Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình so sánh nông thôn - đô thị (Nghiên cứu trường hợp Phường Khương Trung - Quận Thanh Xuân và xã Tráng việt , huyện mê linh - Pdf 26

0

CH CƠ CÂ
́
U QUY
̃
THƠ
̀
I GIAN
CA VƠ
̣
VA
̀
CHÔ
̀
NG TRONG GIA ĐI
̀
NH: SO SA
́
NH
NÔNG THÔN - ĐÔ THI
̣ (Nghiên cứu trường hợp phươ
̀
ng Khương Trung - Quâ
̣
n Thanh Xuân
v x Trng Vit - Huyê
̣
n Mê Linh - H Ni)

̣
MINH GIANG
PHÂN TI
́
CH CƠ CÂ
́
U QUY
̃
THƠ
̀
I GIAN CU
̉
A VƠ
̣
VA
̀
CHÔ
̀
NG
TRONG GIA ĐI
̀
NH: SO SA
́
NH NÔNG THÔN - ĐÔ THI
̣
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. 6
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài. 6
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu. 7
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 7
5.1. Câu hỏi nghiên cứu 7
5.2. Khung lý thuyết 8
6. Phương pháp nghiên cứu. 9
6.1. Phương pháp thu thập thông tin 9
6.1.1. Cách thức xây dựng bảng hỏi 9
6.1.2. Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu 9
6.1.3. Quy trình khảo sát 9
6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu 9
6.3. Phương pháp phân tích tài liệu 10
6.4. Phương pháp xử lý và phân tích thông tin: 10
Chương 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1. Cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng 11
1.1.Cơ sở lý luận 11
1.2.Lý thuyết áp dụng 13
1.2.1. Lý thuyết cơ cấu quỹ thời gian (budget Time) 13
1.2.2. Lý thuyết bất bình đẳng giới 17
2. Các khái niệm công cụ 20
2.1. Khoảng cách giới (gender gap) 20
2.2. Vai trò giới 24
2.3. Khác biệt giới 27
3

3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. 31
3.1. Tình hình nghiên cứu ở các nước phương Tây 31
3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 34

42
Bảng 2.3
Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách
giới về thời gian dành cho công việc gia đình
50
Bảng 2.4
Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách
giới về thời gian kiếm thu nhập
60
Bảng 2.5
Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách
giới về thời gian dành cho hoạt động giải trí ngày
thường
63
Bảng 2.6
Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách
giới về thời gian dành cho hoạt động giải trí ngày
nghỉ
68 5

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.
Trong xã hội hiện đại, mỗi cá nhân thường đảm nhiệm nhiều vị trí và vai
trò khác nhau. Mỗi vị trí, vai trò lại có những yêu cầu, đòi hỏi cá nhân phải đáp
ứng trong khi cơ cấu qũy thời gian không thay đổi chỉ giới hạn trong 24 h/ngày.
Do vậy, các cá nhân phải đối mặt sức ép về thời gian để hoàn thành tốt các công

và đô thị.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Ý nghĩa lý luận
Đề tài sử dụng lý thuyết nghiên cứu cấu trúc thời gian và lý thuyết bất
bình đẳng giới với mong muốn bằng những thông tin mang tính thực nghiệm sẽ
làm rõ hơn nội dung của những lý thuyết nói trên.
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu mong muốn cung cấp những thông tin thực nghiệm về cơ cấu
sử dụng thời gian của vợ và chồng trong gia đình để các nhà hoạch định chính
sách có thể đưa ra những biện pháp thiết thực để giảm sự chênh lệch thời gian
giữa vợ và chồng trong gia đình tạo điều kiện phát triển bình đẳng giữa nam giới
và phụ nữ.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- So sánh cơ cấu quỹ thời gian của vợ chồng trong gia đình nông thôn – đô thị
- Phân tích tác động của các yếu tố cá nhân và yếu tố gia đình đến cơ cấu quỹ
thời gian của vợ và chồng.
7

4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu: Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia
đình nông thôn và gia đình đô thị.
Khách thể nghiên cứu:
Các cặp vợ chồng ở xã Tráng Việt - Huyện Mê Linh – Hà Nội và các cặp vợ và
chồng ở phường Khương Trung - Huyện Thanh Xuân – Hà Nội.
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Khoảng cách giới trong cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng như thế
nào?
Câu hỏi 2: Những yếu tố nào tác động đến khoảng cách giới trong sử dụng quỹ
thời gian.

