MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Gia đình là một xã hội thu nhỏ, là mỗi tế bào làm nên xã hội lớn. Gia đình tốt thì xã
hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn. Nằm trong mối tương quan chặt chẽ đó, gia
đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ ở tầm vi mô mà cả vĩ mô. Sự phát triển lành
mạnh của gia đình là nền móng cho sự phát triển bền vững của một quốc gia, của toàn nhân
loại.
Gia đình cùng với việc thực hiện những chức năng của nó là cơ sở để xây dựng đất
nước vững mạnh và phát triển về kinh tế, văn hóa – xã hội, giáo dục và con người. Để thực
hiện tốt những chức năng trên, thì yêu cầu tất yếu phải là một gia đình tốt mà thể hiện trong
đó là những mối quan hệ tích cực, lành mạnh.
Gia đình tồn tại và phát triển được thể hiện thông qua các mối quan hệ có sự tác động,
ảnh hưởng qua lại với nhau. Trong đó, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ xuất hiện đầu
tiên và chi phối sâu sắc đến những mối quan hệ xuất hiện tiếp theo đó.
Một mối quan hệ vợ chồng lành mạnh, hòa thuận sẽ tạo điều kiện thuận lợi để có một
gia đình bền vững, hạnh phúc. Ngược lại, một mối quan hệ xung đột, bất đồng sẽ kéo theo
đó là những hệ lụy không chỉ cho riêng họ mà còn ảnh hưởng đến mọi thành viên, rộng hơn
là mang lại cả những hệ lụy cho xã hội.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, XĐTL giữa vợ và chồng để lại nhiều hậu
quả: mang lại những tổn thương tâm lý cho con trẻ về mặt nhận thức, hành vi như tự ti, mặc
cảm, lo hãi, xuất hiện những hành vi chống đối…Bên cạnh đó, khiến mối quan hệ vợ chồng
trở nên căng thẳng, kém hạnh phúc.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Hôn nhân và gia đình luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của thời đại. Từ nghiên cứu
của Lê Thi (1997 – vấn đề ly hôn, nguyên nhân và xu hướng vận động) đã cho thấy ở thời
điểm đó, quan niệm về ly hôn đã cởi mở hơn. Như vậy, đã từ lâu (1997) chúng ta không còn
cái nhìn quá khắt khe đối với vấn đề này, bên cạnh việc nhận thức về mặt tiêu cực, là nhận
thức về những mặt tích cực của ly hôn – đó là cách giải phóng con người khi cuộc sống hôn
nhân trở thành nơi giam cầm của những cặp vợ chồng không thể hàn gắn bởi những xung
Đề tài nghiên cứu về XĐTL theo góc độ liên cá nhân chứ không nghiên cứu XĐTL bên
trong mỗi cá nhân.
XĐ có thể thể hiện hai mặt: tích cực hoặc tiêu cực. Trong khuôn khổ đề tài chúng tôi tập
trung vào mặt tiêu cực.
2
2
• Đề tài tập trung nghiên cứu khía cạnh cảm xúc và hành vi được thể hiện khi diễn ra XĐ và
cách thức giải quyết XĐ của vợ/ chồng trí thức.
6.2. Khách thể và địa bàn nghiên cứu
Chúng tôi không nghiên cứu theo cặp vợ chồng mà nghiên cứu ngẫu nhiên những
người vợ hoặc chồng trí thức đang chung sống với người bạn đời trên địa bàn Tp. Hà Nội.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
-
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp quan sát
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phân tích dữ liệu
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị. Đề tài được cấu trúc 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí
thức.
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
1.1.2.1. Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu về XĐ và XĐTL
Các nghiên cứu của các tác giả Việt Nam như: Trần Trọng Thủy (1987); Ngô Công
Hoàn (1993) ; Nguyễn Khắc Viện (1994) ; Nguyễn Đình Xuân (1997) ; Đỗ Hạnh Nga
(2005, 2007) đã cho thấy nguyên nhân dẫn đến XĐ, XĐTL và ảnh hưởng của nó đến cá
nhân và tập thể có XĐ. Bên cạnh đó là các loại XĐ, biểu hiện và các giai đoạn của XĐ và
XĐTL.
1.1.2.2. Hướng nghiên cứu thứ hai: nghiên cứu về XĐTL giữa vợ và chồng
Ở Việt Nam, vấn đề XĐTL giữa vợ và chồng cũng được rất nhiều tác giả quan tâm,
nghiên cứu, khai thác các khía cạnh như nguyên nhân, biểu hiện, mức độ XĐTL giữa vợ và
chồng và sự ảnh hưởng của XĐTL đến các thành viên trong gia đình.
