TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI - Pdf 24




TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài 9 
 
!"#
$%#
& !'"(
%) *+
, ,-
". &/012
&.34 56


789:;*<12//
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
3,-
STT Họ tên
49 Nguyễn Thị Bích Liên
50 Phan Hoài Linh
51 Trần Ngọc Linh
52 Đào Thị Bích Loan
53 Đào Mạnh Long
54 Trương Bảo Long
55 Đỗ Hữu Lộc
56 Nguyễn Văn Luận
57 Nguyễn Thanh Luận
58 Nguyễn Viết Mạnh
59 Trương Công Minh
60 Trương Quang Minh Nhóm trưởng

">?
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử khoảng 3000 năm. Sự phát
triển những tư tưởng Triết học của nhân loại là một quá trình lâu dài, đa dạng nhiều
trường phái, phát triển và ảnh hưởng khác nhau theo từng khu vực địa lý. Đặc biệt
ảnh hưởng sâu sắc đến nền Triết học Thế Giới là hai nền Triết học: Hy Lạp cổ đại và
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 3
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Trung Quốc cổ đại. Đây là hai nền Triết học đặt nền móng cho nền văn minh Thế
Giới.
Nền Triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp
xướng của Triết học Phương Tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên tiềm tàng của
Triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống Triết học Phương Tây sau này.
Chính vì vậy F. Enghen đã khẳng định: “ Không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế
quốc La Mã thì tuyệt nhiên không có Châu Âu hiện đại”.
Bên cạnh đó, khi xem xét đến văn minh Châu Á phải kể đến văn minh Trung Quốc.
Có thể nói văn minh Trung Quốc là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại,
là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết Triết học lớn có ảnh hưởng lớn đến nền văn minh
Châu Á cũng như toàn Thế Giới. Xét về lịch sử phát triển và phạm vi ảnh hưởng của
Triết hoc cổ đại Trung Quốc chúng ta cũng có thể nói: “ Nếu không có Triết học
Trung Quốc cổ đại thì không có Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á ngày
nay”.
Sự ra đời và phát triển của hai nền Triết học này có ảnh hưởng hết sức to lớn đến đến
nhân loại, là cội nguồn của nền Triết học vĩ đại ngày nay. Nó đã trở thành Thế Giới
quan và phương pháp luận khoa học, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp
con người nhận thức đúng và cải tạo Thế Giới, là tiền đề cho sự phát triển văn minh
nhân loại.Xét trên nhiều khía cạnh chúng ta thấy hai nền Triết học này tuy hình thành
ở những hoàn cảnh, vùng địa lý khác nhau hình thành những học thuyết Triết học
khác nhau nhưng đồng thời cũng có những điểm tương đồng không thể phủ nhận
được.
Vì những lí do trên mà nhóm 4 đã chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác biệt giữa

cũng cố. Xu hướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ đã thể hiện ngày càng rõ nét.
Về nguồn gốc, từ sự phát triển về kinh tế, xã hội mạnh mẽ đã phân hóa ra làm hai giai
cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ, hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ. Từ thế kỷ XI
đến IX trước CN, xã hội biến động lớn chia thành 2 loại người: được chia nhiều đất
(Policler) và loại ít, không có đất canh tác (Acler). Lao động bị phân hóa, đề cao lao
động trí óc, coi thường lao động chân tay, điều này thúc đẩy sự hình thành của tầng lớp
tri thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận để ra đời nghiên cứu triết học
và khoa học và phát triển mạnh mẽ.
Vào thế kỷ V trước CN, đất nước bị chia phân thành nhiều nước nhỏ (300 quốc gia) –
thành bang. Trong đó, Sparte và Athen là hai thành bang cổ hùng mạnh nhất, do sự
tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến hành cuộc chiến tranh
khốc liệt kéo dài hàng chục năm, sau đó là các cuộc khởi nghĩa của giai cấp nô lệ và
cuối cùng bị La Mã chinh phục.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 6
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
//1 8]:;P^KPDV_K`ab:KWOUNDXU8YKZ"[TK\P[D
Đặc đểm 1: Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô
thống trị. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự XH, củng cố vai trò thống
trị và khẳng định vị trí cấp cao. Triết học Hy lạp có sự phân chia và đối lập rõ ràng
giữa các trào lưu, trường phái duy vật – duy tâm, vô thần – hữu thần, gắn liền với cuộc
đấu tranh chính trị - tư tưởng.
Đặc điểm 2: Xuất hiện phép biện chứng chất phác, duy vật sơ khai. Các nhà triết học
Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh”, họ nghiên cứu và sử dụng phép
biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, tìm ra chân lý, bảo vệ quan điểm của
mình, nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống chặt chẽ.
Đặc điểm 3: Do những nhà triết học của Hy Lạp đồng thời cũng là nhà khoa học tự
nhiên, nên họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết
học, chứa đựng hầu hết các vấn đề cơ bản của thế giới quan. Do trình độ tư duy lý luận
còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi
sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên sơ lược để dựng nên bức tranh