Trình độ
học vấn Nghề
nghiệp Vị trí
công tác Có trẻ
em dưới
3 tuổi Thời gian
hôn nhân Thu
nhập

Cơ cấu quỹ thời
gian của chồng
9

6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phƣơng pháp trƣng cầu ý kiến

Để cung cấp thêm thông tin định tính cần thiết cho nghiên cứu, chúng tôi
tiến hành phỏng vấn sâu 2 cặp vợ chồng ở nông thôn và 2 cặp vợ chồng ở đô
thị.
6.3. Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Người nghiên cứu tiến hành phân tích các sách chuyên môn, báo, tạp
chí, để khai thác những thông tin có liên quan tới vấn đề nghiên cứu.
6.4. Phƣơng pháp xử lý và phân tích số liệu
Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng
SPSS 17.0.
Trong phần mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về
thời gian dành cho các hoạt động, chúng tôi xây dựng 8 mô hình hồi quy để xem
xét tác động của các yếu tố cá nhân và gia đình đến khoảng cách giới về thời
gian dành cho công việc gia đình, khoảng cách giới về thời gian kiếm thu nhập
và khoảng cách giới về thời gian giải trí trong ngày thường và ngày nghỉ.
11

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng
1.1. Cơ sở lý luận
Để xác lập cơ sở lý luận và phương pháp luận cho đề tài, chúng tôi xuất
phát từ quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và
bình đẳng giới.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Hiến pháp đầu tiên của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) đã có điều khoản là mọi công dân Việt Nam
không phân biệt gái trai, giàu nghèo, người Kinh với người dân tộc thiểu số
được bình đẳng trước pháp luật và trong đời sống thực tế. Hiến pháp còn tuyên
bố xoá bỏ mọi thủ tục khắt khe với phụ nữ. Điều này đã phản ánh quan điểm
bình đẳng giới của Hồ Chí Minh. Quán triệt quan điểm trên của Hồ Chí Minh về
phụ nữ, Đảng và Nhà nước ta đã thể chế hoá thành pháp luật, thể hiện trong quá

hết là phụ nữ và thanh niên) cần phải ra sức tuyên truyền luật Hôn nhân và Gia
đình sâu sắc, rộng hơn nữa và phải chấp hành thật nghiêm chỉnh. Những thói dã
man đánh vợ, ép con cần phải chấm dứt. Lợi quyền của phụ nữ cần được đảm
bảo.(Hồ Chí Minh, tập 8, 1989)
Thông cảm và thấu hiểu những khó khăn vất vả mà phụ nữ phải lo toan,
gánh vác hàng ngày để hoàn thành công việc của xã hội và gia đình.Người nhắc
các cấp, các ngành, các đoàn thể phải tìm cách giúp đỡ phụ nữ giảm bớt khó
khăn về công việc gia đình, tạo điều kiện để họ công tác, học tập, phấn đấu càng
tiến bộ. Các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã cần tổ chứ nhà trẻ, lớp mẫu
giáo, tổ chức những nhà ăn công cộng cho tốt để giải phóng phụ nữ khỏi công
việc bếp núc. Được giảm bớt gánh nặng việc nhà người phụ nữ có cơ hội học
tập, phấn đấu nâng cao trình độ, họ sẽ hoàn thành tốt trách nhiệm làm vợ, làm
mẹ trong gia đình, làm tròn nhiệm vụ người công dân trong xã hội.
Ngoài ra, chúng tôi cũng vận dụng quan điểm của Engels về mối quan hệ
cũng như sự phân công lao động trong gia đình vợ và chồng làm phương pháp
luận của đề tài. Engels lý giải sự phân công lao động giữa nam và nữ như một
tất yếu lịch sử; hình thức phân công lao động ở từng giai đoạn nhất định thể hiện
trình độ phát triển của nhân loại ở giai đoạn đó. Theo ông, cơ sở của phân công
13

