PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mỗi quá trình phát triển của con người, từ khi sinh ra cho đến lúc
trưởng thành, ta luôn cần nhận sự giáo dục từ nhiều yếu tố khác nhau như gia
đình, nhà trường, xã hội… để từng bước hoàn thiện nhân cách của bản thân.
Trong đó, gia đình là môi trường góp phần quan trọng nhất trong quá trình
phát triển đấy. Gia đình gắn bó với mỗi con người từ khi sinh ra, dạy cho mỗi
con người những tiếng nói đầu tiên, những nhận thức đầu tiên về cuộc sống,
đồng thời hoàn thiện những kiến thức và bài học mà con người tiếp thu từ
ngoài xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay, bạo lực gia đình đang là một mối quan ngại sâu
sắc, một nguy cơ hạn chế sự phát triển của mỗi cá nhân trong gia đình và đặc
biệt là người bị bạo hành. Theo các nghiên cứu trên thế giới ước tính khoảng
20 –50% phụ nữ đã phải chịu bạo lực về thể xác do bạn tình hoặc các thành
viên trong gia đình. Ở Việt Nam, theo một nghiên cứu của Bộ văn hoá, Thể
thao và Du lịch phối hợp với tổ chức UNCEF cho thấy 21,2% cặp vợ chồng
đã trải qua một trong những hình thức bạo lực gia đình, trong đó 7,3% cặp vợ
chồng thường xuyên xẩy ra bạo lực. Bạo lực gia đình làm tổn hại về thể chất,
tinh thần của người bị bạo lực mà phụ nữ là nạn nhân của bạolực gia đình.
Bạo lực gia đình là nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, gây
ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự xã hội
Ở Việt Nam, bạo lực gia đình đang có chiều hướng gia tăng đáng báo
động và trái ngược với truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Bạo lực gia
đình không còn đơn thuần chỉ là hành vi đánh đập ngược đãi về thể xác, về
tinh thần, bạo hành trong tình dục, bạo lực kinh tế… mà còn là hành vi phạm
tội nghiêm trọng. Bạo lực không chỉ phát sinh ở các gia đình học vấn thấp mà
còn có ở các gia đình học vấn cao, không chỉ có ở những gia đình có điều
kiện kinh tế khó khăn mà còn nảy sinh ở những gia đình điều kiện kinh tế tốt
1
Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu trên các bài báo mạng, các công trình nghiên cứu, đề tài
nghiên cứu khoa học và luận văn tốt nghiệp có liên quan
Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian : Các tài liệu từ 2005 – 2013
- Nghiên cứu trên báo mạng và các đề tài nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích các tài liệu có sẵn của 1 số tác
giả trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đồng thời sử dụng
một số phỏng vấn, nội dung có liên quan đến vấn đề, nghiên cứu từ các tạp
chí, các bài báo mạng
3
PHẦN NỘI DUNG
Trong bài viết này, em xin được trình bày về thực trạng đầu tư giáo dục
cho con cái của người dân nông thôn thông qua việc phân tích một số khía
cạnh như: thực trạng đi học của thanh niên nông thôn, mong đợi của cha mẹ
đối với việc học hành của con cái, thực trạng đầu tư giáo dục cho con cái: thời
gian, tiền bạc… và những yếu tố tác động đến sự đầu tư đó. Em có sử dụng số
liệu và một số kết quả nghiên cứu từ các bài viết trên các tạp chí như:
- “Một số vấn đề về mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực gia đình đối với
phụ nữ trong gia đình nông thôn” của tác giả Trịnh Thái Học được đăng trên
tạp chí Xã hội học số 3, 2007.
- “Quan niệm nhận thức của các thế hệ về mâu thuẫn trong gia
đình” - của tác giả Lê Thi được đăng trên tạp chí Xã hội học số 3, 2009.
- “Báo cáo Nghiên cứu Quốc gia về Bạo lực gia đình với phụ nữở
Bạo lực gia đình là một khái niệm có phần trùng với khái niệm bạo lực
gia đình đối với phu nữ, tuy nhiên không hoàn toàn giống nhau. Tuyên bố của
Liên Hợp Quốc về Xóa bỏ Bạo lực đối với phụ nữ (1993) đã định nghĩa, bạo
lực đối với phụ nữ là “Bất kỳ hành vi bạo lực trên cơ sở giới nào dẫn đến,
hoặc có thể dẫn đến tổn hại về thể xác, tình dục hoặc tâm thần hoặc gây đau
khổ cho phụ nữ, kể cả việc đe dọa có những hành vi như vậy, áp bức hoặc độc
đoán tước bỏ tự do, dù diễn ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư”
3. Nông thôn
Nông thôn là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở
đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp, được đặc trưng bởi những
đặc điểm sau :
- Cơ sở hình thành và trình độ tiếp cận thị trường,trình độ sản xuất
hàng hóa còn thấp so với thành thị (Do diện tích rộng,mức đầu tư cho nông
thôn không lớn).
