TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 9:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
HỌC VIÊN THỰC HIỆN : PHAN HOÀI LINH
STT : 50
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 4
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1- K20
GVHD : T.S BÙI VĂN MƯA
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
TP. Hồ Chí Minh, Tháng 5/2011
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 2
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
DANH SÁCH NHÓM 4
STT Họ và Tên
49 Nguyễn Thị Bích Liên
50 Phan Hoài Linh
51 Trần Ngọc Linh
52 Đào Thị Bích Loan
53 Đào Mạnh Long
54 Trương Bảo Long
55 Đỗ Hữu Lộc
56 Nguyễn Văn Luận
57 Nguyễn Thanh Luận
58 Nguyễn Viết Mạnh
59 Trương Công Minh
60 Trương Quang Minh Nhóm trưởng
61 Đoàn Thị Minh
Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á ngày nay”.
Sự ra đời và phát triển của hai nền Triết học này có ảnh hưởng hết sức to
lớn đến nhân loại, là cội nguồn của nền Triết học vĩ đại ngày nay. Nó đã trở
thành Thế Giới quan và phương pháp luận khoa học, từ đó đưa ra những
nguyên lý khoa học giúp con người nhận thức đúng và cải tạo Thế Giới, là
tiền đề cho sự phát triển văn minh nhân loại. Xét trên nhiều khía cạnh chúng
ta thấy hai nền Triết học này tuy hình thành ở những hoàn cảnh, vùng địa lý
khác nhau và hình thành những học thuyết Triết học khác nhau nhưng đồng
thời cũng có những điểm tương đồng không thể phủ nhận được.
Vì những lý do trên mà Nhóm 4 đã chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác
biệt giữa Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để tìm
hiểu và cũng để có cái nhìn sâu sắc hơn về hai nền Triết học này.
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp chúng ta hiểu
lý giải được nguồn gốc, quá trình và xu hướng phát triển của hai nền Triết
học, hiểu được lịch sử tư tưởng từ các học thuyết nổi tiếng của những nhà
Triết học Hy lạp và Trung Quốc thời bấy giờ cũng như sự tương quan giữa
chúng.
Với mục đích như trên, nội dung đề tài được cô đọng trong 2 chương:
− Chương 1: Giới thiệu khái quát về Triết học Hy Lạp cổ đại và
Triết học Trung Quốc cổ đại:
+ Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển
+ Các đặc điểm cơ bản
+ Các trường phái Triết học tiêu biểu
− Chương 2: Đánh giá và so sánh giữa 2 nền Triết học Hy Lạp cổ đại
và Trung Hoa cổ đại
+ Các đặc điểm tương đồng
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 5
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
+ Các điểm khác biệt
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 6
Đặc điểm 2: Xuất hiện phép biện chứng chất phác, duy vật sơ khai. Các nhà
triết học Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh”, họ nghiên cứu
và sử dụng phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, tìm ra chân lý,
bảo vệ quan điểm của mình. Họ đã phát triển ra nhiều yếu tố của phép biện
chứng nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống chặt chẽ.
Đặc điểm 3: Do những nhà triết học của Hy Lạp đồng thời cũng là nhà khoa
học tự nhiên, nên họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra
những kết luận triết học, chứa đựng hầu hết các vấn đề cơ bản của thế giới
quan. Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới
trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới
nghiên cứu tự nhiên sơ lược để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới.
Đặc điểm 4: Triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề con người, sự hình
thành, bản chất con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều
quan niệm khác nhau về con người, quá trình đấu tranh giữa tri thức khoa học
và tín ngưỡng, giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm tôn giáo, họ cố lý giải vấn
đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội
của họ. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng
định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
1.1.3. Các trường phái triết học Hy Lạp tiêu biểu
1.1.3.1 - Chủ Nghĩa Duy Vật :
a) Trường phái Milê: xuất phát từ giai đoạn đầu hình thành, do 3 nhà triết học
duy vật là Talét, Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng vào thế kỷ 6, TCN,
nhằm làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới. Talét chủ trương giải
thích giới tự nhiên không phải bằng niềm tin mà bằng sự kiện quan sát; ông
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 8
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
kết luận: Nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của vạn vật. Theo
Anaximăngđrơ, apeiron là nguồn gốc của vạn vật. Còn theo Anaximen, không
khí có thể biến đổi thành mọi thứ và tạo ra vạn vật. => duy vật giản đơn, chất
phác, thô sơ; nhưng có ý nghĩa vô thần, chống lại thế giới quan thần thoại
trong đó con người sống hưởng lạc với tâm hồn thanh thản. Chính trị, xã hội
tốt nhất được cai trị bởi nhà nước chủ nô, lấy chế độ cộng hòa làm nền tảng
chính trị, lấy chuẩn mực đạo đức và pháp lý làm cơ chế hoạt động. Phát triển
nền thương mại và sản xuất thủ công hướng theo tình thân ái, tính ôn hòa và
lợi ích chung của công dân tự do, nô lệ phải tuân theo lệnh ông chủ. Nhu cầu
vật chất con người là động lực phát triển xã hội.