loại lực là: tình yêu và hận thù, vũ trụ luôn vận động trải qua 4 giai đoạn.
Anaxago cho rằng vạn vật phải được sinh ra từ các hạt giống – cái bảo tồn và phát triển
tính chất của sự vật cùng loại. Hạt giống cực nhỏ và có thể phân chia đến vô tận. Mỗi
sự vật vật chất chứa đựng trong mình mọi hạt giống của các sự vật khác nhưng nó chỉ
bị quy định bởi tính chất hạt giống của chính nó, mang tính duy vật. Nus –linh hồn của
thế giới, là động lực làm các hạt giống nẩy nở, thay thế nhau. Nus đưa thế giới thoát ra
khỏi sự hỗn độn để đi vào quá trình biến hóa của mình, và qua đó nhận thức bản thân
thế giới, quay về duy tâm.
jhNdQ:;T89D:;FZe:UMIFg:
Do Lơxíp xây dựng và Đêmôcrít hoàn thiện dựa trên thuyết nguyên tử (2 thực thể
nguyên tử và chân không tụ lại tạo thành vật chất): là một hệ thống quan điểm duy vật
đầy đủ, nhất quán. Ông có quan điểm về nhận thức bao gồm cảm tính và lý tính, coi
trọng lý tính sáng suốt, coi nhẹ cảm tính từ giác quan. Đem lại các phương pháp nhận
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 8
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
thức logic như qui nạp, so sánh, giả thuyết, định nghĩa. Ngoài ra, theo ông đạo đức là:
Hiểu biết là cơ sở của đạo đức. Sống có đạo đức là sống đúng mực, ôn hòa, không hại
mình, không hại người. Hạnh phúc là trạng thái mà trong đó con người sống hưởng lạc
với tâm hồn thanh thản.
//c18W;8fO3FZk_
Oh NdQ:;T89DZUO;lNm
Pytagore là nhà triết học, toán học uyên bác, ông cho rằng “con số” là bản nguyên của
thế giới, là bản chất của vạn vật, một vật tương ứng với một con số nhất định, con số
có trước vạn vật. Thừa nhận sự bất tử và luân hồi của linh hồn, đặt nền móng ban đầu
cho duy tâm cổ đại. Ông cũng bàn đến các mặt đối lập của mọi sự vật hiện tượng, ông
quy về mười cặp đối lập hữu hạn và vô hạn, chẳn và lẻ, đơn và đa, phải và trái, nam
và nữ, động và tĩnh, thẳng và cong, sáng và tối, tốt và xấu, tứ giác và đa diện. Mười
cặp đối lập này chia làm bốn lĩnh vực là: toán học, vật lý, sinh học và đạo đức. Đó là
những mặt đối lập cơ bản của tự nhiên và xã hội.
ah NdQ:;T89D&Ie