- Trong một chừng mực nào đó, tính dân chủ, tự do và công bằng xã
hội thấp hơn thành thị.
5
- Thu nhập và đời sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói
cao.
- Nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn, chịu nhiều ảnh hưởng của
điều kiện tự nhiên.
4. Phụ nữ
Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay
toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc
điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ
thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường.
Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc
0
23.2
16.8
0.9
0.4
1.3
1.3
0.9
Làm trái ý chồng
Tự ý quyết định việc quan trọng
Hỗn láo với chồng
Lười biếng
Không biết làm ăn
Có quan hệ lăng nhăng
Cờ bạc, nghiện hút, đề đóm
Không chăm sóc chồng con
Ăn tiêu hoang phí
Đem của về nhà bố mẹ đẻ
Từ chối quan hệ tình dục
Không muốn sinh thêm con
Mắng chửi
49.2
37.1
42.9
43.2
28.9
27.4
34.7
Mắng chửi
Xỉ vả
Tát
Đấm đá
Đánh bằng roi, gậy
Ném bằng bất cứ vật gì
Bỏ lửng
Bắt phải đẻ thêm con trai
Cưỡng ép quan hệ tình dục
Cấm đoán quan hệ với mọi người
Cấm tham gia hoạt động xã hội
Nữ
45.0
4.6
7.9
0.5
0.1
0.5
9.9
2.8
0.2
3.8
2.6
Nam
45.1
6.2
8.4
0.9
57.8
58.5
48.4
47.5
22.1
14.7
13.1
Làm trái ý chồng
Tự ý quyết định việc quan trọng
Hỗn láo với chồng
Lười biếng
Không biết làm ăn
Có quan hệ lăng nhăng
Cờ bạc, nghiện hút, đề đóm
Không chăm sóc chồng con
Ăn tiêu hoang phí
Đem của về nhà bố mẹ đẻ
Từ chối quan hệ tình dục
Không muốn sinh thêm con
Nam
48.2
35.8
54.7
37.1
24.4
42.2
43.4
39.8
Các chỉ báo
Mắng chửi
Tát
Đấm đá
Đánh bằng roi, gậy
Ném bằng bất cứ
8.6
1.7
10.4
2.4
16.7
3.9
8.6
0
11.3
4.5
con trai
Cấm đoán quan hệ
2.9
6.6
2.2
6.4
2.2
4.7
vẫn không làm tư duy về bất bình đẳng giới giữa nam và nữ thay đổi nhiều.
11
4. Về trình độ học vấn
Trình độ học vấn luôn là một chỉ báo quan trọng trong việc quyết định
đến hành vi của mỗi cá nhân. Khi xem xét số liệu về học vấn của người chồng
và tỷ lệ các hộ gia đình có hành vi bạo lực, kết quả nghiên cứu cho thấy 100%
những hộ gia đình có bạo lực là chồng chỉ học dưới lớp 9. Điều này cũng
tương tự đối với trình độ học vấn của người vợ. Những người vợ trong gia
đình có xảy ra bạo lực có tới 94.7% chỉ có trình độ Trung học cơ sở và chỉ có
5.3% học trên lớp 10. Điều này cho thấy người chồng học thức càng thấp thì
càng hay dung vũ lực để giai quyết mâu thuẫn gia đình, nghĩa là trình độ học
vấn có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với bạo lực gia đình, học vấn càng thấp, bạo
lực gia đình xảy ra càng nhiều.
Khi đánh giá về ảnh hưởng của học vấn tới tình trạng bạo lực gia đình,
một y sĩ 40 tuổi nghĩ rằng những người học hành đầy đủ sẽ rất để bụng nếu bị
chồng có hành vi lăng mạ, hay dung những từ ngữ, hành động thô bạo và sẽ
coi đó hành vi không thể chấp nhận được, trong khi đối với phụ nữ không có
học, việc đó sẽ được xem nhẹ hơn, thậm chí có thể coi đó là chuyện rất bình
thường
Tuy nhiên, việc bạo lực gia đình có thể xảy ra trong những gia đình có
học vấn cao không phải là không có.
“Người lao động chân tay mắng chửi, đánh nhau là chuyện bình
thường, nhưng tôi thấy có gia đình vợ chồng là giáo viên mà vẫn đánh nhau.