1.1.3.2 - Chủ Nghĩa Duy Tâm:
Hình thành trong trường phái triết học Pythagore, trải qua trường phái
duy lý Elee và đạt được đỉnh cao trong trường phái duy tâm khách quan – thế
giới ý niệm của Platon.
a) Trường phái Pytagore :
Là nhà triết học, toán học uyên bác, ông cho rằng “con số” là bản
nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật. Thừa nhận sự bất tử và luân hồi
của linh hồn =>đặt nền móng ban đầu cho duy tâm cổ đại. Ông cũng bàn đến
các mặt đối lập của mọi sự vật hiện tượng, ông quy về mười cặp đối lập hữu
hạn và vô hạn. Mười cặp đối lập này chia làm bốn lĩnh vực là: toán học, vật
lý, sinh học và đạo đức. Đó là những mặt đối lập cơ bản của tự nhiên và xã
hội.
b) Trường phái Êlê :
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 10
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Xênôphan (Xénophane): cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối
cùng trở về đất. Đất là cơ sở của vạn vật. Cùng với nước, đất tạo nên sự sống
của muôn loài. Ông cho rằng, “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống
nhất của vạn vật trong thế giới. “Tồn tại” là một phạm trù triết học mang tính
khái quát cao, và nhận thức bởi tư duy, lý tính. Quan niệm “tồn tại”đánh dấu
một giai đoạn mới trong phát triển triết học Hy Lạp cổ đại.
Pácmênít (Parménide): sự vật không ngừng biến đổi từ dạng này sang
dạng khác, chỉ khác nhau ở cách thức biểu hiện của sự tồn tại, và tồn tại
không hề thay đổi, đó cũng là bản chất của sự vật, được nhận thức bởi tư duy
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm
của Socrat, Platông là Triết gia Aristote học trò xuất sắc của Platông. Cống
hiến nổi bật của Aristote là ông đã phê phán một cách cặn kẽ học thuyết về ý
niệm của Platông. Ông công nhận tự nhiên tồn tại khách quan, đặt nền móng
cho khoa học lôgíc thời cổ đại, tam đoạn luận, vật lý học duy vật trong tự
nhiên; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của mọi sự vật, mà
hình thức của mọi hình thức là tư duy, lý tính, suy nghĩ, thượng đế – thuyết
nguyên nhân, không có linh hồn bất tử nhưng có linh hồn lý tính bất diệt- tinh
thần quyết định vật chất-> duy tâm trong xã hội, con người. Nhưng do hạn
chế lịch sử và xuất thân là nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô quý tộc nên về
mặt chính trị ông chỉ bảo vệ lợi ích cho tầng lớp này, bảo vệ tầng lớp trung
lưu, khinh miệt nô lệ, về mặt triết học ông là nhà nhị nguyên luận.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 12
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
1.2. TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.2.1. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ
đại
Trung Hoa là một đất nước rộng lớn thuộc vùng Trung Quốc cổ đại Á.
Trên lãnh thổ Trung Hoa có hai con sông lớn chảy qua: sông Hoàng Hà ở
phía bắc và sông Trường Giang ở phía nam tạo nên hai miền Bắc Nam với
nhiều khác biệt, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, định canh, định cư.
Thời cổ đại của Trung Quốc bắt đầu từ vương triều nhà Hạ (~thế kỷ
XXI - thế kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ đặt nền móng, tồn tại tới thời vua Kiệt thì
bị diệt vong. Thời này, người Trung Quốc chỉ mới biết dùng đồng đỏ, thế giới
quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời
sống tinh thần. Những tư tưởng triết học đã xuất hiện; và trải qua 2 vương
triều nhà Thương (còn gọi là Ân, thế kỷ XVI - thế kỷ XII TCN) do Thành
Thang thành lập, tồn tại tới thời vua Trụ thì bị diệt vong. Thời này, người
Trung Quốc sống định canh, định cư; biết dùng đồng thau, khai khẩn ruộng
đất và thực hiện đường lối tỉnh điền; ma thuật được thay bằng tín ngưỡng thờ
biệt là nguồn gốc, số phận, bản tính… của con người, nhằm mang lại cho con
người một quan niệm nhân sinh vững chắc, giúp con người định hướng hoạt
động trong điều kiện xã hội phức tạp và đầy biến động. Để lại triết lý: nhân –
nghĩa –trí –học, tu thân –trị gia –tề quốc.