hồi tương) và tri thức mờ nhạt (nhận thức cảm tính, lẫn lộn, không có chân lý).
//cc8W;8fO8J;FZe:
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Socrat,
Platôn là Triết gia Aristote học trò xuất sắc của Platôn. Cống hiến nổi bật của Aristote
là ông đã phê phán một cách cặn kẽ học thuyết về ý niệm của Platôn – thiên về thế giới
bên kia không có lợi cho người. Ông công nhận tự nhiên tồn tại khách quan (tác phẩm
‘Các phạm trù’, cách hỏi vì sao, cái gì), đã đặt nền móng cho khoa học lôgíc thời cổ
đại, tam đoạn luận, vật lý học, duy vật trong tự nhiên; mặt khác ông lại chủ trương
hình thức là bản chất của mọi sự vật, mà hình thức của mọi hình thức là tư duy, lý tính,
suy nghĩ, thượng đế – thuyết nguyên nhân, không có linh hồn bất tử nhưng có linh hồn
lý tính bất diệt - tinh thần quyết định vật chất. Nhưng do hạn chế lịch sử và xuất thân là
nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô, quý tộc nên về mặt chính trị ông chỉ bảo vệ lợi ích
cho tầng lớp này, bảo vệ tầng lớp trung lưu, khinh miệt nô lệ.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 10
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
/1 $%#
/1/DEFGDH:IJK8LMNOPQDRST89UUNDV:KWOUNDXU8YKNF:;$FtKK\P[D
Thời cổ đại của Trung Quốc bắt đầu từ vương triều nhà Hạ, và trải qua 2 vương triều
nhà Thương và nhà Chu.
Vương triều Hạ (~thế kỷ XXI - thế kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ đặt nền móng, tồn tại tới
thời vua Kiệt thì bị diệt vong. Thời này, người Trung Quốc chỉ mới biết dùng đồng đỏ,
chữ viết chưa có. Trong thời kỳ này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa
duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần. Những tư tưởng triết học đã xuất
hiện, nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống.
Vương triều Thương (còn gọi là Ân, thế kỷ XVI - thế kỷ XII TCN) do Thành Thang
thành lập, tồn tại tới thời vua Trụ thì bị diệt vong. Thời này, người Trung Quốc sống
định canh, định cư; biết dùng đồng thau, khai khẩn ruộng đất và thực hiện đường lối
tỉnh điền; ma thuật được thay bằng tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên và thần xã – tắc; ý
tưởng về lực lượng siêu nhiên hình thành qua biểu tượng Đế (Thượng đế hay Trời).
Vương triều Chu (~thế kỷ XII - 221 TCN) do Văn Vương thành lập, tồn tại hơn 8 thế

vấn đề mang tính xuất phát và xuyên suốt qua toàn bộ nền triết học này.
Bốn là, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các trường phái triết học Trung
Quốc cổ đại không chỉ phê phán, xung đột nhau mà còn biết hấp thụ những tư tưởng
của nhau để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chính mình.
/1c9KUNdQ:;T89DUNDXU8YKNF:;$FtKK\P[DUDeFaDVF
1.2.3.1 Thuyết Âm - Dương
Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ đại cho rằng, bản thân vũ trụ, cũng như
vạn vật trong nó, được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau của 2 thái cực (lực
lượng) đối lập nhau là âm và dương. Nhưng hai thế lực Âm - Dương không tồn tại biệt
lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau.
/1c1Tư tưởng triết học về Ngũ hành
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của vạn vật và
quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, những tương tác
(tương sinh, tương khắc) với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 12
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh
- khắc với nhau.
Đến thời Tây Hán, quan niệm về Âm dương – Ngũ hành đã được Đổng Trọng Thư
phát triển theo tinh thần Nho giáo và lợi ích chính trị của giai cấp phong kiến mới
giành lấy vai trò thống trị xã hội Trung Quốc. Nhờ vậy mà cả Nho giáo lẫn các quan
niệm về Âm dương - Ngũ hành đã có điều kiện chính trị thuận lợi để ảnh hưởng lâu dài
trong nền triết học Trung Quốc.
1.2.3.3 Nho gia (thường gọi là Nho giáo)
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là
Khổng Tử (551 - 479 TCN). Ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn
luôn tự vận động, biến hóa không phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời. “Trời có nói gì
đâu mà bốn mùa vận hành, vạn vật sinh hóa mãi mãi” (Luận ngữ, Dương Hóa, 18);
hay “cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không
nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn, 16). Mặt khác, ông lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi

