BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài 9 :
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
HỌC VIÊN THỰC HIỆN : ĐỖ HỮU LỘC
STT : 55
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 4
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 – K20
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
GVHD : T.S BÙI VĂN MƯA
DANH SÁCH NHÓM 4
STT Họ tên
1 Nguyễn Thị Bích Liên
2 Phan Hoài Linh
3 Trần Ngọc Linh
4 Đào Thị Bích Loan
5 Đào Mạnh Long
6 Trương Bảo Long
7 Đỗ Hữu Lộc
8 Nguyễn Văn Luận
9 Nguyễn Thanh Luận
10 Nguyễn Viết Mạnh
11 Trương Công Minh
12 Trương Quang Minh-Nhóm trưởng
13 Đoàn Thị Minh
14 Trần Đăng Minh
2.10 QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI, CÁCH XÂY DỰNG CON NGƯỜI 28
2.11 QUAN ĐIỂM VỀ CHÍNH TRỊ VÀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC 29
LỜI KẾT 31
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 4
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử khoảng 3000 năm.
Sự phát triển những tư tưởng Triết học của nhân loại là một quá trình lâu dài, đa
dạng nhiều trường phái, phát triển và ảnh hưởng khác nhau theo từng khu vực địa
lý. Đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc đến nền triết học và văn minh thế giới là hai nền
Triết học Hy Lạp cổ đại và Trung Quốc cổ đại.
Nền Triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng,
bản hợp xướng của Triết học Phương Tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên
tiềm tàng của Triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống Triết học
Phương Tây sau này. Chính vì vậy F. Enghen đã khẳng định: “ Không có cơ sở
văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì tuyệt nhiên không có Châu Âu hiện đại”.
Trong khi đó, nếu xem xét đến văn minh Châu Á ta phải kể đến văn minh
Trung Quốc. Có thể nói văn minh Trung Quốc là một trong những cái nôi của
văn minh nhân loại, là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn, hàng trăm tư
tưởng triết học (thời kỳ Bách gia chư tử) trong đó có các trường phái chính là
Âm Dương Gia, Nho Gia, Đạo Gia, Mặc Gia, Pháp Gia và Danh Gia có ảnh
hưởng lớn đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới.
Sự ra đời và phát triển của hai nền triết học này có ảnh hưởng hết sức to lớn
đến đến nhân loại, là tư tưởng lớn của nhân loại. Nó đã trở thành thế giới quan và
phương pháp luận khoa học, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con
người nhận thức đúng và cải tạo thế giới, là tiền đề cho sự phát triển văn minh
nhân loại. Xét trên nhiều khía cạnh chúng ta thấy hai nền Triết học này tuy hình
thành ở những hoàn cảnh, vùng địa lý khác nhau hình thành những học thuyết
Triết học khác nhau nhưng đồng thời cũng có những điểm tương đồng không thể
phủ nhận được.
của giai cấp nô lệ và cuối cùng bị La Mã chinh phục.
1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 6
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Đặc đểm 1: Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp
chủ nô thống trị. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự XH, củng cố
vai trò thống trị và khẳng định vị trí cấp cao. Triết học Hy lạp có sự phân chia và
đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật – duy tâm, vô thần – hữu
thần, gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng.
Đặc điểm 2: Xuất hiện phép biện chứng chất phác, duy vật sơ khai. Các nhà triết
học Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh”, họ nghiên cứu và sử dụng
phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, tìm ra chân lý, bảo vệ quan
điểm của mình, nhưng họ chưa trình bày chúng như một hệ thống chặt chẽ.
Đặc điểm 3: Do những nhà triết học của Hy Lạp đồng thời cũng là nhà khoa học
tự nhiên, nên họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận
triết học, chứa đựng hầu hết các vấn đề cơ bản của thế giới quan. Do trình độ tư
duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích
tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên sơ lược để
dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới.