lao động xã hội là dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Áp dụng quan
điểm này khi phân tích về phân công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng,
Engels cho rằng trong gia đình, ai nắm trong tay nhiều tư liệu sản xuất thì người
đó có nhiều quyền lực.
Engels đã phân tích mô hình phân công lao động của các thời kỳ lịch sử
để từ đó tìm ra nguyên nhân chính chi phối quan hệ này. Ông lý giải sự phân
công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng gắn liền với những hình thái kinh
tế xã hội nhất định. Như vậy, theo Enggel, một chế độ kinh tế xã hội nhất định là
điều kiện và nguyên nhân quan trọng tạo nên bất bình đẳng giữa nam và nữ. Do
đó, muốn thiết lập sự bình đẳng thực sự cho phụ nữ cần phải có sự thay đổi toàn

giờ giấc hoặc nhịp điệu của tự nhiên, hoặc là chuỗi các hoạt động được tổ chức
theo nhịp điệu. Tuy nhiên, thời gian không chỉ là một phạm trù thuộc tự nhiên,
thông qua thời gian chúng ta thấy được chuỗi hoạt động của con người và bộ
mặt xã hội, tiếng nói,vị trí vai trò của cá nhân.
Adam đã trích dẫn lời nhận xét của Anthony Giddens rằng khoa học xã hội có
khuynh hướng cụ thể hóa cấu trúc xã hội bằng cách trừu tượng hóa nó qua thời
gian, Những cấu trúc xã hội ổn định là những sự tiếp nối liên tục các cấu trúc
cùng với thời gian. Nói rằng xã hội có một cấu trúc là X là để chỉ cùng một kiểu
xã hội đang xảy ra tại một thời điểm là T1, T2, T3, v.v [16;22]
Tiếp theo là những quan điểm về phân tích quỹ thời gian của Jonathan I.
Gershuny va Graham S. Thomas, Changing Times (1984). Nhóm tác giả này
thông qua việc nghiên cứu quỹ thời gian của cộng đồng dùng hệ thống những
chỉ số miêu tả việc sử dụng quỹ thời gian (như là ngày, tuần, tháng, năm) với
những đối tượng như công nhân công nghiệp, nhân viên văn phòng, nông
dân, ,và cả các hộ gia đình cũng như là các nhóm người cụ thể trong cộng
đồng. Để xác định được quỹ thời gian, các nghiên cứu chuyên sâu đã được tiến
hành, theo tiến trình đó thì việc sử dụng thời gian được xem xét trong các
khoảng thời gian cụ thể phù hợp với hệ thồng do lường về thời gian (như giờ,
phút và tỉ lệ phần trăm trong quỹ thời gia được đưa).
Việc điều tra chi tiết về quỹ thời gian là một yếu tố quan trọng trong việc
nghiên cứu cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng. Tổng quỹ thời
gian thông thường chia ra: thời gian dành cho công việc (thời gian thực dành
15

cho công việc, thời gian sử dụng cho việc chuyển giao công việc và ngoài ra là
thời gian sử dụng không dành cho sản xuất, thời gian nghỉ giữa giờ theo nguyên
tắc, thời gian đi ra ngoài hoặc thời gian nghỉ phép) và thời gian không làm việc
bao gồm thời gian dành cho công việc gia đình, nhu cầu cá nhân, đi lại đến nơi
làm việc thỏa mãn những nhu cầu về tâm sinh lý (như ngủ, ăn), thời gian rảnh
rỗi nghiên cứu, tự học, giải trí, v.v ) các số liệu về quỹ thời gian tạo điều kiện