củng cố chế độ chuyên chế thời Chiến quốc. Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc
mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ công xã gia trưởng truyền thống
và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời. Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi
Tử (280 - 233 TCN).
Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và thuật, trong
đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để thực hiện
chính sách đó.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 14
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 15
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 27 
1@!"#C
$%#
1/$uuB
Triết học Trung Quốc cổ đại ít thấy có những bước nhảy vọt về chất có tính vạch ra ở
các thời điểm, mà chỉ là sự phát triển cục bộ, kế tiếp xen kẽ. Nội dung có phát triển
nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đi sâu vào từng chi tiết như: Nho tiền
tần, Hán nho, Tống nho vẫn trên cơ sở nhân – lễ – chính danh, nhưng có cải biên về
một phương diện nào đó ví như Lễ thời tiền Tần là cung kính, lễ phép, văn hoá, thời
Hán biến thành tam cương ngũ thường, đời Tống biến thành chữ Lý… Âm Dương
Gia với lý luận âm dương là hai yếu tố, hai khuynh hướng đối lập không tách rời
nhau, ôm lấy nhau, xoắn vào nhau. Đạo Gia thì cho rằng Đạo sinh ra vạn vật, nhờ
đức mà thể hiện, khi mất đi là lúc vạn vật quay về với Đạo. Đạo sinh ra Một – khí
thống nhất, Một sinh ra Hai – âm dương đối lập, Hai sinh ra Ba – trời, đất, người, Ba
sinh ra vạn vật, như vậy Âm Dương cũng được phát triển ở Đạo Gia với bản chất
không đổi so với Âm Dương Gia nhưng nó được lý giải theo một chu trình khác, phát
triển bên cạnh nhiều yếu tố khác. Khổng Tử cho rằng vạn vật không ngừng biến hóa
theo một trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng của trật tự đó là thiên mệnh.
Khổng Tử cho rằng con người có tính người, tính người do trời phú. Khi đến Mặc

nội dung cụ thể thường là có mặt duy tâm có mặt duy vật, sơ kỳ là duy vật, hậu kỳ là
nhị nguyên hay duy tâm, thể hiện rõ thế giới quan thiếu nhất quán, thiếu triệt để của
triết học. Các trường phái triết học ít đấu tranh với nhau mà có tính kế thừa nhau. Âm
Dương gia xuất hiện đầu tiên thời nhà Thương với lý luận âm dương và lý luận ngủ
hành đứng trên quang điểm duy vật chất phát. Nho Gia với Khổng Tử dao động giữa
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa chủ nghĩa vô thần và hữu thần. 3FZ
RgU có chỗ ông coi sự biến đổi của trời như là một quy luật, là trật tự của vạn vật:
“Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vẫn thay đổi, muôn vật vẫn sinh ra”
(1)
. Đứng bên bờ
sông nhìn dòng nước chảy, Khổng Tử tự hỏi: “Trôi chảy mãi thế ư? Ngày đêm không
ngừng lại”
(2)
. 3FZUk_Ông cho trời là một lực lượng vô hình quyết định số phận
của mỗi người và sự thịnh sang của mỗi thời đại (Vua dân tế trời). Mỗi cá nhân sự
sống chết, phú quý hay nghèo hèn là do Thiên mệnh quy định, phú quý không thể cầu
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 17
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
mà có được, do vậy bất tất phải cầu. Tin ở Mệnh trời v8De:_H:8w7sống chết có
mệnh, giàu sang tại trời. Sống theo mệnh trời, tuân theo mệnh trời thì sống, làm
những điều nhân điều thiện thì có thể biến nguy thành an. Trời như một vị thần có
nhân cách, mắc tội với trời thì cầu cũng vô ích. Mặc gia cho rằng, ý trời luôn muốn
mọi người yêu thương nhau, nhưng sự giàu – nghèo, thọ – yểu, hành phúc – bất
hạnh… lại là do nhân tạo, thuyết tam biểu cho rằng: cái gì lỗ tai, con mắt không cảm
thấy là không có. Muốn xác định cái gì đó đúng hay sai, cần phải xem nó có cái gốc
(căn cứ lịch sử) như thế nào, có cái nguồn (ý kiến của trăm họ) hay không. Do coi
thường nội dung khách quan của kinh nghiệm con người mà thuyết tam biểu dựa trên
quan điểm duy giác, từ bỏ duy vật đến với duy tâm và cuối cùng rơi vào chủ nghĩa
kinh nghiệm cực đoan. Đạo Gia với Lão Tử dùng Đạo để giải thích thế giới, Đạo
được hiểu như là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng, mộc mạc, hỗn độn, mập mờ, thấp