Đặc điểm 4: Các nhà triết học đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con người,
quá trình đấu tranh giữa tri thức khoa học và tín ngưỡng, giữa chủ nghĩa duy vật và
duy tâm tôn giáo, họ cố lý giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời
sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn
chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
1.1.3 Các trường phái triết học Hy Lạp tiêu biểu
1.1.3.1 Chủ Nghĩa Duy Vật
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 7
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Trường phái Milê: Xuất phát từ giai đoạn đầu hình thành, do 3 nhà triết học duy
vật là Talét, Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng vào thế kỷ VI TCN, nhằm làm
giác quan. Đem lại các phương pháp nhận thức logic như qui nạp, so sánh, giả
thuyết, định nghĩa. Ngoài ra, theo ông đạo đức là: Hiểu biết là cơ sở của đạo đức.
Sống có đạo đức là sống đúng mực, ôn hòa, không hại mình, hại người. Hạnh phúc
là trạng thái mà trong đó con người sống hưởng lạc với tâm hồn thanh thản.
1.1.3.2 Chủ Nghĩa Duy Tâm
Trường phái Pytagore: Pytagore là nhà triết học, toán học uyên bác, ông cho rằng
“con số” là bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật, một vật tương ứng
với một con số nhất định, con số có trước vạn vật. Thừa nhận sự bất tử và luân hồi
của linh hồn, đặt nền móng ban đầu cho duy tâm cổ đại. Ông cũng bàn đến các mặt
đối lập của mọi sự vật hiện tượng qua mười cặp đối lập hữu hạn và vô hạn, chẳn
và lẻ, đơn và đa, phải và trái, nam và nữ, động và tĩnh, thẳng và cong, sáng và tối,
tốt và xấu, tứ giác và đa diện. Mười cặp đối lập này chia làm bốn lĩnh vực là: toán
học, vật lý, sinh học và đạo đức-vốn là những mặt đối lập cơ bản của tự nhiên và
xã hội.
Trường phái Êlê: Trường phái Êlê do Xênôphan thành lập theo chủ nghĩa duy vật,
nhưng sau đó Pácmênít phát triển theo chủ nghĩa duy tâm dựa trên nền tảng là khái
niệm tồn tại và được Dênông nhiệt thành bảo vệ và phát huy.
Xênôphan (Xénophane): Xênôphancho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và
cuối cùng trở về đất. Đất là cơ sở của vạn vật. Cùng với nước, đất tạo nên sự sống
của muôn loài. Ông cho rằng, “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất
của vạn vật trong thế giới. Quan niệm “tồn tại”đánh dấu một giai đoạn mới trong
phát triển triết học Hy Lạp cổ đại.
Pácmênít (Parménide): sự vật không ngừng biến đổi từ dạng này sang
dạng khác, chỉ khác nhau ở cách thức biểu hiện của sự tồn tại, và tồn tại không hề
thay đổi, đó cũng là bản chất của sự vật, được nhận thức bởi tư duy lý tính.
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 9
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Dênông (Zénon): bảo vệ trường phái Êlê. Ông đưa ra những apôri nghĩa là
tình trạng không có lối thoát hay nghịch lý. Thông qua chúng, ông chứng minh
rằng “tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến”. Còn tính phức tạp, đa dạng và vận
chính trị ông chỉ bảo vệ lợi ích cho tầng lớp này, bảo vệ tầng lớp trung lưu, khinh
miệt nô lệ.
1.2 TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.2.1 Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ đại
Thời cổ đại của Trung Quốc bắt đầu từ vương triều nhà Hạ, và trải qua 2 vương
triều nhà Thương và nhà Chu. Ta điểm qua một chút về nguồn gốc hình thành,
Vương triều Hạ (~thế kỷ XXI - thế kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ đặt nền móng, tồn tại
tới thời vua Kiệt thì bị diệt vong. Thời này, người Trung Quốc chỉ mới biết dùng
đồng đỏ, chữ viết chưa có. Do đó, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa
duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần. Những tư tưởng triết học đã
xuất hiện nhưng chưa tới mức hệ thống. Vương triều Thương (còn gọi là Ân, thế
kỷ XVI - thế kỷ XII TCN) do Thành Thang thành lập, tồn tại tới thời vua Trụ thì bị
diệt vong. Thời này, người Trung Quốc sống định canh, định cư; biết dùng đồng
thau, khai khẩn ruộng đất và thực hiện đường lối tư hữu hóa; ma thuật được thay
bằng tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên và thần xã–tắc; ý tưởng về lực lượng siêu nhiên
hình thành qua biểu tượng Đế (Thượng đế hay Trời).
