B GIO DC V O TO
TRNG I HC KINH T QUC DN
*****
Đề tài NGHIấN CU Khoa học cấp cơ sở
Phát triển dịch vụ bảo hiểm vi mô cho khu vực
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam: nghiên cứu trờng
hợp công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển Nông thôn Việt Nam
Mó s: T2011.14
chủ nhiệm đề tài: ts. nguyễn thị hải đờng
Cỏc thnh viờn:
1. TS. Nguyn Th Chớnh
2. TS. Phm Th nh
3. NCS. Tụ Thiờn Hng
4. NCS. Trnh Chi Mai
H NI - 2012
MỤC LỤC
Bảng 1.2: Phạm vi bảo hiểm của sản phẩm bảo vệ tài chính gia đình qui mô nhỏ 22
Bảng 4.1: Các sản phẩm bảo hiểm con người 60
Bảng 4.2: Các sản phẩm bảo hiểm tài sản 61
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG:
Bảng 1.2: Phạm vi bảo hiểm của sản phẩm bảo vệ tài chính gia đình qui mô nhỏ 22
Bảng 1.2: Phạm vi bảo hiểm của sản phẩm bảo vệ tài chính gia đình qui mô nhỏ 22
Bảng 4.1: Các sản phẩm bảo hiểm con người 60
Bảng 4.1: Các sản phẩm bảo hiểm con người 60
Bảng 4.2: Các sản phẩm bảo hiểm tài sản 61
Bảng 4.2: Các sản phẩm bảo hiểm tài sản 61
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các hộ gia đình, các cơ sở, đơn vị sản xuất nhỏ trong khu vực nông nghiệp và
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và cho khách hàng của họ: các hộ
gia đình, các đơn vị sản xuất trong khu vực nông nghiệp và và nông thôn Việt Nam.
2. Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu 3 vấn đề cơ bản:
- Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến dịch vụ bảo hiểm cho người có thu
nhập thấp trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại: các mô hình liên kết, sản phẩm, hệ
thống phân phối, cơ sở pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động bảo hiểm vi mô;
- Đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển dịch vụ bảo hiểm vi mô cho khu
vực nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam tại ABIC;
- Đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm vi mô tại ABIC trong thời
gian tới.
Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:
- Bảo hiểm vi mô có sự khác biệt thế nào so với các sản phẩm bảo hiểm
thương mại thông thường?
- Hiện tại ABIC đã phát triển dòng sản phẩm bảo hiểm này thế nào?
- Nên phát triển dịch vụ bảo hiểm vi mô cho khu vực nông nghiệp và nông
thôn Việt Nam tại ABIC theo hướng nào: mô hình phân phối nào thì phù hợp? phát
triển các sản phẩm nào?
- Các qui định pháp lý ảnh hưởng thế nào đến việc phát triển dịch vụ bảo hiểm
vi mô cho khu vực nông nghiệp và nông thôn Việt Nam tại ABIC?
4
- Cần những điều kiện gì để phát triển dịch vụ bảo hiểm vi mô cho khu vực
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam tại ABIC?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là dịch vụ bảo hiểm vi mô cho khu vực nông nghiệp và
nông thôn và các nhân tố tác động đến việc phát triển dịch vụ này, như: môi trường
pháp lý, thị trường tiềm năng, điều kiện cơ sở kỹ thuật,…
- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở,
phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển dịch vụ bảo
hiểm vi mô cho khu vực nông nghiệp và nông thôn Việt Nam tại ABIC do đây là
.
Tương tự như Chuchill, công ty bảo hiểm ALLIANZ AG, tổ chức GTZ và
UNDP (2006) Chỉ ra rằng “bảo hiểm vi mô được thiết kế đặc biệt để bảo vệ những
người có thu nhập thấp, với các sản phẩm bảo hiểm thích hợp để giúp họ đương đầu
và được bảo vệ khỏi các rủi ro chung”
2
.
