VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Bun Phết Vàng
THỰC TRẠNG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG
GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng Chăn,
nước CHDCND Lào hiện nay)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60.31.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
PGS.TS NGUYỄN HỮU MINH
Hà Nội, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát
từ yêu cầu phát sinh thực tiễn trong đời sống xã hội. Từ đố, hình dung thành hướng
nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Minh.
Các số liệu và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tác giả luận văn
Bun Phết Vàng
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Hữu Minh đã
tận tình động viên và hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi, để tôi có thể hoàn thành công
trình nghiên cứu của mình.
Xin cảm ơn Ban giám đốc Học viện Khoa học Xã hội (HVKHXH), Ban đào
tạo HVKHXH, Ban chủ nhiệm khoa xã hội học HVKHXH đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành học phần thuộc trình độ thạc sĩ xã hội học.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô, các cán bộ nhân viên tại HVKHXH,
gia đình, người thân, các bạn học viên đồng nghiệp và những người luôn động viên,
có nhận định tương đối nhất quán về sự bất bình đẳng theo hướng nam giới thống
trị nữ giới trong gia đình ở hầu hết các xã hội.
Xã hội Lào với rất nhiều đặc điểm lịch sử, kinh tế và xã hội hậu thuẫn cho
giá trị trọng nam, rõ ràng đã tạo nên những nền tảng quan trọng của quyền lực nam
giới thống trị nữ giới vẫn còn tồn tại dai dẳng và phổ biến trong đời sống xã hội và
gia đình. Trong môi trường xã hội chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại, cấu
trúc quyền lực trong các gia đình Lào đã có những thay đổi không nhỏ. Đặc biệt,
quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa (CNH-ĐTH) mạnh mẽ như hiện nay đã dẫn
đến những thay đổi căn bản về các điều kiện kinh tế, văn hóa và sự phân công lao
động giữa vợ và chồng trong gia đình, v.v.
Trong vài chục năm vừa qua đã có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm
hiểu về những vấn đề này, và các nghiên cứu đó đã phản ánh được những khía cạnh
nhất định về mối quan hệ giữa vợ và chồng trong các gia đình cũng như trong xã
hội. Các nghiên cứu đó đã cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy mối quan hệ giới đã
có những thay đổi đáng kể. Chẳng hạn, theo thời gian, người vợ đã có những cải
thiện quyền lực nhất định trong tương quan với người chồng. Nghiên cứu thống kê
cũng cho thấy kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước, phụ nữ tham gia tích
cực hơn nhiều vào các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội. Điều đó cũng đã tạo
nền tảng quan trọng cho việc cải thiện vị thế của người phụ nữ trong gia đình.
Mặc dù đã có những tiến bộ trong tương quan quyền lực giới như vậy, nhưng
vấn đề bất bình đẳng giới vẫn còn đáng lo ngại. Một số nghiên cứu cho thấy trong
khi tốc độ đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng thì các chuẩn mực giá trị văn hóa
liên quan đến vai trò giới dường như vẫn thay đổi rất chậm chạp. Nhiều công trình
nghiên cứu đưa ra bằng chứng rằng mặc dù phụ nữ tham gia tích cực vào lực lượng
lao động nhưng vẫn còn tồn tại những bất bình đẳng đáng kể về sự tiếp cận các cơ
hội kinh tế, thu nhập, loại hình nghề nghiệp, giáo dục và đào tạo, việc tiếp cận các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe, quyền ra quyết định, v.v… [26; 8]. Điều đó có nghĩa là
các thành quả của sự phát triển không được phân chia bình đẳng giữa nam và nữ.
8
Các nghiên cứu chuyên sâu cũng cung cấp bằng chứng cho thấy trong rất nhiều gia
công cuộc CNH-ĐTH theo chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước. Sự tăng
trưởng nhanh chóng như vậy có tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống kinh
tế-xã hội nói chung và những hoạt đông trong gia đình nói riêng, đặc biệt là công
việc của người vợ và người chồng trong gia đình. Do vậy, hiểu rõ về công việc
9
trong gia đình cũng như sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình là
một trong những điều kiện để phát triển đời sống, tăng trưởng nền kinh tế, xây dựng
xã hội văn minh rực rỡ và giúp Đảng và Chính quyền có thể đưa ra những biện
pháp, chính sách can thiệp giúp cải thiện tình hình bất bình đẳng giới nói chung, và
nâng cao chất lượng cuộc sống của các gia đình nói riêng. Tuy nhiên cho đến nay
vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào được tiến hành trên cả nước về vấn đề này.
Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài “Thực trạng phân công lao động giữa vợ và
chồng trong gia đình của người dân Lào hiện nay”, (Nghiên cứu trường hợp tại
huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng Chăn, nước CHDCND Lào) làm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ xã hội học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tăng cường công nghiệp hóa-đô thị hóa (CNH-ĐTH) là xu hướng phát triển
của một xã hội, và việc thực hiện quá trình đó đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội
phải quán triệt và tập trung hết mình vào những hoạt động của xã hội để tạo ra
những của cải vật chất theo nhu cầu của nó. Muốn hoàn thành nền kinh tế thị trường
công nghiệp hóa và hiện đại hóa phải có sự trung thành từ các thành viên của gia
đình nói chung và người vợ-người chồng nói riêng. Sự trung thành đó bao gồm cả
hoạt động bên trong và bên ngoài, tức là bình đẳng giới trong gia đình và xã hội [3],
điều đó có nghĩa là phải tạo mọi điều kiện cho các thành viên trong gia đình phát
triển nhân cách của mình theo hướng tự do và có mục đích, tránh mọi ép buộc hay
ngăn cản mỗi hoạt động của các thành viên.
Tìm hiểu những vấn đề phân công lao động theo giới của gia đình trong bối
cảnh CNH-ĐTH, Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 [5] cho thấy, nhiều người
dân vẫn coi sự phân công lao động giữa hai giới là cần thiết, nhất là ở các công việc
như sản xuất, kinh doanh; nội trợ; chăm sóc trẻ em; chăm sóc người già. Trong đó
này, tác giả Nguyễn Hữu Minh [18], đưa ra số liệu cụ thể hơn về phân công lao
động gia đình: Đại bộ phận người vợ làm chính công việc nội trợ, giữ tiền hay chăm
sóc trẻ em. Tỷ lệ người vợ tham gia các công việc vừa nêu cao hơn đáng kể so với
người chồng: nội trợ (82,5% so với 3,5%), giữ tiền (73,9% so với 9,3%), và chăm
sóc trẻ em (68,3% so với 2,4%). Trong khi đó người chồng chiếm tỷ lệ cao hơn vợ
trong các loại công việc khác như: thay mặt gia đình giao tiếp với chính quyền
(62,7% so với 18,1%), tiếp khách (46,1% so với 17,5%), sản xuất kinh doanh
(36,7% so với 27,6%). Toàn bộ các công trình nghiên cứu vừa nêu trên dù là nghiên
cứu sự phân biệt giới trong gia đình ở Việt Nam, nhưng gợi ra những vấn đề tương
tự với lối sống thực tế của người dân Lào.
Có thể nói, cho đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về sự biến đổi của gia
đình. Các chủ đề nghiên cứu này khá đa dạng, bao gồm các vấn đề từ biến đổi cấu
trúc, chức năng, vai trò, các mối quan hệ gia đình cho tới các khía cạnh cụ thể về
phân công lao động theo giới, vai trò của người chồng, người cha, vị thế người phụ
11
nữ, vấn đề giáo dục, mức sống… của gia đình. Tuy nhiên, ở nước Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào hiện nay, các vấn đề nghiên cứu này vẫn còn đang là rất ít, mới
chỉ được đề cập đến như là một khía cạnh khi bàn về các vấn đề khác của gia đình.
Do vậy, nghiên cứu vấn đề phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình của
người dân trên địa bàn huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào cũng là một hướng nghiên cứu khá mới về gia đình nói chung và
sự phân công lao động giữa người vợ-người chồng trong gia đình nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình của
người dân Lào trên địa bàn huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng Chăn.
- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự phân công lao động giữa người vợ và
người chồng trong gia đình.
- Cung cấp những lý giải cần thiết về sự tồn tại của các vấn đề phân công lao
động giữa vợ và chồng trong gia đình nhằm góp phần lấp đầy khoảng cách giới
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 06 năm 2013 đến tháng 2 năm 2014.
5. Giả thuyết, các biến số và khung lý thuyết nghiên cứu
5.1. Giả thuyết nghiên cứu
- Trong bối cảnh CNH-ĐTH hiện nay, vợ chồng có sự chia sẻ công việc
trong gia đình hơn so với trước.
- Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình của các dân tộc,
nhóm và nơi cư trú không đồng nhất.
- Những yếu tố tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức sống, quy
mô, thu nhập và quan điểm truyền thống về phân biệt việc làm có ảnh hưởng rất lớn
13
đến sự phân công lao động giữa người vợ và người chồng trong gia đình.