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 11
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Đến Vương triều Chu (~thế kỷ XII - 221 TCN) do Văn Vương thành lập,
tồn tại hơn 8 thế kỷ, đất nước Trung Quốc tương đối ổn định. Nhưng sang thời
Đông Chu, khi đồ sắt được dùng phổ biến, chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất
được hình thành làm nảy sinh một loạt những thế lực chính trị mới. Xã hội rơi vào
tình trạng rối ren; các giá trị, chuẩn mực cộng đồng bị đảo lộn. Sự tranh giành địa
vị xã hội của các thế lực chính trị đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng
chiến tranh khốc liệt-Xuân thu (722-481 TCN) và Chiến quốc (403-221 TCN), với
hơn 400 cuộc chiến lớn nhỏ làm cho 160 nước ban đầu sau hơn hai thế kỷ đánh
nhau chỉ còn lại có 5 nước (Ngũ bá), sau đó là 7 (Thất hùng). Vào thời Chiến quốc,
những cải cách hiệu quả đã làm cho nhà Tần ngày càng mạnh. Với sự lãnh đạo của
Tần Thủy Hoàng, nhà Tần đã tiêu diệt các nước khác, thống nhất giang sơn, xây
dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.
giáo lẫn các quan niệm về Âm dương - Ngũ hành đã có điều kiện chính trị thuận
lợi để ảnh hưởng lâu dài trong nền triết học Trung Quốc.
1.2.3.3 Nho gia (thường gọi là Nho giáo): Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ
VI TCN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (551 - 479 TCN). Ông
thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn tự vận động, biến hóa không
phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời. “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vận hành, vạn
vật sinh hóa mãi mãi” (Luận ngữ, Dương Hóa, 18); hay “cũng như dòng nước
chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử
Hãn, 16). Mặt khác, ông lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của
con người (Thiên mệnh). Ông nói: “Đạo của ta thi hành ra được cũng do mệnh
Trời, mà bị bỏ phế cũng là do mệnh Trời” (Luận ngữ, Hiến vấn, 38); “làm sao có
thể cải được mệnh Trời”. Khổng Tử cũng coi thường tri thức về sản xuất, lao động
chân tay, lấy chữ “Nhân” làm nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của mình.
Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và
phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và duy tâm, trong đó dòng Nho
gia Khổng - Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và
một số nước lân cận trong đó có Việt Nam.
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 13
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
1.2.3.4 Đạo gia (hay học thuyết về Đạo): Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử
(khoảng thế kỷ VI TCN). Học thuyết của ông được Dương Chu và Trang Chu thời
Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo 2 hướng ít nhiều khác nhau. Những tư
tưởng triết học của Đạo gia được khảo cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa
kinh. Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về "Đạo" với những tư tưởng biện
chứng, cùng với học thuyết "Vô vi" về lĩnh vực chính trị - xã hội.