Cùng quan điểm trên, Roth, McCord và Liber (2007), định nghĩa “bảo hiểm vi
mô là việc cung cấp các dịch vụ bảo hiểm đến những người có thu nhập thấp”
3
Về bản chất bảo hiểm vi mô cũng giống bảo hiểm thông thường, tuy nhiên sự
khác biệt nằm ở chỗ khách hàng mục tiêu của bảo hiểm vi mô là những người có
thu nhập thấp do vậy đòi hỏi sản phẩm bảo hiểm phải đơn giản, dễ hiểu và phí thấp.
Các nghiên cứu của UNDP, ILO hay các đánh giá của Munich RE, v.v. tại các
nước như Ấn độ, Indonesia, Bangladesh, Urganda,… đều cho thấy bảo hiểm vi mô
thực sự có ích đối với những người có thu nhập thấp, hỗ trợ họ trong hoạt động
chăn nuôi, sản xuất cũng như đối đầu với các rủi ro trong cuộc sống hàng ngày.
Các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm vi mô rất đa dạng. Có thể là những công ty
bảo hiểm lớn có tiếng như AIG, Uganda, Delta Life (Bangladesh), ALLIANZ,v.v.
ứng dụng công nghệ hiện đại vào bảo hiểm vi mô và có được lợi thế về qui mô, hay
1
Protecting the poor, A microinsurance compendium (Craig Churchill, 2007)
2
ALLIANZ AG, GTZ and UNDP (2006), Microinsurance: Demand and Market Prospects India, Federal
Ministry for Economic Cooperation and Development, INDIA.
3
Jim Roth, Micheal J.McCord, and Dominic Liber (2007), The Landscape of Microinsurance in the World’s
100 Poorest Countries, The Microinsurance Centre, LLC, trang 1.
6
một kênh cung cấp dịch vụ bảo hiểm vi mô cũng rất hiệu quả và phát triển là các tổ
Số tiền bảo hiểm rất lớn hơn Số tiền bảo hiểm nhỏ
Thị trường mục tiêu rộng và đa dạng.
Một bộ phận nhất định của của thị
trường mục tiêu đã có thói quen tham
gia bảo hiểm, có điều kiện tiếp cận với
dịch vụ bảo hiểm
Thị trường mục tiêu hẹp, hạn chế về khả
năng tài chính, hầu như không có điều
kiện tiếp cận với dịch vụ bảo hiểm.
1.3. Sự cần thiết của phải phát triển dịch vụ bảo hiểm vi mô
7
Thị trường dịch vụ bảo hiểm truyền thống tại các nước luôn có xu hướng
phát triển ổn định. Doanh thu, nhu cầu bảo hiểm truyền thống, các sản phẩm bảo
hiểm mới gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Thậm chí, tại các nước
đang phát triển, rất nhiều phân khúc thị thường tiềm năng của sản phẩm bảo hiểm
truyền thống vẫn còn đang bỏ ngỏ. Câu hỏi đặt ra là vậy tại sao phải phát triển dịch
vụ bảo hiểm vi mô? một thị trường mà người dân có thu nhập thấp, vấn đề nhận
thức không đồng đều thậm chí là kém, khả năng tiếp cận thị trường khó.
Tại tất cả các quốc gia, bất kể là nước kém phát triển, đang phát triển hay
nước phát triển, mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn liền với yêu cầu phát triển
bền vững. Nếu kinh tế tăng trưởng nhưng tỉ lệ hộ nghèo tăng hoặc không giảm, tỉ lệ
tái nghèo tăng thì mục tiêu phát triển mới chỉ đạt được một phần và nguy cơ mà
nghèo đói, tái nghèo đem lại sẽ kéo lùi nỗ lực của tăng trưởng kinh tế.
Đứng trên quan điểm của các tổ chức phi chính phủ, các nước kém và đang
phát triển cần phát triển bảo hiểm vi mô nhằm đảm bảo nền kinh tế có được sự cải
thiện và ổn định phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững. Trong nghiên cứu về
bảo hiểm vi mô tại 100 nước nghèo nhất thế giới , Roth, McCord và Liber (2007)
trả lời cho câu hỏi tại sao phải phát triển dịch vụ bảo hiểm vi mô tại các nước kém
và đang phát triển và cho đối tượng có thu nhập thấp: “Bởi vì các nguồn lực của họ
quá hạn chế, người nghèo có thể gặp phải đổ vỡ về tài chính lớn khi các sự kiện
trong chiến lược phát triển bền vững.