Nguyên nhân: Tác giả Hồ Ngọc Đại (1991) cho rằng XĐ xuất phát từ sự mâu thuẫn
giữa ý thức cá nhân và ý thức vợ chồng, sự không ăn khớp giữa hai khái niệm gia đình và cá
nhân; Tác giả Nguyễn Đình Xuân (1997) cho rằng chính những ham muốn của con người đã
làm nảy sinh XĐ; Tác giả Cao Huyền Nga (2001) đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến
XĐTL giữa vợ và chồng đó là: Ngoại tình, đời sống kinh tế khó khăn, thiếu kĩ năng giao
tiếp ứng xử, thiếu tôn trọng, thiếu tin tưởng vào nhau, sự khác biệt giữa hai vợ chồng.
Mức độ và giai đoạn XĐTL: Tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007) đưa ra bốn giai đoạn:
Giai đoạn 1 – Xuất hiện nguyên nhân sâu xa gây ta quá trình XĐ; giai đoạn 2 – Tình huống
4
4
XĐ xuất hiện; giai đoạn 3 – XĐ bùng nổ; giai đoạn 4 – Giải quyết XĐ. Ba mức độ: Mức độ
1 – Có sự không phù hợp về quan điểm, nhu cầu, khí chất, tính cách, hành vi…giữa hai
người; mức độ 2 – Có sự khác biệt lớn về quan điểm, nhu cầu, khí chất, tính cách, hành vi…
hệ tác động qua lại lẫn nhau; biểu hiện qua nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành vi theo xu
hướng phá hủy mối quan hệ.
1.2.2.3. Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng
XĐTL giữa vợ và chồng là sự bất đồng, va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao giữa người
vợ và người chồng trong quá trình chung sống với nhau; được bộc lộ qua nhận thức, trạng
thái cảm xúc và hành vi theo hướng phá hủy mối quan hệ vợ chồng.
Trên cơ sở hiểu về định nghĩa XĐTL giữa hai vợ chồng và định nghĩa về gia đình trí
thức, chúng tôi hiểu về XĐTL giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức như sau: XĐTL giữa
vợ và chồng trong gia đình trí thức là sự bất đồng, va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao giữa
vợ và chồng đều là người trí thức trong quá trình chung sống với nhau; được bộc lộ qua
nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành vi theo xu hướng phá hủy mối quan hệ vợ chồng.
5
5
1.2.3. Các biểu hiện và các mức độ xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí
thức
1.2.3.1. Các biểu hiện xung đột tâm lý giữa vợ và chồng
Các biểu hiện xung đột tâm lý ở mặt nhận thức: Trong cuộc sống gia đình, sự khác biệt
và mâu thuẫn trong nhận thức giữa vợ và chồng đối với một số vấn đề như: Vấn đề tiền bạc;
vấn đề trong quan hệ nội – ngoại; vấn đề trong quan hệ xã hội; vấn đề trong giao tiếp, ứng
xử; vấn đề về chăm sóc và giáo dục con; vấn đề về công việc – sự nghiệp; vấn đề liên quan
đến tình dục…
Các biểu hiện xung đột tâm lý ở mặt cảm xúc: Biểu hiện cảm xúc và thường thể hiện
rõ theo 2 xu hướng tích cực và tiêu cực, trong khuôn khổ luận văn chúng tôi chỉ tìm hiểu
những biểu hiện cảm xúc (cảm xúc và cảm xúc kèm hành vi) theo xu hướng tiêu cực như:
Cảm thấy bực tức, bối rối với người bạn đời; cảm thấy ngạc nhiên vì không hiểu sao người
bạn đời lại như vậy; tức lộn ruột, nghẹn cổ vì người bạn đời; bực tức đi ra chỗ khác khi có
6
6
XĐTL giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức là sự bất đồng, va chạm, mâu thuẫn ở
mức độ cao giữa vợ và chồng đều là người trí thức trong quá trình chung sống với nhau;
được bộc lộ qua nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành vi theo xu hướng phá hủy mối quan
hệ vợ chồng.
XĐTL xuất phát từ sự khác nhau, bất đồng, mâu thuẫn trong nhận thức dẫn đến xuất
hiện, thể hiện những trạng thái cảm xúc và hành vi khác nhau. Như vậy XĐTL được biểu
hiện ở 3 mặt: nhận thức; cảm xúc; hành vi.
XĐTL giữa vợ và chồng trí thức được chia thành 5 mức độ: Có sự không phù hợp rất
ít; có sự bất đồng; có sự mâu thuẫn; có sự đối lập; có sự đối kháng – XĐ bùng nổ mạnh mẽ,
sâu sắc.