1.2.3.5 Mặc gia: Phái Mặc gia do Mặc Tử (khoảng từ 479 -381 TCN) sáng lập
thời Xuân Thu. Sang thời Chiến Quốc đã phát triển thành phái Hậu Mặc. Là một
trong ba học thuyết lớn nhất đương thời (Nho-Đạo-Mặc), thể hiện quan niệm về
"Phi thiên mệnh". Theo quan niệm này thì sự giàu, nghèo, thọ, yểu không phải là
do định mệnh của Trời mà là do người. Nếu người ta nỗ lực làm việc, tiết kiệm
Đối với Triết học Hy Lạp cổ đại tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người
là chủ thể, chúa tể để nghiên cứu chinh phục vũ trụ – thế giới khách quan. Triết
học Hy Lạp đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại. Một
số trường phái nếu có đề cập đến con người thì cũng chỉ thông qua đó để cố giải
thích thế giới. Pytago cho rằng bản nguyên thế giới là con số. Trật tự các con số
được quy định bởi trật tự của vạn vật, trong đời sống phải cố vạch ra trật tự các
con số từ trong trật tự của sự vật (trật tự những điều ác, điều thiện….) để khám
phá ra trật tự thần thánh. Điều ác nhất định sẽ xảy ra nếu người ta không hiểu
đúng và làm theo trật tự thần thánh. Trường phái ÊLê, Xênôphan cho rằng không
phải thần thánh sáng tạo ra con người, mà chính con người sáng tạo ra các vị thần
theo trí tưởng tượng và hình tượng của mình “Nếu như bò, ngựa và sư tử có tay
và biết vẽ hay biết nặng tượng như con người thì chúng sẽ căn cứ vào bản thân
mình để vẽ hoặc nặng ra tượng về Thượng đế giống như mình để tôn thờ…”
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 15
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Triết học Trung Quốc cổ đại đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ người với
người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt sinh vật của con người, chỉ
nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai cấp trống trị cho
nên nghiên cứu con người không phải là để giải phóng con người mà là để cai trị
con người, không thấy quan hệ giữa người với người trong lao động sản xuất.
Đổng Trọng Thư đề cập đến mối quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, nếu xếp
theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang
của quan hệ thì vua - cha - chồng xếp ở hàng làm chủ thể hiện rõ sự phân tầng
trong xã hội. Khổng tử lấy Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu… làm chuẩn
mực đạo đức. Lão Tử xây dựng thuyết “Vô Vi” là sống và hành động theo lẽ tự
nhiên, thuần phác, không giả tạo, không gò ép trái với bản tính của mình và ngược
với bản tính tự nhiên. Trang Tử xây dựng quan niệm nhân sinh thoát tục – vị ngã –
toàn sinh nghĩa là phải yên theo thời mà ở thuận, vì cái tự nhiên nào cũng hợp lý…
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 16
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
qua nhiều thời kỳ. Đều ra đời trong xã hội Chiếm hữu nô lệ vào khoảng thế
kỷ VII-VI trước công nguyên.
- Tuy xã hội trải qua nhiều giai đoạn đầy biến động nhưng cả Trung Quốc
cổ đại và Hy Lạp cổ đại đều đạt được những thành tựu rực rỡ về văn hoá,
khoa học kỹ thuật, Triết học và trở thành một trong những cái nôi lớn của văn
minh nhân loại
Khác biệt:
- Ở Hy Lạp là sự đấu tranh giai cấp giữa địa chủ và nô lệ. Với xã hội Trung
Quốc cổ đại đó là sự đấu tranh giữa giai cấp địa chủ mới với tầng lớp quý tộc
cũ, làm tan rã dần chế độ chiếm hữu nô lệ gia trưởng, bắt đầu hình thành quan
hệ sản xuất phong kiến.
- Thứ hai, tư tưởng Triết học Trung Quốc có mầm mống từ thần thoại thời
tam đại (Hạ, Thương, Chu) với các biểu tượng như đế, thượng đế, quỷ thần…
chúng hoà quyện vào thế giới quan thần thoại – tôn giáo chi phối mạnh đời
sống tinh thần của người Trung Quốc
[5]
. Còn tư tưởng Triết học Hy Lạp cổ
đại là sự duy lý hoá các hình tượng thần thoại thành các khái niệm, quá trình
này dựa vào tri thức khoa học mà Talet, Pitago và sau đó là các nhà khoa học
tự nhiên khác xây dựng nên.
- Thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với lịch sử ra đời của nền chính
trị Hy Lạp cổ đại và phản ánh lịch sử của đất nước này. Vì vậy, nó trải qua ba
giai đoạn : giai đoạn hình thành, giai đoạn cực thịnh và giai đoạn suy tàn;
trong đó cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng nhất nguyên duy vật và nhất
nguyên duy tâm của giai đoạn cực thịnh đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong
lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại. Về phần mình, tư tưởng triết học Trung Quốc
cổ đại bắt đầu có tính hệ thống được hình thành trong thời Đông Chu và
nhanh chóng trở thành nên tảng của triết học cổ-trung đại Trung Quốc, tạo
nên cơ sở cho các hệ thống thế giới quan và phương pháp luận sau này.