1.4. Nội dung cơ bản của dịch vụ bảo hiểm vi mô
1.4.1. Các nhà cung cấp bảo hiểm vi mô
Phát triển bảo hiểm vi mô vô cùng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong
vấn đề đảm bảo an sinh xã hội và phát triển bền vững. Do tính chất khác biệt của
bảo hiểm vi mô nên không phải doanh nghiệp bảo hiểm nào cũng mặn mà với loại
sản phẩm dịch vụ này. Các nhà phân phối có thể là những nhà bảo hiểm được điều
chính hoặc không điều chỉnh bởi luật.
Các nhà cung cấp bảo hiểm vi mô không được điều chỉnh bởi luật thường là
có qui mô nhỏ và có xu hướng là các tổ chức dựa vào cộng đồng và các tổ chức phi
chính phủ. Các quĩ tương hỗ, được vận hành bởi các nhân viên bảo hiểm chuyên
nghiệp thường được điều chỉnh và giám sát.
Các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp là những đối tượng được điều tiết bởi luật
cũng là các nhà cung cấp bảo hiểm vi mô. Trong đó, hầu hết các nhà bảo hiểm quốc
tế lớn sẵn sàng tham gia vào hoạt động bảo hiểm vi mô theo một số cách, hoặc là
cung cấp các sản phẩm bảo hiểm vi mô hoặc tham gia vào các hợp đồng đối tác với
các nhà bảo hiểm địa phương và các kênh phân phối tại các nước đang phát triển.
5
Qũi bảo vệ tương hỗ M7 (2011), Tiếng nói người dân về MPA, Diễn đàn Bảo hiểm vi mô lần thứ 2, Hà Nội.
9
Một số các công ty bảo hiểm đa quốc gia bao gồm Zurich, AIG, Allianz, hiện nay
đang có bộ phận bảo hiểm vi mô tại văn phòng chính tập trung vào việc mở rộng
kinh doanh bảo hiểm vi mô thông qua các mạng lưới của họ.
1.4.2 Sản phẩm bảo hiểm vi mô
Như đã đề cập trong khái niệm, bảo hiểm vi mô là sản phẩm bảo hiểm cho
người có thu nhập thấp do vậy nó phải đảm bảo yếu tố đơn giản, phí thấp. Trong
các nghiên cứu của ILO, Lloyd’ thì các rủi ro thường được ưu tiên quan tâm đối với
những người có thu nhập thấp tập trung vào các nhóm:
- Tử vong.
- Ốm đau, thương tật và mất khả năng lao động.
hiểm nhân thọ tín dụng. Bảo hiểm nhân thọ tín dụng bảo hiểm cho các khoản dư
nợ chưa hoàn trả (có thể cộng với lãi suất bị mất) của khoản vay trong trường hợp
người vay bị chết. Loại hình bảo hiểm này giảm nhẹ một số rủi ro cho nhà tín dụng
tuy nhiên giá trị đối với những người sống phụ thuộc chỉ ở mức tối thiểu. Thực chất
sản phẩm này bảo vệ cho các tổ chức Tài chính vi mô và các tổ chức tín dụng. Hiện
tại dòng sản phẩm này chiếm đến 60% các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ vi mô tại
các nước nghèo.
Bảo hiểm tử kì (bảo hiểm sinh mạng có kì hạn): là sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ giản đơn và rất phổ biến trong bảo hiểm vi mô. Sản phẩm bảo hiểm cho sự
kiện tử vong của một hoặc các thành viên trong một hộ gia đình. Sản phẩm này đơn
giản trong việc định phí và quản lý rủi ro nhưng thách thức lớn nhất cho việc phát
triển sản phẩm là vấn đề phân phối và tối thiểu hoá các chi phí.
Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ dài hạn: bao gồm bảo hiểm nhân thọ
hỗn hợp, trợ cấp hưu trí (trợ cấp khi tuổi già) và bảo hiểm nhân thọ trọn đời. Đây là
những sản phẩm rất ít khi được phân phối nhưng vẫn có một số tổ chức hoặc doanh
nghiệp bảo hiểm kết hợp với các tổ chức cố gắng phát triển. Thách thức đối với việc
phát triển dòng sản phẩm này nằm ở kênh phân phối, điều kiện kinh tế vĩ mô không
ổn định và lạm phát cao tại các nước nghèo, thu nhập của nhóm đối tượng của bảo
hiểm vi mô thấp.
Ngoài ra, một số điều khoản bổ sung cũng được thiết kế nhằm gia tăng phạm
vi và qui mô bảo vệ cho sản phẩm bảo hiểm chính như:
Bảo hiểm quyền lợi bổ sung: Một loại bảo hiểm nhân thọ có thời hạn dành
cho người vay tiền và tương ứng với thời hạn của khoản vay. Nếu người vay chết
trong thời hạn khoản vay, người thụ hưởng sẽ được nhận một khoản chi trả cố
định để trang trải chi phí mai táng và các chi phí khác. Thuật ngữ “quyền lợi bổ
sung” được sử dụng vì nó được bán kèm với bảo hiểm nhân thọ tín dụng và
thương tật tín dụng.
Bảo hiểm tính mạng bổ sung: Luôn bán kèm với sản phẩm “quyền lợi bổ
sung”. Loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thời hạn này bảo hiểm thêm cho một số
11
một số tiền ấn định cho từng sự kiện rủi ro. Vấn đề khó khăn nhất đối với bảo hiểm
12
chi phí y tế và sức khỏe nằm ở qui mô số người tham gia bảo hiểm. Nếu số người
tham gia bảo hiểm quá thấp sẽ không thể đảm bảo việc phân tán tổn thất hiệu quả.
1.4.2.3. Các sản phẩm bảo hiểm tài sản
- Bảo hiểm nông nghiệp:
Là sản phẩm bảo hiểm cho năng suất cây trồng, vật nuôi mà các hộ nông dân
hoặc ngư dân có thể sử dụng để bảo vệ mùa màng của họ khỏi những thiên tai, dịch
bệnh, sâu bọ Đây là loại sản phẩm bảo hiểm vi mô gặp nhiều khó khăn nhất trong
việc thiết kể sản phẩm cũng như các biện pháp quản lý rủi ro do các rủi ro mang
tính tích luỹ, phủ rộng, cơ sở kĩ thuật phức tạp.
- Gói sản phẩm bảo hiểm hộ gia đình
Đây là sản phẩm bảo hiểm trọn gói cho các hộ gia đình bao gồm bảo hiểm sức
khỏe và bảo hiểm tài sản. Gói sản phẩm này được thiết kế với mức phí phù hợp và rẻ
hơn so với các sản phẩm bảo hiểm đơn lẻ khác. Khi người nghèo sử dụng gói sản phẩm
này họ sẽ không phải lo lắng đến những rủi ro khi xảy ra với sức khỏe cũng như những
tài sản của họ. Các sản phẩm bảo hiểm trong gói bảo hiểm này bao gồm bảo hiểm
thương tật hoặc chết do tai nạn, đau ốm; bảo hiểm mọi rủi ro tài sản cho nhà ở…
Theo quan sát điều tra của Trung tâm bảo hiểm vi mô về bảo hiểm vi mô tại
các nước đang phát triển, các sản phẩm bảo hiểm vi mô đang được triển khai tại các
nước tập trung thiết kế hướng tới một số rủi ro ưu tiên:
- Urganda: bảo hiểm cho các rủi ro ốm đau, tử vong, mất khả năng lao động,
tổn thất tài sản, rủi ro của các khoản vay.
- Malawi: bảo hiểm cho rủi ro tử vong (đặc biệt liên quan đến HIV/AIDS),
mất mùa, ốm đau, giáo dục.
