sự cảm nhận hay thể nghiệm. Còn Triết học Hy Lạp cổ đại nổi bật với nhận
thức theo chủ nghĩa duy giác.
Trong khi Triết học Hy Lạp cổ đại quan tâm tới việc tìm hiểu, làm rõ quá
trình nhận thức (từ nhận thức cảm tính đi tới nhận thức lý tính), nguồn gốc của
nhận thức ( từ hiện thực khách quan – duy vật hay từ linh hồn bất tử, thế giới ý
niệm – duy tâm) để từ đó xây dựng phương pháp nhận thức, mở rộng hiểu biết
của con người về các lĩnh vực khoa học, logic học, văn hoá, nghệ thuật…thì Triết
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 20
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
học Trung Quốc cổ đại lại thể hiện mối quan tâm về nhận thức trong lĩnh vực con
người, giáo dục, đạo đức, chính trị xã hội.
Triết học Hy Lạp ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn Trung Quốc thì
ngả về dùng trực giác.
Cái mạnh của Hy Lạp là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát
triển và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Hy Lạp
đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật của
toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao
hơn cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng
thể.
Triết học Trung Quốc ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự
hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được
cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược
điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải
lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây
nói về thiên hướng.
Triết học Hy Lạp có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho
khách quan còn Triết học Trung Quốc lại cho rằng người nhận thức và đối tượng
nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức
sẽ dễ dàng.
Ở Trung Quốc người ta đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ người với
người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt sinh vật của con người, chỉ
nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai cấp thống trị cho
nên nghiên cứu con người không phải là để giải phóng con người mà là để cai trị
con người, không thấy quan hệ giữa người với người trong lao động sản xuất.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 22
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Ở Hy Lạp lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề cao cái tự nhiên –
mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức,
không chú ý đến nguyên nhân kinh tế - xã hội, cái gốc để giải phóng con người.
2.2.7 Quan điểm về đạo đức
Triết học Trung Quốc cổ đại đề ra các tiêu chuẩn của đạo đức, còn Triết học
Hy Lạp cổ đại chưa đề ra các tiêu chuẩn đạo đức
Triết học Hy Lap cổ đại có quan niệm con người sống hạnh phúc là sống có
đạo đức. Mà con người chỉ sống hạnh phúc trong thế giới ý niệm, tức là không có
hạnh phúc dưới trần gian. Triết học Trung Quốc không có quan điểm này
Trong Triết học Hy Lạp cổ đại, Socrat có quan niệm đồng nhất sự hiểu biết
với đạo đức. Còn Triết học Trung Quốc cổ đại lại cho rằng muốn có đạo đức
ngoài việc tuân thủ nhân, lễ, nghĩa thì còn phải có trí (tức là có sự hiểu biết).
Trong khi Lão Tử chủ trương vô vi để có đạo đức, tuân theo quy luật tự nhiên
thì Epiquya lại phát triển đạo đức theo hướng cá nhân
2.2.8 Quan điểm về chính trị xã hội và xây dựng nhà nước
Hy lạp là nhà nước của giai cấp chủ nô, còn trung quốc là nhà nước của giai
cấp quý tộc, giai cấp địa chủ phong kiến
Trung Quốc đề cao nhà nước đức trị, nhân trị.
Trung Quốc xem trọng dân, bao gồm mọi tầng lớp. Hy Lạp không xem nô lệ
là con người, chỉ quan tâm tới giai cấp chủ nô
Mô hình xã hội lý tưởng của Khổng Tử đối lập với Platong
Nếu như ở Hy Lạp, Triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học,
gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở Trung
Lạp ở 3 mảng:
Về bản thể luận: phương tây dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vật
chất”. Còn ở Trung Quốc lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạo sắc, hình,vạn pháp,…
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 24
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ… Để nói về bản chất của vũ trụ đặc
biệt là khi bàn về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ thì Hy Lạp dùng phạm trù
khách thể - chủ thể; con người với tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư duy.
Còn Trung Quốc lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần. Trong đó
hình thần là những phạm trù xuất hiện sớm và dùng nhiều nhất.
Nói về tính chất, sự biến đổi của thế giới; Hy Lạp dúng thuật ngữ “ biện
chứng” siêu hình, thuộc tính, vận động, đứng im nhưng lấy cái đấu tranh, cái
động là chính. Đồi với Trung Quốc dùng thuật ngữ động – tính, biến dịch, vô
thường, thường còn, vô ngã và lấy cái thống nhất, lấy cái tĩnh làm gốc là vì Triết
học Trung Quốc được xây dựng trên quan điểm vũ trụ là một, phải mang tính nhịp
điệu.
Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thì Hy Lạp
dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ”, “quy luật”. Còn Trung Quốc dùng thuật ngữ
“đạo”, “lý”, “mệnh”, “thần”, cũng xuất phát từ thế giới quan thiên nhiên hợp nhất
nên tất cả phải mang tính nhịp điệu, tính quy luật, tính xoắn ốc của vũ trụ như thái
cực đến lưỡng nghi… Có nhịp điệu là hài hòa âm dương, còn vũ trụ là tập hợp
khổng lồ các xoắn ốc…
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 25