5.2. Các biến số
Biến phụ thuộc
- Thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình.
Biến can thiệp
- Các chính sách của Đảng và nhà nước.
- Môi trường kinh tế, xã hội và văn hóa
Biến độc lập
* Đặc điểm nhân khẩu học:
- Tuổi.
- Giới tính.
- Trình độ học vấn.
- Nghề nghiệp.
- Thu nhập.
* Đặc điểm gia đình:
- Quy mô hộ gia đình.
- Mức sống gia đình.
* Đặc điểm dân cư:
- Thành thị.
- Vùng ven.
- Thành thị
- Vùng ven
- Các dân tộc
Các chính sách của
Đảng và Nhà nước
15
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp định tính và định lượng, cụ thể là phương
pháp phân tích tài liệu có sẵn, phương pháp điều tra, phỏng vấn, quan sát.
6.1. Phương pháp định tính
- Phân tích những chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước mà có liên
quan đến gia đình và giới.
- Phân tích các công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí,
các sách giáo khoa, kỷ yếu khoa học đã được công bố để hình dung khái quát vấn
đề nghiên cứu và triển khai đề tài nghiên cứu.
- Phân tích các báo cáo thống kê tổng hợp về kinh tế xã hội trong các năm, từ
năm 2010 đến nay của huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào.
6.2. Phương pháp định lượng
6.2.1. Điều tra bằng bảng hỏi
- Điều tra bằng bảng hỏi với đối tượng là những người vợ hoặc chồng trong
các gia đình hiện đang sinh sống tại 10 làng thuộc huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng
Chăn, nước CHDCND Lao.
- Mẫu nghiên cứu là 201 hộ gia đình và lấy theo phương pháp ngẫu nhiên hệ
thống. Cụ thể dựa trên điều kiện các hộ gia đình của địa phương, do đó lấy ngẫu
nhiên theo mẫu được xác định là K=3.
6.2.2. Phỏng vấn sâu
Luận văn tiến hành phỏng vấn 16 cuộc phỏng vấn sâu với hộ gia đình thuộc
10 làng của huyện Văng Viêng nhằm thu thập các thong tin cụ thể về các vấn đề
nghiên cứu, đồng thời đề cùng cố độ tin cậy của các thông tin định lượng. Các đối
những địa phương có điều kiện kinh tế-xã hội tương tự. Do vậy, nghiên cứu này sẽ
cung cấp thêm những bằng chứng khoa học góp phần giúp nhìn nhận và đánh giá
một cách khách quan hơn về các vấn đề xã hội, vấn đề gia đình nói chung, đặc biệt
là vấn đề phân biệt việc làm giữa người vợ và người chồng trong gia đình của người
dân Lào trên bối cảnh phát triển nền kinh tế xã hội CNH-ĐTH.
* Đóng góp của luận văn
Thông qua kết quả nghiên cứu trong thực tế, luận văn hình thành nên cơ sở
thực tiễn giúp cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách có một cái
17
nhìn thực tế hơn về mối quan hệ giới hay sự phân biệt việc làm của người vợ-người
chồng trong các gia đình người dân Lào. Từ đó, các kết quả nghiên cứu có thể được
sử dụng để điều chỉnh và xây dựng các chính sách, biện pháp can thiệp phát triển đô
thị bền vẫn nói chung và đời sống kinh tế xã hội trong gia đình nói riêng ở địa
phương, nhằm định hướng và thúc đẩy đời sống người dân vươn lên theo hướng
công nghiệp hóa-hiện đại hóa trong thời gian tới.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm có 3 chương 7 tiết.
18
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ
VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH
Việc phân công lao động giữa nam và nữ nói chung và giữa vợ và chồng nói
riêng đã được phát hiện từ rất sớm trong xã hội loài người. Con người khi hình
thành gia đình đã có ngay sự phân công lao động giữa nam và nữ. Khuôn mẫu phân
công lao động đó đã được lưu truyển từ thế hệ này sang thế hệ khác và luôn luôn
biến đổi theo không gian và thời gian nhất định. Từ góc độ xã hội học, vấn đề phân
công lao động giữa nam và nữ trong gia đình cũng được nhiều nghiên cứu quan
tâm. Dưới đây trình bày một số cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề này.
con. Ở đây có kiểu gia đình nhỏ đầy đủ và gia đình nhỏ không đầy đủ, trong đó gia
đình nhỏ đầy đủ là gia đình có vợ, có chồng và các con. Còn gia đình nhỏ không
đầy đủ là gia đình chỉ có vợ và chồng hoặc vợ và con, chồng và con [20, Tr. 310-
312].