Có 2 xu hướng giải quyết XĐTL giữa vợ và chồng trí thức đó là: Xu hướng tích cực;
xu hường tiêu cực gồm 6 cách giải quyết: Hợp tác, tập trung giải quyết vấn đề; tìm kiếm sự
trợ giúp; chủ động bộc lộ bản thân; lảng tránh; chấp nhận, chịu đựng; cách giải quyết tiêu
cực.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc hôn nhân nói chung và XĐTL giữa
vợ và chồng trí thức nói riêng. Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu 5 yếu tố: Tình yêu vợ
chồng; sự hài lòng; văn hóa ứng xử giữa vợ và chồng; gia đình nội – ngoại hai bên; công
việc.
7
7
75
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xã
hội
88
qua sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0.
Tiểu kết chương 2
Để thực hiện nghiên cứu XĐTL giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn
TP. Hà Nội, chúng tôi tổ chức nghiên cứu theo quy trình gồm ba giai đoạn và sử dụng phối
hợp các phương pháp như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; phỏng vấn sâu; điều tra bằng
bảng hỏi; quan sát; phân tích dữ liệu, trong đó phương pháp chính là điều tra bằng bảng hỏi.
Với dữ liệu thu được từ các câu hỏi đóng ở bảng hỏi, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS
phiên bản 22.0 để phân tích số liệu thu được.
9
9
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
TRONG CÁC GIA ĐÌNH TRÍ THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
3.1.
Thực trạng xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức trên địa bàn
thành phố Hà Nội
3.1.1. Các mặt biểu hiện của xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức
Chúng tôi nghiên cứu XĐTL giữa vợ và chồng được thể hiện ở 3 mặt: nhận thức; cảm
xúc; hành vi, trung bình mức biểu hiện của các mặt trên được thể hiện dưới biểu đồ sau:
Biểu đồ 3.1. Các mặt biểu hiện XĐTL giữa vợ và chồng
Biểu đồ trên cho ta thấy: Đại bộ phận gia đình trí thức có đời sống gia đình hòa thuận.
XĐ được thể hiện chủ yếu ở mặt nhận thức, cảm xúc (thuộc mức hiếm khi) và nhìn chung
không có XĐ thể hiện ở mặt hành vi, điều này cho thấy sự phù hợp với đặc điểm của đối
4
Vấn đề trong giáo dục, chăm sóc con cái
2.02
0.83
5
Vấn đề về ứng xử giao tiếp giữa vợ và chồng
2.51
0.88
6
Vấn đề liên quan đến quan hệ tình dục
1.92
1.05
7
Vấn đề sự nghiệp – học vấn
1.58
ĐTB
ĐLC
1
Cảm thấy bực tức, bức bối với người bạn đời
3.31
0.94
Cảm thấy ngạc nhiên không hiểu tại sao bạn đời lại
2
2.42
0.90
cư xử như vậy
Cảm thấy nổi nóng, khó chịu với mọi thứ xung
3
2.71
0.93
quanh
4
Cảm thấy tức lộn ruột, nghẹn cổ vì người bạn đời
1.81
0.87
5
Cảm thấy bị tổn thương vì người bạn đời
1.60
0.68
Trung bình của 5 cảm xúc
2.37
0.68
Kết quả nghiên cứu bảng 3.2 cho thấy, nhìn chung XĐTL biểu hiện ở mặt cảm xúc
xuất hiện ở mức hiếm khi (ĐTB = 2.37), với ĐLC = 0.68 cho thấy, có những gia đình trí
thức gần như không có những biểu hiện cảm xúc tiêu cực nhưng cũng có gia đình xuất hiện
1.41
Cảm thấy thiếu tin tưởng bạn đời
1.46
Cảm thấy có khoảng cách với bạn đời
1.67
Không muốn gần gũi về mặt tình dục
1.96
Hét lên với bạn đời
1.79
Tức giận đóng sầm cửa lại hoặc cố ý gây tiếng động
2.12
mạnh
Bực tức bỏ đi chỗ khác
2.46
Tức giận phá hỏng đồ bạn đời yêu thích
1.30
Giận dữ đe dọa nếu tái phạm sẽ không tha thứ
1.49
Tỏ ra không quan tâm, lạnh lùng
2.31
Không muốn nhìn thấy mặt bạn đời
1.33
Nói cay nghiệt “đã lấy nhầm người”/ “hối hận vì đã
1.47
cưới”
Trung bình của 12 biểu hiện
1.73
ĐLC
0.86
Biểu hiện hành vi ngôn ngữ
ĐTB
ĐLC
1
Dùng từ ngữ thiếu tôn trọng, lịch sự
1.54
1.08
2
Xưng hô thiếu tôn trọng
1.62
1.03
3
Chì chiết, nói dai, nói nhiều
1.90
0.99
4
Gọi bạn đời là “đồ ngu”, “đồ khốn”
1.27
0.76
5
Bàn đến chuyện ly thân
1.43
0.88
6
Nhắc lại lỗi lầm
1.88
0.86
7
Nhiếc móc, chê bài khả năng tình dục/ nhu cầu tình 1.21
0.65
STT
1
2
3
4
5
6
7
Biểu hiện hành vi phi ngôn ngữ
Quăng ném, đập phá đồ đạc
Quăng, ném đồ đạc vào người bạn đời
Dùng vật để đánh bạn đời
Dùng tay, chân đấm đá bạn đời
Cấu véo bạn đời
Chống tay/ khoanh tay nhìn trừng trừng bạn đời
Tát người bạn đời
Trung bình của các biểu hiện
ĐTB
1.49
1.21
1.18
1.21
1.16
1.44
1.30
1.28
ĐLC
và chồng trí thức. Trong đó, biểu hiện cảm xúc khi có XĐTL có tương quan thuận và rất
mạnh với biểu hiện hành vi khi có XĐTL (r = 0.82). Nghĩa là XĐTL ở mặt cảm xúc càng
cao thì sẽ làm cho biểu hiện ở mặt hành vi càng lớn.