- Philippines: bảo hiểm cho trường hợp tử vong, tuổi già, ốm đau.
- Việt Nam: bảo hiểm cho rủi ro ốm đau, thiên tai, tai nạn, ốm/chết của gia súc.
- Indonesia: bảo hiểm cho rủi ro ốm đau, chi phí giáo dục của trẻ em, mất mùa.
- Lào bảo hiểm cho trường hợp ốm đau, bệnh tật của vật nuôi, rủi ro tử vong.
8
9
.
- Kênh phân phối bancassurance: đây là kênh phân phối được rất nhiều nhà
bảo hiểm áp dụng để tận dụng lợi thế của người cho vay. Tuy nhiên chỉ một số nhà
bảo hiểm có thể áp dụng hiệu quả kênh phân phối này khi phân phối bảo hiểm vi
mô, xuất phát từ đặc điểm của bản thân khách hàng của ngân hàng.
- Các kênh phân phối khác: các hình thức phân phối truyền thống khác được
9
Allianz AG, GTZ and UNDP, 2006, Microinsurance: Demand and Market Prospects;
Micheal J. Cord, 2000, Microinsurance in Urganda: a Case Study of an Example of the Partner-Agent Model
of Microinsurance Provision, Microsaving-Africa, Kenya.
14
sử dụng bởi các nhà bảo hiểm thông thường như phân phối qua mạng, phân phối
qua thư, … hầu như không được áp dụng trong lĩnh vực bảo hiểm vi mô do hạn chế
trong việc tiếp cận công nghệ từ phía khách hàng.
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển dịch vụ bảo hiểm vi mô
1.5.1. Các nhân tố khách quan
1.5.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội
Đối tượng đầu tiên bị ảnh hưởng khi điều kiện kinh tế chính trị và xã hội
thay đổi chính là các khách hàng sử dụng dịch vụ bảo hiểm vi mô. Nếu nền kinh tế
phát triển ổn định, thể chế chính trị bền vững thì cơ hội tiếp cận dịch vụ bảo hiểm vi
mô sẽ rộng hơn, ngược lại chỉ cần có những thay đổi nhỏ như lạm phát cao, kinh tế
đình đốn, chính trị không ổn định, các hộ thu nhập thấp,. hộ sản xuất nông nghiệp là
những đối tượng đầu tiên bị tác động và cơ hội tiếp cận dịch vụ của họ sẽ giảm hoặc
mất đi.
1.5.1.2. Môi trường pháp lý cho hoạt động bảo hiểm vi mô
Các văn bản phám lý như luật, các văn bản hướng dẫn luật là vô cùng cần
thiết cho hoạt động bảo hiểm vi mô. Ví dụ các qui định về việc thành lập tổ chức,
cung cấp dịch vụ bảo hiểm vi mô. Các qui định về vốn, về cơ chế bảo hiểm và tái
bảo hiểm, qui định đối với các nhà phân phối, các trung gian bảo hiểm. Đây là
vào cộng đồng hoạt động mang tính tự phát, chưa có cơ chế chia sẻ rủi ro trên diện
rộng và không thể sử dụng công cụ tái bảo hiểm đẫn đến rủi ro cho bản thân nahf
cung cấp dịch vụ và rủi ro cho khách hàng là rất cao.