Theo tác giả Chung Á và Nguyễn Đình Tấn (1996), gia đình là một nhóm xã
hội được hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ
tình cảm) và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái,
ông bà, họ hàng bên nội, bên ngoài) cùng chung sống; đồng thời có thể có một số
người được gia đình nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ. Các thành viên gia
đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm…).
Giữa họ có những ràng buộc về tính pháp lý và được nhà nước thừa nhận, bảo vệ;
đồng thời có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong
quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình. Trông đó có cả gia đình đầy đủ (gia
đình có vợ có chồng) và gia đình không đầy đủ (gia đình chỉ có vợ sống cùng con
hoặc chồng sống cùng con) [22, Tr. 190].
Trong luận văn này, gia đình được hiểu là một cộng đồng được thiết chế hóa
và hình thành trên cơ sở hôn nhân, trách nhiệm pháp luật và đạo đức giữa vợ chồng,
con cái và các thành viên ruột thịt cùng chung sống với nhau trong khoảng thời gian
không hạn định. Có hình thức gia đình mở rộng (ba thế hệ trở lên) hoặc gia đình hạt
nhân với chủ yếu là hai vợ chồng và con cái.
1.1.1.2. Khái niệm phân công lao động
Trong thực tê, muốn tìm hiểu khái niệm phân công lao động, trước hết phải
hiểu khái niệm phân công và khái niệm lao động.
20
Khái niệm phân công
Theo từ điển tiếng Việt 2005, phân công là sự giao cho một phần việc nhất
định nào đó. Phân công mỗi người một việc. Ví dụ: Được phân công làm giáo viên
chủ nhiệm, được phân công làm trưởng khoa xã hội học, v.v. [29].
Vậy, theo cách hiểu đơn giản thì khái niệm phân công là sự chia sẻ công việc
giao cho các thành viên trong gia đình nói chung và là sự chia sẻ gánh nặng trong
Lao động càng ít cần đến sự khéo léo và sức lực chừng nào, nghĩa là công
nghiệp hiện đại càng tiến triển, thì lao động của đàn ông càng được thay thế
bằng lao đọng của đàn bà và trẻ em. Những sự phân biệt về lứa tuổi và giới
tính không còn có ý nghĩa xã hội gì nữa đối với giai cấp công nhân. Tất cả
đều là công cụ lao động mà chi phí thì thay đổi tùy theo lứa tuổi và giới tính
[16, tr. 550].
Phân công lao động giữa nam và nữ trong gia đình có thể khác nhau theo
thời gian và không gian, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế-xã hội cụ thể.
1.1.1.3. Khái niệm phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình
Trong thực tế, khái niệm pan công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình
là một khái niệm rất rộng, trong đó bao hàm toàn bộ các công việc sinh hoạt của gia
đình, nhưng ở đây luận văn chỉ giới hạn trong khuôn khổ phân công lao động sản
xuất-kinh doanh, tham gia xã hội và nội trợ trong gia đình mà thôi.
Trên cơ sở của những khái niệm gia đình và khái niệm phân công lao động ở
trên thì “Khái niệm phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình” là sự
chia sẻ và đảm nhiệm các công việc gia đình của vợ và chồng nhằm thực hiện
những chức năng về vị trí, vai trò và nhiệm vụ chăm sóc sức, giáo dục và nuôi
dưỡng… cho gia đình để dảm bảo cho sự tồn tại và phát triển ổn định của gia đình.
Phân công lao động nam-nữ là yếu tố hình thành vai trò giới trong gia đình và xã
hội. Phụ nữ có vai trò biểu đạt tình cảm, nam giới có vai trò làm nhiệm vụ (còn gọi
là vai trò công cụ) tạo ra thu nhập. Theo thuyết chức năng, lao động của phụ nữ có
chức năng tình cảm và lao động của nam giới có chức năng tư duy và hành động
giải quyết nhiệm vụ. Điều đáng chú ý là sự phân công lao động theo giới không đơn
thuần dựa vào sự khác biệt về các đặc điểm sinh học giữa nam và nữ mà luôn gắn
liền với thói quên, suy nghĩ và quan điểm về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong
xã hội. Nhằm biện hộ cho sự bất bình đẳng nam nữ và bào chữa cho tư tưởng
“trọng nam khinh nữ”, một số người gán cho phụ nữ những “thiên chức” mà nam
giới hoàn toàn có thể làm tốt, không kém gì họ, chẳng hạn công việc nội trợ, chăm
sóc, nuôi dưỡng con cái trong gia đình.