Người chồng rất hay tát vào mặt vợ, kể cả lúc đông người. Anh ta nghĩ rằng
tát vợ là chuyện bình thường, không có gì nghiêm trọng” (nữ, xã Đông Động,
Thái Bình, 41 tuổi, văn hóa 10/10, làm ruộng)
Thực chất, khi xét đến các điều kiện kinh tế, thì trình độ học vấn không
còn là một yếu tố quá quan trọng bởi cũng có những gia đình học vấn đầy đủ
(60.4%). Điều này vô cùng dễ hiểu, đặc biệt đối với người dân ở khu vực
nông thôn, bởi đó chính là nguồn sống của mỗi gia đình, nhất là khi những
được mất trong kinh doanh, mất mùa đói kém đã chi phối, trở thành những
nỗi lo toan làm biến đổi tình cảm của họ, dễ nổi nóng, dễ hung hãn, nổi cáu.
Do đó, những gia đình khá giả ít xảy ra hơn những gia đình nghèo khó. Ở
nông thôn, hầu hết nguồn thu nhập của các gia đình là từ nông nghiệp, nếu
mùa màng thất thu sẽ dẫn tới đói ăn. Chính vì vậy, căng thẳng về vật chất ắt
dẫn đến bế tắc về tinh thần, chính vì vậy, bạo lực trở thành điều không thể
tránh khỏi.
“Xung đột gia đình thường xảy ra trong các gia đình nghèo phải đương
đầu với tình cảnh không có cửa trước cửa sau. Nói cách khác, khi đầu óc rối
bơi thì chẳng tìm ra lối thoát. Khi đó dễ xảy ra xung đột gia đình nếu anh hay
vợ anh nói 1 câu gì đó xúc phạm hay làm điều gì đó thiếu suy nghĩ” (cán bộ
xã Đông Động, Thái Bình, nam, 45 tuổi)
Biểu đồ 3 còn cho thấy, nếu mức thu nhập của vợ càng cao hơn so với
chồng mình, thì tỷ lệ bị bạo hành lại càng cao. Tỷ lệ có bạo lực xảy ra cao
nhất chiếm 38.5% và rơi vào trường hợp thu nhập của vợ hơn chồng, trong
14
khi nếu thu nhập của chồng hơn vợ thì tỷ lệ này chỉ còn 27.9%. Điều này cho
thấy người chồng càng dễ nảy sinh hành vi ngược đãi, bạo hành nếu vợ mình
có thu nhập hơn chồng, bởi người nào có kinh tế hơn, người đó có quyền lực,
vậy nên dùng bạo lực gia đình là 1 cách để nam giới trong những trường hợp
này thể hiện uy quyền của mình.
Về phản ứng của người chồng đối với những vấn đề mang tính đạo
lý, các số liệu trên còn cho thấy người chồng phản ứng với những vấn đề
như : không tôn trọng chồng (22.2%), không tôn trọng bố mẹ chồng
những hành vi xâm phạm phụ nữ bằng lời nói.
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là vấn đề phức tạp và chịu tác động bởi
nhiều yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau. Mức độ phổ biến của bạo lực
gia đình thay đổi theo đặc điểm văn hóa của dân tộc, khu vực sinh sống. Bạo
lực gia đình có xu hướng phổ biến hơn ở những nơi có mức sống thấp, tư
tưởng trọng nam khinh nữ còn tương đối nặng nề.
Các yếu tố học vấn, mức sống, tuổi tác, giới tính phần nào có những
mối quan hệ nhất định với thực trạng mâu thuẫn và bạo lực trong gia đình, tuy
16
nhiên chưa có đủ bằng chứng để có thể kết luận trong trường hợp này yếu tố
nào là yếu tố có tác động mạnh mẽ tới tình hình mâu thuẫn/bạo lực gia đình.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra một số nhận thức sai lệch về giới
dẫn tới bạo lực theo tiết lộ của nam giới và phụ nữ tham gia phỏng vấn định
tính. Một là, cách xử trí cơn nóng giận khác nhau. Trong khi đàn ông có
quyền thể hiện cơn giận dữ của mình thì phụ nữ lại được khuyên “đừng nổi
nóng”, “nên giữ im lặng” và họ thường phải nuốt cơn giận và khóc thầm. Hai
là, phụ nữ cần phải đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng để tránh đi việc
chồng đi ngoại tình vì nhu cầu tình dục của nam cao hơn nữ và phải được thỏa
mãn. Ba là, bản chất của người phụ nữ Việt nam là chịu đựng. Nam nữ bình
đẳng nhưng một người phụ nữ khôn ngoan sẽ biết chịu đựng và phụ nữ còn
phải chịu đựng người bên nhà chồng, đặc biệt là bố mẹ chồng.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trịnh Thái Học , “Một số vấn đề về mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực
gia đình đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn” , tạp chí Xã hội học số 3,
2007.
20