Đêmôcrít (TKVI-TKV TCN), Lơxíp cho rằng cái tồn tại (nguyên tử) cái không tồn
tại (chân không) cũng tồn tại, nguyên tử và chân không là khởi nguyên của thế giới.
Nguyên tử là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy, không phân chia được,
không biến đổi, luôn vận động và tồn tại vĩnh viễn, sự kết hợp các nguyên tử tạo
thành sự vật trong thế giới. Chân không (không gian trống rỗng) không có kích thước
hình dạng, vô tận và duy nhất. Nguyên tử vận động trong chân không theo luật nhân
quả. Trường phái duy tâm ngụy biện Xôcrát Platông (TKV-TKIV TCN), Xôcrát chú
ý đến đạo đức học duy lý. Ông cho rằng hiểu biết là cơ sở của điều thiện, ngu dốt là
cội nguồn của cái ác, chỉ có cái thiện phổ biến mới là cơ sở của đạo đức. Platông với
thuyết ý niệm chia thế giới ra thành thế giới ý niệm (lý tính, tồn tại trên trời, mang
tính phổ biến, chân thực, tuyệt đối…) và thế giới sự vật (cảm tính, tồn tại dưới đất,
mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối…), Trường phái duy vật siêu hình Arixtốt (TKIV
TCN) với thuyết nguyên nhân và thuyết vận động, Arixtốt đã đứng trên quan niệm
duy vật tiến bộ phê phán thuyết ý niệm của Platông ông cũng không ủng hộ quan
điểm duy vật bàn về khởi nguyên vật chất của vũ trụ. Với thuyết nguyên nhân Ông
cho rằng tồn tại nói chung phải xuất phát từ 4 nguyên nhân cơ bản: Vật chất (vật
liệu), hình thức (hình dạng), vận động (thao tác) và mục đích (cứu cánh). Trong đó,
hình thức và vật chất giữ vai trò quan trọng nhất (nhị nguyên luận), tuy nhiên, ông lại
cho rằng hình thức có vai trò quyết định hơn vật chất (nhất nguyên luận). Với thuyết
vận động Ông cho rằng giới tự nhiên là toàn bộ các sự vật, quá trình luôn vận động
có liên hệ với nhau và được cấu thành từ một bản thể vật chất. Vận động không thể bị
tiêu diệt và cũng không thể tách ra khỏi sự vật quá trình tự nhiên. Từ các giá trị mà
Arixtốt đem lại cho nhân loại ông trở thành người “khổng lồ” về tư tưởng, mở ra
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 19
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
một chân trời khoa học mênh mông cho phương Tây phát triển và lý trí Hy Lạp nảy
nở.
11$@()
Cả hai nền triết học Hy Lạp cổ đại và Trung Quốc cổ đại đều cho rằng khả năng nhận
thức là sẵn có ở con người, xuất phát từ bên trong con người bao gồm nhận thức cảm