22
phận khác của cấu trúc xã hội và tới toàn bộ xã hội. Tuy nhiên, nhìn chung thì việc
phân tích với cách tiếp cận chức năng luận bao hàm việc xem xét những đóng góp
của một thiết chế đối với việc duy trì và tồn tại toàn bộ hệ thống xã hội. Ví dụ, theo
nghĩa đơn giản, chức năng chính của gia đình là xã hội hóa các thành viên mới cho
23
xã hội.
Quan điểm cấu trúc-chức năng về gia đình, vốn gắn bó chặt chẽ với những
lập luận của Talcott Parsons (1902-1979), là tập trung vào gia đình và mối quan hệ
của nó với xã hội [41]. Parsons, T.(1952) cho rằng gia đình thực hiện một số chức
năng trong xã hội, nhưng có hai chức năng được coi là quan trọng nhất. Chức năng
thứ nhất là xã hội hóa trẻ em cho phù hợp với các giá trị và chuẩn mực phổ biến của
xã hội. Đặc biệt nhấn mạnh vào các nền văn hóa Bắc Mỹ, Parsons đưa ra lý thuyết
rằng vai trò của gia đình là đảm bảo rằng trẻ em được truyền dạy những phẩm chất
về sự độc lập và động cơ thành đạt. Chức năng thứ hai của gia đình là làm ổn định
các phẩm chất cá nhân của người lớn thông qua hôn nhân, với tư cách là nơi giải tỏa
những căng thẳng về tinh thần trong cuộc sống hàng ngày. Lý thuyết của Parsons
cũng bàn đến việc phân tách các vai trò giới trong gia đình, theo đó mỗi cá nhân của
cặp đôi (vợ-chồng) thực hiện một loại chức năng vừa đối ngược nhau, vừa bổ trợ
lẫn nhau. Nam giới thường được xác định là thực hiện các vai trò mang tính chủ
đạo, còn nữ giới được xác định với các vai trò mang bản chất biểu cảm hơn và có
tính bổ trợ. Parsons cho rằng vai trò mang tính biểu cảm được gắn cho phụ nữ vì lý
do gắn bó tình cảm giữa người mẹ và con cái của họ [42].
Mặc dù lý thuyết cấu trúc-chức năng là quan điểm lý thuyết chủ đạo trong
những năm 1950s-1960s, nhất là ở Bắc Mỹ, nhưng các lý thuyết chức năng về gia
đình hồi đó đã bị chỉ trích mạnh mẽ, đặc biệt là bởi vì chúng ít được quan tâm đến
biến thể khác của gia đình hay đến các vấn đề của gia đình. Hơn nữa, các nhà lý
thuyết chức năng thường biện hộ cho sự phân công lao động theo giới, và bỏ qua
những bất bình đẳng giới vốn gắn liền với cấu trúc “vai trò bổ trợ” của Parsons.
Trong đề tài nghiên cứu của luận văn này, cách tiếp cận của lý thuyết cấu
trúc-chức năng góp phần giúp nhìn nhận sự phân công lao động theo giới trong gia
thể nhận thức của đời sống gia đình. Sự đa dạng của các nghiên cứu về chủ đề này
chính là bằng chứng về các hướng nghiên cứu và chủ đề nghiên cứu mà chúng bao
quát. Các hướng và các chủ đề đó có thể bao gồm từ việc trẻ em lĩnh hội các giá trị
mang tính biểu trưng từ các nội dung của bữa ăn trưa ở trường như thế nào [40].
Vận dụng lý thuyết tương tác biểu trưng trong nghiên cứu quan hệ giới trong
gia đình, có thể thấy quan hệ đó là sản phẩm của quá trình tương tác giữa các cá
nhân nam và nữ. Quá trình tương tác này lại chịu sự chi phối của các nguyên tắc,
biểu tượng, các ký hiệu và bộc lộ thông qua ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, điệu bộ và
suy nghĩ… trong quá trình giao tiếp. Quá trình giao tiếp hàng ngày đã làm hình
thành nên một phức hợp các biểu trưng mang ý nghĩa chung có tác dụng phân định
địa vị, vai trò và hành vi của mỗi giới. Cụ thể trong quá trình tương tác với nhau
trong cuộc sống hàng ngày, xã hội đã hình thành “các khuôn mẫu gán cho” hoặc
“điều cần phải và có thể thực hiện” đối với nam và nữ, đã quy định hành vi và vai
trò nào là thích hợp với mỗi giới. Dần dần, ý nghĩa quy gán này được đông đảo các
25