Ba là, triết học Trung Quốc cổ đại cũng bị chi phối bởi cuộc đấu tranh
giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; nhưng đó là cuộc đấu tranh
xung quanh vấn đề con người; vì vậy, vấn đề về quan hệ giữa Con người với
Trời, Đất (Thiên - Nhân – Địa) là vấn đề mang tính xuất phát và xuyên suốt
qua toàn bộ nền triết học này.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 14
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Bốn là, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các trường phái
triết học Trung Quốc cổ đại không chỉ phê phán, xung đột nhau mà còn biết
hấp thụ những tư tưởng của nhau để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chính
mình
1.2.3. Các trường phái triết học Trung Quốc cổ đại tiêu biểu
1.2.3.1 - Thuyết Âm – Dương, Ngũ hành :
Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ đại cho rằng, bản thân vũ
trụ, cũng như vạn vật trong nó, được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau
của 2 thái cực (lực lượng) đối lập nhau là âm và dương. Nhưng hai thế lực
Âm - Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn
nhau.
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc
của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác
nhau, tương sinh, tương khắc với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim-Mộc-Thủy-
Hỏa-Thổ.
Tóm lại, bằng lý luận Âm dương và lý luận Ngũ hành, Âm dương gia
đã đứng trên quan điểm duy vật chất phác để giải thích một cách máy móc sự
phát triển của thế giới. Chúng có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn
giáo và mục đích luận trong quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người.
thức.
1.2.3.5 - Pháp gia :
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 16
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng
những luật lệ, hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo
đức của con người và củng cố chế độ chuyên chế thời Chiến quốc. Là tiếng
nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư
của chế độ công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn
giáo đương thời. Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử(280-233 TCN).
Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và
thuật, trong đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương
tiện để thực hiện chính sách đó.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 17
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SỰ TƯƠNG
ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA HAI NỀN TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ
ĐẠI VÀ TRUNG HOA CỔ ĐẠI
Dù là nền Triết học nào, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết, sự
nhận thức chung của con người về thế giới.Triết học là khoa học bao gồm hệ
thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò
của con người trong thế giới đó,là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn
tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội, là một yếu tố của kiến trúc
thượng tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng, chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng.
Do nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới nên triết học với tư
cách là một khoa học đề cập tới rất nhiều vần đề. Trong những vấn đề ấy nổi
lên vấn đề cơ bản là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. “Vấn đề cơ bản lớn
của mọi triết học, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”
Giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triết học có. Mặt thứ nhất trả lời câu
hỏi: giữa tư duy với tồn tại, giữa ý thức với vật chất, giữa tinh thần với tự
vậy, con người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở
khía cạnh đạo đức, giao tiếp và nhận thức.
Đặc điểm thứ ba, Triết học Hi Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phátvà
biện chứng sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối
duy nhất thường xuyên vận động và biến đổi không ngừng. Với ý nghĩa đó,
những tư tưởng biện chứng của triết học Hi Lạp cổ đại đã làm thành hình thức
đầu tiên của phép biện chứng
Trong khi triết học Trung Quốc cổ đại gằn liền với những vấn đề chính trị,
đạo đức, tôn giáo và thường biểu hiện dưới dạng học thuyết chính trị – xã hội
hoặc tôn giáo với những đặc điểm nổi bật:
Thứ nhất, nhấn mạnh tinh thần nhân văn. Trong tư tưởng triết học cổ,
trung đại Trung Hoa, các loại tư tưởng liên quan đến con người như triết học
nhân sinh, triết học đạo đức, triết học chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn
triết học tự nhiên có phần mờ nhạt.
Thứ hai, chú trọng chính trị đạo đức.
.
Thứ hai, chú trọng chính trị đạo đức. Suốt mấy ngàn năm lịch sử các triết
gia Trung Hoa đều theo đuổi vương quốc luân lý đạo đức, họ xem việc thực
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 19
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người, đặt
lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội. Có thể nói, đây chính là nguyên nhân
triết học dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận và sự lạc hậu về khoa
học thực chứng của Trung Hoa.
Thứ ba, nhấn mạnh sự hài hoà thống nhất giữa tự nhiên và xã hội. Khi
khảo cứu các vận động của tự nhiên, xã hội và nhân sinh, đa số các nhà triết
học thời Tiền Tần đều nhấn mạnh sự hài hòa thống nhất giữa các mặt đối lập,
coi trọng tính đồng nhất của các mối liên hệ tương hỗ của các khái niệm, coi
việc điều hoà mâu thuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết vấn đề. Nho gia,
Đạo gia, Phật giáo đều phản đối cái "thái quá" và cái "bất cập". Tính tổng
giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm
tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi
khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết
hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.