người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc “thiên nhân hợp
nhất”. Lấy con người làm đối tượng nghiên cứu mang tính hướng nội. Mạnh Tử thì
cho rằng vũ trụ, vạn vật đều tồn tại trong ý thức chủ quan và trong ý niệm đạo đức
Trời phú cho con người. Ông đưa ra quan điểm “vạn vật đều có đầy đủ trong ta”.
Thiện Ung thì cho rằng: vũ trụ trong lòng ta, lòng ta là vũ trụ. Đối với khuynh hướng
duy vật thô sơ - kinh dịch thì biết đến cùng cái tính của con người thì cũng có thể biết
đến cái tính của vạn vật, trời đất: trời có chín phương, con người có chín khiếu. Bát
quái trong thuyết âm dương là: Càn – khôn, chấn – tốn, cấn – đoài, khảm – ly tượng
trưng cho 8 yếu tố vật chất tạo thành vũ trụ đối lập nhau là: Trời – đất, sấm – gió, núi
– hồ, nước – lửa; tượng trưng cho quan hệ gia định: cha – mẹ, con trai cả – con trai
giữa, con gái giữa – con gái út, con trai út – con gái cả; tượng trưng cho tính khí con
người: tính kiên nghị - tính ghen tuông, tính phản trắc – tính lừng khừng, tính tháo
vác – tính hay chê, tính hay lo – tính hoạt bát…
Đối với Triết học Hy Lạp cổ đại tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ
thể, chúa tể để nghiên cứu chinh phục vũ trụ – thế giới khách quan. Triết học Hy Lạp
đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại. Một số trường phái
nếu có đề cập đến con người thì cũng chỉ thông qua đó để cố giải thích thế giới.
Pytago cho rằng bản nguyên thế giới là con số. Trật tự các con số được quy định bởi
trật tự của vạn vật, trong đời sống phải cố vạch ra trật tự các con số từ trong trật tự
của sự vật (trật tự những điều ác, điều thiện….) để khám phá ra trật tự thần thánh.
Điều ác nhất định sẽ xảy ra nếu người ta không hiểu đúng và làm theo trật tự thần
thánh. Trường phái ÊLê, Xênôphan cho rằng không phải thần thánh sáng tạo ra con
người, mà chính con người sáng tạo ra các vị thần theo trí tưởng tượng và hình tượng
của mình “Nếu như bò, ngựa và sư tử có tay và biết vẽ hay biết nặng tượng như con
người thì chúng sẽ căn cứ vào bản thân mình để vẽ hoặc nặng ra tượng về Thượng đế
giống như mình để tôn thờ…”
(4)
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 21
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Triết học Trung Quốc cổ đại đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ người với người

Linh hồn con người bao gồm ba bộ phận: cảm giác, ý chí và lý trí; trú ngụ tạm thời ở
ba chổ trong cơ thể (từ rốn trở xuống, trong lồng ngực, trong đầu óc) hoạt động theo
ba khía cạnh (dục vọng, tình cảm, nhận thức), thể hiện ba phẩm hạnh (điều độ, can
đảm, khôn ngoan), trong đó chỉ có lý trí là bất tử.
Nhìn chung triết học Trung Quốc cổ đại và triết học Hy lạp cổ đại đều coi trọng vấn
đề con người. Con người được xem là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
1-$@yz0n{|
Triết học Trung Quốc cổ đại và Triết học Hy Lạp cổ đại phần lớn đều phát triển dựa
trên tinh thần đề cao, bảo vệ giai cấp thống trị đang tồn tại lúc bấy giờ. Đềmôcrít
luôn xuất phát từ quan điểm duy vật để bảo vệ quyền lợi của tần lớp chủ nô. Theo
ông, chế độ dân chủ chủ nô phải gắn liền với nền thương mại và sản xuất thủ công,
nhưng nó củng phải gắn liền với tình thân ái, với tính ôn hòa và lợi ích chung của
công dân tự do, chứ không phải của nô lệ. Nô lệ cần phải tuân theo mệnh lệnh của
ông chủ. Platông cho rằng có ba bộ phận cấu thành linh hồn con người cảm giác, ý
chí và lý trí nên trong xã hội có 3 loại người. Loại thứ nhất bao gồm các triết gia –
những người mà bộ phận lý trí trong linh hồn đóng vai trò chủ đạo. Loại thứ hai bao
gồm các chiến binh – những người mà bộ phận ý chí trong linh hồn họ đóng vai trò
chủ đạo. Loại thứ ba bao gồm nông dân, thợ thủ công, thương gia… những người mà
bộ phận cảm xúc trong linh hồn đóng vai trò chủ đạo. Nô lệ không được coi là con
người mà là động vật biết nói, do không có lý trí nên nô lệ không có nhận thức,
không có đời sống đạo đức nên nằm ngoài vòng chính trị. Arixtốt cho rằng sứ mạng
của nhà nước là đảm bảo cho mọi người trong cộng đồng một cuộc sống hành phúc,
mức độ phúc lợi xã hội ngày càng cao nhưng ngoại trừ nô lệ bởi vì nô lệ không phải
là con người mà chỉ là công cụ sống biết nói. Nho Giáo với quan niệm tam cương:
quân - thần, phụ - tử, phu – phụ trong đó mối quan hệ quân - thần quan trọng nhất
“Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung”, nho giáo chủ trương xây dựng xã hội đại
đồng dựa trên các quan hệ kinh tế - xã hội, không xuất phát từ sản xuất vật chất,
không dựa vào quần chúng nhân dân bị trị, chỉ dựa trên các quan hệ đạo đức – chính
trị - xã hội xuất phát từ việc giáo dục, rèn luyện nhân cách cá nhân cho tầng lớp
thống trị. Pháp gia chủ trương lấy pháp luật làm căn bản trong việc cai trị đất nước,