hài lòng và quan hệ tình cảm lạc quan trong gia đình, trong khi sự quan tâm đến
vai trò giới trong các hoạt động giải trí vẫn còn hạn chế. Để bổ sung vào khía
cạnh này, Iwasaki và cộng sự đã xem xét việc sử dụng thời gian rỗi của phụ nữ
và nam giới trong lĩnh vực quản lý, nhằm tìm hiểu xem vấn đề giới đóng vai trò
như thế nào khi họ sử dụng thời gian rỗi để đối phó với những căng thẳng trong
cuộc sống [21]. Kết luận đưa ra là hoạt động giải trí là một biện pháp quan
trọng nhằm giải toả căng thẳng cho cả hai giới nam và nữ. Và mặc dù những
căng thẳng mà cả nam và nữ đang phải đối mặt từ thực tế cuộc sống có nhiều
điểm chung song cơ chế sử dụng thời gian rỗi và hình thức giải trí ở mỗi giới lại
khác nhau.
Áp dụng lý thuyết vào đề tài: Từ lý thuyết về cấu trúc quỹ thời gian trên,
chúng tôi có thể áp dụng làm cơ sở lý thuyết khi phân tích cơ cấu quỹ thời gian
của vợ và chồng trong gia đình ở những khía cạnh sau: Thứ nhất, thông qua thời
gian hoạt động của cá nhân có thể hình dung được bộ mặt xã hội, vị trí, vai trò
của cá nhân đó trong xã hội thậm chí đánh giá về tiêu chuẩn văn hoá, chất lượng
sống của cộng đồng, nhóm xã hội. Không thể đưa ra những đánh giá về cá nhân,
nhóm xã hội mà không biết được họ đang làm gì và dành bao nhiêu thời gian
vào công việc đó. Thời gian không chỉ là một phạm trù thuộc lĩnh vực tự nhiên
mà còn là thông điệp cho chúng ta thấy được những khía cạnh xã hội quan
trọng. Thông qua việc phân tích các hoạt động của vợ và chồng trong một ngày
làm việc bình thường và một ngày nghỉ, chúng tôi muốn dựng lại bức chân dung
xã hội của vợ và chồng trong gia đình, trên cơ sở khẳng định có tồn tại hay
không một khoảng cách giới về thời gian để có thể thấy được vai trò, địa vị của
nam giới và nữ giới như thế nào và đang có sự thay đổi ra sao. Như vậy, thời
gian thật sự là một chỉ báo quan trọng và hữu ích để phân tích các vấn đề xã hội
. Thứ hai, chúng ta biết bản chất của thời gian là tuân theo vòng tuần hoàn của tự
17

nhiên, là một con số cố định nhưng việc con người sử dụng thời gian đó vào các
công việc khác nhau như thế nào còn do sự tác động của nhiều yếu tố xã hội

Đưa quan điểm giới vào phân tích những khuôn mẫu xã hội đặc thù cụ thể là bất
bình đẳng giới, bà cho rằng các cấu trúc và điều kiện xã hội đã ảnh hưởng các
cấp độ của phân tầng giới. Đó chính là sự phân biệt vai trò giới, ý thức hệ gia
trưởng, gia đình, tổ chức lao động, khuôn mẫu sinh sản…Người phụ nữ chịu
đựng sự bất lợi ở mức thấp nhất khi họ có thể cân bằng giữa các trách nhiệm nội
trợ với vai trò sản xuất.
Quan điểm của các nhà “nữ quyền Macxit” là phụ nữ không bình đẳng với
nam giới không phải vì bất kỳ xung đột cơ bản và trực tiếp nào về mối quan tâm
giữa hai giới mà vì sự bất bình đẳng về tài sản, sự bóc lột lao động, sự tha hoá
trong môi trường bị áp bức giai cấp. Dù ở bất kỳ giai cấp nào họ cũng bị thiệt
thòi hơn nam giới. Do vậy, việc xoá bỏ áp bức phụ nữ chỉ có thể thực hiện song
hành với việc xoá bỏ áp bức về giai cấp.
Thông qua việc phân tích một “hệ thống hữu cơ thực chứng”, Spencer
cũng đưa ra những mô hình đầu tiên cho sự phân tích xã hội học về phụ nữ, về
vị trí của họ trong gia đình và xã hội. Ông ủng hộ mô hình phụ nữ hoạt động cơ
bản trong gia đình, còn nam giới là cầu nối giữa gia đình và các tổ chức xã hội
khác. Các nhà sinh vật học xã hội này cũng cho rằng, não bộ của phụ nữ nhỏ và
kém thông minh hơn nam giới, vì vậy trách nhiệm của họ là duy trì sự cân bằng
trong gia đình và trong mối liên hệ với các thiết chế xã hội khác. Hành động xã
hội như các phong trào đòi bình đẳng giai cấp, bình đẳng cho phụ nữ sẽ phá vỡ
sự cân bằng của xã hội, đi ngược lại sự tiến hoá xã hội.
Với E.Durkheim, trong cuốn “Nhập môn xã hội học gia đình”, ông giới
thiệu những khía cạnh của mối quan hệ vợ chồng, con cái, dòng họ trên các
phương diện cá nhân và của cải, trình bày các yếu tố tác động đến li hôn. Phụ nữ
phải chịu sự thống trị và kiểm soát của nam giới trong gia đình và xã hội phụ
quyền; đây là tổ chức xã hội bảo vệ cho họ. Talcott Parsons - một đại diện tiêu
biểu của học thuyết cơ cấu chức năng lại có những quan điểm về giới khá bảo
thủ thể hiện sự bất bình đẳng về giới. Theo ông, để duy trì sự ổn định xã hội,
Parsons nhấn mạnh tới vị thế và vai trò của các cá nhân và các nhóm xã hội và
giải thích sự ổn định xã hội thông qua việc duy trì các vai trò và vị thế này, cần