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 18
học duy vật của trường phái Milê tuy còn mộc mạc, thô sơ nhưng có ý nghĩa
vô thần chống lại thế giới quan thần thoại đương thời và chứa đựng những
yếu tố biện chứng chất phác.
- Trường phái duy vật nhất nguyên Hêraclít thể hiện rõ các tư tưởng biện
chứng chất phác thông qua các phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập, tuy quan niệm biện chứng chưa được trình bày
như một hệ thống nhưng hầu hết các luận điểm cốt lõi được Hêraclít trình bày
dưới dạng danh ngôn, tỷ dụ hay những phát biểu mang tính triết lý sâu sắc.
- Trường phái duy vật đa nguyên Empêđốc khởi nguyên của vũ trụ là bốn
yếu tố đất, nước, lửa, Anaxago cho rằng khởi nguyên thế giới là các hạt
giống, các hạt giống có thể sinh sôi nảy nở nhờ vào một động lực đó là Nus –
trí tuệ thuần túy hay linh hồn của thế giới. Trường phái nguyên tử luận là đỉnh
cao của triết học duy vật hy lạp cổ đại, Lơxíp là người đầu tiên nêu lên các
quan điểm về nguyên tử, Đêmôcrít là người phát triển quan niệm này thành
một hệ thống chặt chẽ và có sức thuyết phục. Mặt dù vẫn còn nhiều hạng chế
nhưng Đêmôcrít đã nâng chủ nghĩa duy vật Hy Lạp lên đỉnh cao đủ sức
đương đầu chống lại trào lưu duy tâm đang thịnh hành lúc bấy giờ, cụ thể là
trào lưu duy tâm của Platông. Trường phái duy tâm ngụy biện của Platông với
thuyết ý niệm. Trường phái duy vật siêu hình Arixtốt đã cố gắn khắc phục sự
đối lập giữa hai khuynh hướng nhất nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm,
ông đã đưa triết học Hy Lạp cổ đại lên đỉnh cao cực thịnh.
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 20
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
- Triết học Trung Quốc cổ đại đan xen các trường phái, yếu tố duy vật, duy
tâm biện chứng, siêu hình không rõ nét. Sự phân chia chỉ xét về đại thể, còn
đi sâu vào những nội dung cụ thể thường là có mặt duy tâm có mặt duy vật,
sơ kỳ là duy vật, hậu kỳ là nhị nguyên hay duy tâm, thể hiện rõ thế giới quan
thiếu nhất quán, thiếu triệt để của triết học. Các trường phái triết học ít đấu
tranh với nhau mà có tính kế thừa nhau.
- Âm Dương gia xuất hiện đầu tiên thời nhà Thương với lý luận âm dương
vật chỉ vận động tuần hoàn lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ mà không có sự ra
đời của cái mới, nghĩa là không có sự phát triển. Nhưng đến Trang Tử thì biến
các yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử thành chủ nghĩa tương đối
và thuyết ngụy biện với quan niệm nhân sinh thoát tục – vị ngã – toàn sinh
đầy tính duy tâm.
- Triết Học Hy Lạp cổ đại sự phân chia các trường phái rõ nét hơn và các
hình thức tồn tại lịch sử rất rõ ràng như duy vật chất phác thô sơ, đi duy tâm
ngụy biện đến duy vật siêu hình. Sự đấu tranh giữa các trường phái cũng gay
gắt hơn. Trường phái Milê-Talét với giải thích khởi nguyên của vũ trụ là nước
“Nước tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó tạo ra thì không ngừng sinh ra,
biến đổi và mất đi. Thế giới là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại tựa như một
vòng biến đổi tuần hoàn không ngừng nghỉ mà nước là nền tảng của vòng
tuần hoàn đó”.