Triết học Hy Lạp cổ đại có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức
cho khách quan còn triết học Trung Quốc cổ đại lại cho rằng người nhận thức
và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy
chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.
Phương tiện nhận thức của triết học Hy Lạp cổ đại là khái niệm, mệnh đề,
biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học
Trung Quốc cổ đại lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn để không bị
lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học Trung
Quốc cổ đại chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích
khác nhau.
Triết học Trung Quốc cổ đại biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay
đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.
Triết học Hy Lạp cổ đại thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến
hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau
phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.
Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động - phát triển cũng
có nét khác biệt. Trung Quốc cổ đại nghiêng về thống nhất hay vận động
vòng tròn, tuần hoàn. g Hy Lạp cổ đại nghiêng về sự đấu tranh và vận động,
phát triển theo hướng đi lên.
Một nét nữa đại là theo thống kê thì triết học Hy Lạp cổ đại thiện về hướng
ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh,
bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú
ý nhiều đến thực thể
Trong khi khuynh hướng nổi trội của Trung Quốc cổ đại lại là hướng nội, bị
động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác,
giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu
thuật
Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo
đức Con người, đạo học
Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự
vật/hiện tượng Vũ trụ, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn
loanh quanh những lối cũ, bề
ngòai
Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng
phong phú, cụ thể
Quan tâm phần ngọn: nhân sinh
quan, cách sống, lối sống
Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể
luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn
thiện cá nhân, ổn định xã hội
Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế
giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách
mạng xã hội
Sự giống nhau của triết học Trung Quốc cổ đại và Hy Lạp cổ đại
giống nhau ở điểm cơ bản là đều nhằm hướng tới giải quyết vấn đề cơ bản của
Triết học.
Về Sự khác nhau:
- Triết học Trung Quốc cổ đại nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối
quan hệ giữa con người với vũ trụ. Trong khi đó, triết học Hy Lạp cổ đại lại
tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể, còn thế giới là khách
thể, con người cần nghiên cứu, chinh phục.
- Những tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại ít khi tồn tại dưới dạng
triết học thuần tuý mà thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau
khác nhau, nhưng nội.đung cất lõi của triết học bao giờ cũng bao gồm những
quan điểm lý luận chung nhất, những lời giải đáp có luận chứng (dù được tán
thành hay không được tán thành) cho những câu hỏi của con người về thế giới
xung quanh mình, về vị trí của con người trong thế giới đó, về quan hệ giữa
con người với thiên nhiên và với bản thân con người. Trong triết học, người ta
luôn tìm thấy những biện luận, phán xét suy tư, những băn khoăn, trăn trở
cùng những lời giải đáp cho các câu hỏi về số phận của cá nhân con người
trước thiên nhiên bao la, về nguồn gốc cùng những bí ẩn của thiên nhiên bao
la ấy, những sức mạnh, những lực lượng chi phối nó và chi phối cuộc sống
của chính bản thân con người, về cuộc sống và cái chết của họ Những lời
giải đáp ấy, dù là khác nhau trong các hệ thống, trào lưu, trường phái triết học
khác nhau nhưng đều là những cách lý giải nhất định về thế giới mà trong đó
con người đang sống theo quan điểm của các hệ thống, trào lưu, trường phái
triết học đó.
Qua tiểu luận này chúng ta tìm hiểu ,so sánh sự tương đồng và khác
biệt giữa triết học Trung Quốc cổ đại và Hy Lạp cổ đại, là hai nền văn minh
với nhiều giá trị lịch sử, văn hóa phong phú và rực rỡ, tại đây hình thành nên
nhiều trường phái triết học, chúng là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên
nền tảng triết học thế giới. Các trường phái này tuy khác biệt nhau nhưng bổ
sung cho nhau, một bên hướng nội, một bên hướng ngoại góp phần mô tả bức
tranh hiện thực của thế giới hoàn thiện hơn. Qua đó giúp học chúng ta hiểu
đào sâu mỡ rộng hơn những hiểu biết về hai nền triết học được xem là đại
diện của Triết học phương Đông và phương Tây.
Mở rộng thêm đề tài, bàn luận về triết học đương đại , người viết mong
muốn góp một tiếng nói để định hướng tập trung Triết học hiện đại vào ba
lĩnh vực sau:
1. Làm người mở đường, thậm chí lát đường, hỗ trợ cho các ngành khoa học
cụ thể bằng cách xây dựng hệ thống, hoặc một phần của hệ thống, các khái
niệm, phạm trù cho các ngành khoa học cụ thể, nhất là khoa học xã hội và
nhân văn sử dụng. Từ đó tạo lập những nét phác thảo sơ bộ về lĩnh vực cần