1.5.2.3. Chính sách Marketing bảo hiểm vi mô
Do đặc thù của sản phẩm, chính sách Marketing bảo hiểm vi mô là nhân tố
quan trọng tác động đến kết quả triển khai bảo hiểm vi mô. Chính sách marketing
tập trung vào bốn khía cạnh:
- Xây dựng thông điệp marketing
- Kỹ thuật truyền tải những thông điệp
- Dịch vụ sau bán hàng
- Bảo hiểm bắt buộc
Để xây dựng thông điệp marketing đầu tiên doanh nghiệp bảo hiểm phải xác
định được khách hàng mục tiêu: Ai sẽ là người sử dụng sản phẩm? Họ ở trình độ
16
học vấn nào và nguồn thu nhập là bao nhiêu? Một bài học mà các doanh nghiệp
cung cấp bảo hiểm vi mô cần biết đó là “nên tránh cố gắng phục vụ nhiều phân
đoạn thị trường bởi vì nó đòi hỏi phải thiết kế nhiều sản phẩm, xây dựng nhiều kênh
phân phối và do vậy sẽ tốn rất nhiều chi phí”
10
. Thông điệp marketing đầu tiên cần
đưa đến khách hàng mục tiêu đó là bảo hiểm mang đến cho họ sự bảo vệ. Những
người thu nhập thấp, đối tượng khách hàng của bảo hiểm vi mô, phải được biết rằng
họ là những người dễ bị tổn thương khi rủi ro xảy ra và nếu họ không có phương
tiện để quản lý rủi ro đó thì họ sẽ khó có thể đứng dậy được. Do vậy họ cần được
thuyết phục rằng bảo hiểm sẽ mang lại cho họ sự bảo vệ. Thông điệp thứ hai cần
được mang đến cho khách hàng mục tiêu là sự đoàn kết. Điều này có nghĩa là công
ty bảo hiểm luôn ở bên cạnh họ bất cứ lúc nào, luôn san sẻ cùng họ những tổn thất
ro tai nạn gây ra. Thông điệp thứ ba và cũng là thông điệp quan trọng nhất đó là
thông điệp về lòng tin. Khi nói đến bảo hiểm mọi người thường nghĩ bảo hiểm thu
phí thì nhanh nhưng giải quyết bồi thường thì lâu. Do vậy các nhà cung cấp bảo
riêng. Việc đưa đến khách hàng những thông tin về sản phẩm, lợi ích của sản phẩm,
thuyết phục được khách hàng mua sản phẩm vẫn chưa đủ để khách hàng trung
thành với sản phẩm của mình. Đặc thù của dịch vụ bảo hiểm đó là khách hàng chỉ
có thể biết được chất lượng của dịch vụ khi có rủi ro xảy ra và cách mà công ty bảo
hiểm giải quyết bồi thường. Cho dù các công việc trước đó như phát triển nhận
thức, giáo dục khách hàng rất tốt nhưng việc giải quyết bồi thường diễn ra chậm trễ,
không hiệu quả thì chất lượng dịch vụ vẫn không thể tốt. Do vậy giải quyết bồi
thường nhanh chóng, kịp thời sẽ xây dựng được lòng tin với khách hàng.
Một vấn đề quan trọng trong giải quyết bồi thường đó là giúp khách hàng hiểu
được các điểm loại trừ. Ngoài việc giáo dục khách hàng giúp họ hiểu được tiến trình
bồi thường thì việc giúp họ hiểu được các điểm loại trừ: trường hợp họ không được
bồi thường là điều quan trọng. Cần phải có sự giải thích rõ ràng cho khách hàng và
những người thụ hưởng lý do tại sao họ không được bồi thường đối với từng trường
hợp rủi ro bị loại trừ. Ngoài những hoạt động liên quan đến bồi thường, một hoạt
động quan trọng sau bán hàng đó là thăm dò sự hài lòng của khách hàng. Điều này
được thể hiện qua việc khi hợp đồng hết hạn, khách hàng có tiếp tục tham gia bảo
hiểm hay không? Một khi khách hàng không tham gia tái tục hợp đồng bảo hiểm, ta
cần phải đặt câu hỏi tại sao và cần có những tìm hiểu và đề ra phương án giải quyết.
Một trở ngại cho việc marketing bảo hiểm vi mô đó là những trường hợp bảo
hiểm bắt buộc: ví dụ những khách hàng gửi tiết kiệm hoặc vay vốn tại các tổ chức
tài chính vi mô phải bắt buộc mua bảo hiểm. Theo một số nghiên cứu tại các tổ
chức tài chính vi mô ở Uganda và Zambia, có một số vấn đề phát sinh như:
- Khách hàng không biết họ có các dịch vụ bảo hiểm đi kèm.