- Anaximăngđrơ là apeiron – là cái vô định hình chứa trong mình những lực
lượng đối lập nhau; chính sự đấu tranh của những lực lượng đối lập này mà
vạn vật có hình thể, tính chất khác nhau được sinh ra và sau đó, các vật đối
lập nhau sẽ hủy diệt nhau để trở về với apeiron…, Anaximen cho rằng không
khí có thể biến thành nước, đất, đá,… hay lửa. Trường phái Milê thể hiện tư
tưởng biện chứng chất phác, phép biện chứng ngây thơ, chứa yếu tố vô thần.
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 22
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
- Trường phái nguyên tử luận gồm Lơxíp và Đêmôcrít (TKVI-TKV TCN),
Lơxíp cho rằng cái tồn tại (nguyên tử) cái không tồn tại (chân không) cũng
tồn tại, nguyên tử và chân không là khởi nguyên của thế giới. Nguyên tử là
những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy, không phân chia được, không
biến đổi, luôn vận động và tồn tại vĩnh viễn, sự kết hợp các nguyên tử tạo
thành sự vật trong thế giới. Chân không (không gian trống rỗng) không có
kích thước hình dạng, vô tận và duy nhất. Nguyên tử vận động trong chân
không theo luật nhân quả. Trường phái duy tâm ngụy biện Xôcrát Platông
(TKV-TKIV TCN), Xôcrát chú ý đến đạo đức học duy lý. Ông cho rằng hiểu
duy tâm thần bí. Ngược lại, triết học Hy Lạp ngay từ những quan sát ban đầu
đã xây dựng thành một hệ thống triết học duy vật chặt chẽ, có sức thuyết
phục, làm cho nó đủ sức đương đầu chống lại các trào lưu duy tâm đang thịnh
hành lúc bấy giờ, mà trước hết là trào lưu duy tâm nổi tiếng của Platông.
Ngoài ra, các tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp còn là nguồn cảm hứng
cho các nhà khoa học nghiên cứu sau này như tương tưởng nguyên tử luận
của Đêmôcrít, hạt giống của Anaxago
2.5THUẬT NGỮ SỬ DỤNG
- Giữa 2 nền triết học này, cách sử dụng thuật ngữ của các triết gia cũng có
nhiều khác biệt, khi triết học Hy Lạp khi nói về tự nhiên dùng thuật ngữ
“biện chứng” , “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vật chất” ; thích dùng mệnh đề,
logic để mô tả rõ ràng, thống nhất sự vật và hiện tượng. Khi bàn về mối quan
hệ giữa con người và vũ trụ thì dùng phạm trù khách thể – chủ thể; con người
với tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư duy. Đặc thù hướng ngoại, tư
tưởng đi sau có nhiều tiến bộ hơn cái trước, thậm chí phủ định cái trước.
NTH: Đỗ Hữu Lộc-STT 55-K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 24
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
- Còn triết học Trung Quốc cổ đại dùng thuật ngữ ẩn dụ, liên tưởng, động –
tĩnh, thái cực, hình vạn pháp, biến dịch, vô thường, vô ngã (hơi đa nghĩa và
nhập nhằng) và lấy cái thống nhất, lấy cái tĩnh làm gốc để nói về tự nhiên.
Nguyên nhân là vì triết học Trung Quốc được xây dựng trên quan điểm vũ trụ
là một, nên cần hòa hợp, cùng nhịp điệu. Khi nói về con người lại dùng tâm –
vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần; chủ yếu hướng nội.
- Mặt khác, khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế
giới thì triết học Hy Lạp cổ đại dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ” “quy
luật”. Còn Triết học Trung Quốc cổ đại dùng thuật ngữ “đạo” “lý” “mệnh”
“thần”, cũng xuất phát từ thế giới quan thiên nhân hợp nhất nên tất cả phải
mang tính nhịp điệu, tính quy luật, tính xoắn ốc của vũ trụ từ thái cực đến
lưỡng nghi Có nhịp điệu là hài hoà âm dương, còn vũ trụ là tập hợp khổng
lồ các xoắn ốc, chu kỳ