– chủ thể; con người với tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư duy. Còn phương
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 24
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Đông lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần. Trong đó hình thần là
những phạm trù xuất hiện sớm và dùng nhiều nhất.
1~( •3=
Triết học Hy Lạp cổ đại dùng thuật ngữ “biện chứng” siêu hình, thuộc tính, vận động,
đứng im nhưng lấy cái đấu tranh cái động là chính. Đối với triết học Trung Quốc cổ
đại dùng thuật ngữ động – tĩnh, biến dịch, vô thường, thường còn, vô ngã và lấy cái
thống nhất, lấy cái tĩnh làm gốc là vì triết học Trung Quốc được xây dựng trên quan
điểm vũ trụ là một, phải mang tính nhịp điệu.
Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thì Triết học Hy
Lạp cổ đại dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ” “quy luật”. Còn Triết học Trung
Quốc cổ đại dùng thuật ngữ “đạo” “lý” “mệnh” “thần”, cũng xuất phát từ thế giới
quan thiên nhân hợp nhất nên tất cả phải mang tính nhịp điệu, tính quy luật, tính xoắn
ốc của vũ trụ như thái cực đến lưỡng nghi Có nhịp điệu là hài hoà âm dương, còn
vũ trụ là tập hợp khổng lồ các xoắn ốc
1€3!
Tuy cả hai dòng triết học Trung Quốc cổ đại và Hy Lạp cổ đại đều nhằm giải quyết
vấn đề cơ bản của triết học nhưng Hy lạp nặng về giải quyết mặt thứ nhất (vấn đề vật
chất). Các nhà triết học Hy lạp chú tâm nghiên cứu giải thích nguồn gốc vật chất của
thế giới (nước, lửa, không khí, nguyên tử…) mà ít chú trọng đến mặc ý thức của con
người. Ngược lại ở Trung Quốc nặng về giải quyết mặt thứ hai (vấn đề ý thức). Các
nhà triết học Trung Quốc chủ yếu quan tâm đến mặt ý thức của con người đề cập đến
các mối quan hệ xã hội, xây dựng, lý giải các mối quan hệ (vua tôi, chồng vợ, cha
con, anh em, bạn bè) và cũng cố nó bằng các chuẩn mực (nhân, lễ, nghĩa, trí, tính,
trung hiếu…), cho nên dẫn đến hai phương pháp tư duy khác nhau.
Triết học Hy Lạp đi từ cụ thể đến khái quát cho nên là tư duy tất định – tư duy vật lý
chính xác nhưng lại không gói được cái ngẫu nhiên xuất hiện. Còn Triết học Trung
Quốc đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụ triết học với những cấu cách ngôn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status