- Nếu họ có biết có dịch vụ bảo hiểm đi kèm thì họ lại không biết mình được
hưởng những quyền lợi gì.
18
- Họ không biết yêu cầu bồi thường như thế nào
- Họ không biết phí bảo hiểm phải trả là bao nhiêu do phí đã bị khấu trừ vào
các khoản vay hoặc các khoản tiền gửi
- Đa số nghĩ rằng họ sẽ được trả lại phí bảo hiểm nếu như không xảy ra bồi
này hội trực tiếp đứng ra cung cấp dịch vụ và thực hiện bảo hiểm cho các thành viên
của mình.
Để các hội tương hỗ này hoạt động thành công, cơ quan quản lý nhà nước của
Philippine thực hiện việc quản lý và giám sát các mặt như: khả năng thanh toán
(giám sát hoạt động đầu tư, dự phòng), hiệu quả hoạt động, quản lý hoạt động và
truyền thông của các hội.
Hội tương hỗ CARD (Centre for Agricuture & Rural Development Mutual
Benefit Association) tại Philippine là ví dụ điển hình cho sự thành công của việc
triển khai bảo hiểm vi mô: Năm 1994, Quỹ tương hỗ (MMF) được thành lập, cung
cấp bảo hiểm cho khách hàng có các khoản vay. Đến năm 1997, cung cấp hình thức
đóng phí tháng với mức đóng 300 Pê sô/tháng và mức phí P400 áp dụng cho các
thành viên ngoài 65 tuổi. Năm 1999 - Hội tương hỗ CARD được Cục quản lý bảo
hiểm Philippine cấp giấy phép hoạt động. Kể từ khi thành lập, Hội tương hỗ CARD
phát triển mạnh mẽ nhờ vào các nhân tố thúc đẩy như:
- Hội có số thành viên lớn với 154.251 thành viên là các hộ gia đình bắt
buộc tham gia bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm hưu trí do đó giúp chống lại được sự
lựa chọn đối nghịch (anti-selection);
- Đưa ra mức đóng góp phù hợp với thu nhập của hội viên. Hiện nay, mức
đóng góp mỗi tuần là 5 Peso đối với bảo hiểm nhân thọ và 5 Peso cho bảo hiểm hưu
trí;
- Sử dụng mạng lưới thu phí bảo hiểm có sẵn với 157 chi nhánh và 5 trụ sở
chính. Sự hiện diện của mạng lưới CARD tạo thuận lợi cho việc thu phí bảo hiểm;
- Chi phí quản lý thấp: 2% tổng phí bảo hiểm được dùng cho việc thu phí;
20% tổng phí bảo hiểm được dành cho chi phí hoạt động chung - GAE (General
Administration Expense) nhưng mức sử dụng thực tế chỉ là 18%;
- Với tư cách là thực thể riêng biệt thực hiện bảo hiểm, do vậy có thể tập
trung vào hoạt động bảo hiểm; duy trì quan hệ kinh doanh/nghiệp vụ trong nội bộ
20
CARD;
- Thực hiện chiến dịch truyền thông hiệu quả. Hệ thống mạng lưới rộng của
một sản phẩm bảo hiểm cho gia đình vay tài chính vi mô, được thiết kế để cung cấp
sự bảo vệ tài chính kịp thời nếu bất kỳ thành viên nào của gia đình chết và sự tổn
thất tài chính do hoả hoạn.
Đặc điểm của chương trình bảo vệ cho gia đình ở quy mô nhỏ:
- Bảo hiểm tử kỳ, tái tục hàng năm hoặc có thời hạn bảo hiểm gắn với thời
gian trả nợ vay. Chương trình chấm dứt khi phí bảo hiểm không được thanh toán
sau thời gian gia hạn đóng phí.
- Đóng phí bảo hiểm hàng tuần, thời gian gia hạn đóng phí là 30 ngày.
- Người được bảo hiểm: tuổi từ 18 đến 63, có sức khoẻ tốt và có nguồn thu
nhập, không cần kiểm tra sức khoẻ khi tham gia.