những chỉ báo về cơ cấu quỹ thời gian cho thấy người chồng dành thời gian
nhiều hơn người vợ ở những hoạt động như ngủ, giải trí trong khi các hoạt động
20

như chăm sóc gia đình thì lại ngược lại. Những phân tích lý thuyết về bất bình
đẳng giới trên là cơ sở để chúng ta giải thích về những chỉ báo sử dụng thời gian
cho các hoạt động trên không chỉ là vấn đề thuộc phạm trù sinh học mà là một
biểu hiện về bất bình đẳng giới.
2. Các khái niệm công cụ
2.1. Khoảng cách giới (gender gap)
Trong xã hội học, những khác biệt giới tính sinh học đã được sử dụng để
giải thích và hợp pháp hóa sự phân công lao động trong gia đình và xã hội. Tiger
và Fox (1972) tranh luận rằng, phụ nữ và nam giới có sự khác nhau về “ những
lập trình sinh học”, hoặc các lập trình được dựa trên cơ sở gien, điều này khiến
họ ứng xử trong những cách khác nhau. Lập trình sinh học của nam giới khiến
cho đàn ông mạnh mẽ, tự tin và thống trị trong khi lập trình sinh học của nữ giới
ảnh hưởng đến việc phụ nữ có con và chăm sóc con cái. Vì thế lập trình sinh học
giải thích và chứng minh sự ưu thế của nam giới trong việc ra các quyết định và
các chính sách xã hội, còn phụ nữ trội hơn trong việc chăm sóc con cái. Lập
trình sinh học mà nam và nữ có hiện nay là sự kế thừa từ tổ tiên của họ, những
người sống trong các xã hội săn bắn hái lượm. Lập trình sinh học của nam và nữ
không phải là tuyệt đối cố định, mà chúng biến đổi rất chậm, và sự biến đổi
không thể đem lại cái mà Tiger và Fox hiểu như là những nỗ lực “ phi tự nhiên”
của giới này hay giới kia thách thức sự tồn tại của các vai trò. Murdock (1949)
trong 1 nghiên cứu về 224 xã hội, phát hiện thấy rằng nam giới chủ yếu chịu
trách nhiệm trong những nhiệm vụ đòi hỏi thể lực, như san bắn và khai thác mỏ
(than, quặng…) và phụ nữ chủ yếu chịu trách nhiệm trong những nhiệm vụ gia
đình và chăm sóc trẻ em. Ông giải thích sự phân công lao động này không phải
là thuật ngữ về lập trình sinh học, trong đó sức mạnh thể lực của nam giới được
dựa trên cơ sở của gien và vai trò tái sinh sản của phụ nữ. Những sự khác biệt