- Các rủi ro được bảo hiểm và các mức trách nhiệm:
Bảng 1.2: Phạm vi bảo hiểm của sản phẩm bảo vệ tài chính gia đình qui mô nhỏ
1. Các rủi ro được bảo hiểm Mức trách nhiệm bảo hiểm (Pê sô)
Người được bảo hiểm chính Chồng/Vợ Con
Bảo hiểm sinh mạng 30.000 15.000 5.000
Chết hoặc thương tật do tai nạn 30.000 15.000 5.000
Tiền mai tang 10.000 5.000 2.500
Hỗ trợ tài chính khi hoả hoạn 40.000
2. Phí bảo hiểm hàng tuần 20 Pê sô/tuần
Hoạt động của Hội tương hỗ CARD cho thấy:
- Bảo hiểm vi mô là hình thức bảo vệ rủi ro tốt cho người nghèo;
- Bảo vệ trước những rủi ro cần được xem là một thành tố hiệu quả của
chiến lược giảm nghèo;
- Những người nghèo có tư tưởng dám nghĩ dám làm sẵn sàng tham gia vào
chương trình bảo hiểm vi mô;
- Các hội tương hỗ có thể sử dụng lợi thế của mạng lưới xã hội về tài chính
vi mô và hệ thống thanh toán trong cung cấp dịch vụ bảo hiểm vi mô;
- Thách thức chủ yếu đối với cơ quan quản lý là việc giám sát chặt chẽ hoạt
động nhằm đảm bảo sự hoạt động bền vững và hiệu quả của các hội tương hỗ bảo
22
của hệ thống ở cấp chính quyền thấp nhất, đặc biệt trong các hợp đồng tương trợ,
trong việc thu tiền bảo hiểm, ước tính thiệt hại để bồi thường, cung cấp sự hỗ trợ về
mặt kỹ thuật cho nông dân để ngăn ngyừa, phòng chống thiệt hại. Các thành viên
đóng tiền bảo hiểm cho AMRA và trong trường hợp thích hợp họ có thể nhận được
các khoản tiền bồi thường từ AMRA. PFAMRA được thành lập để quản lý việc
thực hiện bảo hiểm ở cấp quận. PFAMRA nhận tái bảo hiểm từ các AMRA và chi
sẻ một phần trách nhiệm bảo hiểm của các AMRA. PFAMRA trả tiền tái bải hiểm
và chuyển một phần trách nhiệm tái bảo hiểm của nó cho ARSA. Hơn nữa,
PFAMRA cung cấp các hướng dẫn để kiểm soát sâu bệnh, dịch bệnh và đánh giá
[Cấp quốc gia]
Tài khoản dành riêng cho Tái – tái BHNN
(ARSA)
[Cấp quận/huyện]
Liên đoàn cấp quận/huyện của các tổ chức tương trợ
nhau về nông nghiệp
(PFAMRA)
[Cấp làng/xã]
Các tổ chức tương trợ nhau về nông nghiệp
(AMRA)
Các thành viên (nông dân)
24
thiệt hại. ARSA thực hiện tái bảo hiểm một phần trách nhiệm tái bảo hiểm của
AFAMRA và trả các khoản bồi thường tái-tái bảo hiểm cho PFAMRA khi thiệt hại
bất thường xảy ra ở mức độ nhất định. Khi hợp đồng giữa thành viên và AMRA
được ký kết các mối quan hệ này tự động hình thành.
Các sản phẩm được bảo hiểm: Hệ thống này bảo hiểm tất cả các sản phẩm
nông nghiệp Lúa gạo (cả lúa nương và lúa nước), lúa mạch, lúa mỳ Quả: cam, quýt,
các quả họ cam quýt; táo, dứa, hạt dẻ, nho, lê, đào, hồng, mận, sơn trà, anh đào,
khoai tây, đậu đỗ, đậu đỏ adzuki, đậu lửa, củ cải đường, cây mía, cây hoa bia, cây
chè và các công trình phục vụ trồng trọt như vật liệu, nhà kính. Các chương trình