muốn. Năm 1979, Patrick Jenkin, bộ trưởng thuộc đảng Bảo thủ (Anh) đã phát
biểu trong một trương trình của đài BBC có tên gọi “Man Alive” rằng “Nếu
Thượng đế có ý định cho tất cả chúng ta quyền bình đẳng, bạn biết Thượng đế
sẽ không tạo ra nam giới và phụ nữ… những cái này thuộc về dữ kiện sinh học
của cuộc sống, mà một đứa trẻ phải phụ thuộc vào mẹ của chúng” (Garrentt,
1987:6).
22

Quan điểm cho rằng, bản năng làm mẹ được dựa trên cơ sở sinh học là
một quan điểm được hình thành bởi nhiều “chuyên gia” trong lĩnh vực chăm sóc
trẻ em, như Spork, Leach và Jolly, tất cả họ đều không tán thành về việc phụ nữ
xuất hiện mà lại không ứng xử theo cách đó. Quan điểm này đồng thời cũng là
của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực sức khỏe và đã có ảnh hưởng mạnh đến luật
phúc lợi xã hội được giới thiệu ở Anh năm 1945.
Hunt (1975) phát hiện nhiều người thuê lao động đã sử dụng yếu tố sinh
học như một sự bào chữa, minh chứng cho sự đối xử khác biệt giữa lao động
nam và nữ. Bà đã khám phá ra rằng đa số phụ nữ được xem như những lao động
ít được mong muốn hơn nam giới bởi vì người ta tin rằng phụ nữ thường ốm
đau, bệnh tật và do vậy có nhiều khả năng nghỉ làm hơn nam giới, đồng thời họ
cũng được xem như là những người mẹ tương lai nên trong thời gian mang thai,
sinh con phải nghỉ việc. Đàn ông được xem là khỏe mạnh hơn, có nhiều tham
vọng hơn và gắn bó với công việc hơn phụ nữ. Một ưu điểm của lao động nữ,
theo quan điểm của người sử dụng lao động trước đây và có thể cả hiện nay, đó
là “bản chất” dễ bảo, ngoan ngoãn của phụ nữ. Phụ nữ được xem là ít có khả
năng để hoạt động trong công nghiệp và có thể đương đầu rất tốt với công việc
buồn tẻ, đơn điệu, lặp lại. Trong thực tế lao động, việc làm, quan điểm này vẫn
còn được hiện diện ở nhiều lĩnh vực, ở các quốc gia với những mức độ khác
nhau.
Trong nghiên cứu “Khoảng cách mới về giới tính” của Michelle Conlin
trên đã đưa ra những khía cạnh mới về lý thuyết khoảng cách giới. Theo ông,

về vai trò giới tính)
3. Đánh giá và tính ưu việt về các đặc điểm và hoạt động giới tính đặc
trưng (thái độ về vai trò giới tính)
4. Phương thức hành vi có đặc trưng giới tính (hành vi vai trò giới tính)
(2002: 544)
Vai trò giới là những trông đợi về những hành vi và quan điểm mà nền
văn hoá xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới. Các vai trò giới cơ bản
bao gồm: vai trò sinh sản, vai trò sản xuất và vai trò quản lý cộng đồng. Những
vai trò giới này được học thông quá trình xã hội hoá. Vai trò giới va mối quan hệ
về giới có thể biến đổi qua các thời kỳ xã hội và khác nhau giữa các nền văn
hoá.
Các vai trò giới được định nghĩa là các hành vi và những quan điểm thái
độ được trông đợi trong một xã hội tạo nên với mỗi giới tính. Những vai trò này
bao gồm các quyền và trách nhiệm được chuẩn hoá đối với từng giới tính trong
một xã hội cụ thể. Vai trò giới được hiểu là những trông đợi về hành vi và quan
điểm mà nền văn hoá xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới. Vai trò là

Trích đoạn Khoảng cách giới về thời gian công việc gia đình Khoảng cách giới về thời gian kiếm thu nhập Khoảng cách giới về thời gian giải trí ngày nghỉ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status