Mối quan hệ với các đặc điểm nhân khẩu – xã hội
Nhìn chung mức sống càng giảm thì mức độ XĐ biểu hiện ở mặt hành vi càng tăng,
điều này cho thấy kinh tế thiếu hụt là một trong những nguyên nhân dẫn đến mẫu thuẫn, XĐ
trong các gia đình trí thức.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai giới tính về mức độ biểu hiện XĐ, nhưng
kết quả nghiên cứu cho ta thấy có sự khác biệt về mặt số liệu giữa hai nhóm giới tính như
sau: Trong nhóm biểu hiện hành vi, nhìn chung nam giới có mức độ thể hiện cao hơn nữ
giới; nhóm nữ giới lại có mức độ biểu hiện ở mặt cảm xúc cao hơn so với nam giới. Về số
lượng biểu hiện: Nam giới có số lượng biểu hiện ở mặt hành vi nhiều hơn nữ giới và nữ giới
có số lượng biểu hiện cảm xúc nhiều hơn nam giới.
3.1.2. Cách thức giải quyết xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa
bàn thành phố Hà Nội
3.1.2.1. Các cách giải quyết xung đột tâm lý giữa vợ và chồng
Hợp tác và tập trung để giải quyết vấn đề
Bảng 3.6. Cách thức hợp tác, tập trung để giải quyết vấn đề
STT
Cách giải quyết
ĐTB
ĐLC
1
Tìm hiểu nguyên nhân
3.56
0.98
2
Nói chuyện cởi mở với nhau
3.71
0.97
Nhìn chung các cặp vợ chồng trí thức không sử dụng cách thức giải quyết này. Có thể
do trí thức là những người có năng lực độc lập cao trong việc giải quyết vấn đề. Với ĐLC =
0.55 cho thấy vẫn có gia đình sử dụng ở mức thỉnh thoảng và thường xuyên.
Bản thân chủ động bộc lộ với bạn đời
Bảng 3.7. Cách thức bản thân chủ động bộc lộ với bạn đời
STT
Cách giải quyết
ĐTB
ĐLC
1
Tôi nói về cảm xúc của tôi khi tôi và bạn đời có XĐ
2.15
1.02
Tôi chủ động nói với người bạn đời vấn đề mình
2
1.72
0.94
nhận thấy chưa đúng, chưa được ở bản thân
Tôi chủ động bày tỏ sự ghi nhận về những điều
3
2.19
1.08
đúng/hợp lý của bạn đời
Tôi chủ động ngừng cuộc tranh luận với thái độ tôn
4
2.34
1.15
trọng người bạn đời
5
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Cách giải quyết
Một mình, buồn bã không liên lạc với ai
Tự hành hạ, trách móc bản thân bất hạnh vì kết hôn
với người như vậy
Không chia sẻ với ai, tự gặm nhấm nỗi buồn
Mở lời với giọng điệu gay gắt, chỉ trích, phê phán
người kia
Không tìm hiểu nguyên nhân gây bất đồng
Không lắng nghe khi bạn đời giải thích
Tự viết đơn ly hôn và ký sẵn
Dọa sẽ ly hôn nếu không theo ý mình
Tôi đòi sống ly thân
Trung bình chung
ĐTB
1.55
ĐLC
1.02
xuyên (7.4%).
3.1.2.2. Mối liên hệ giữa các cách thức giải quyết xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trí thức trên
địa bàn thành phố Hà Nội.
So sánh các cách thức giải quyết xung đột tâm lý
Bảng 3.9. Các cách giải quyết XĐTL
STT
Cách giải quyết
ĐTB
ĐLC
1
Hợp tác tập trung giải quyết vấn đề
3.34
0.67
2
Tìm kiến sự trợ giúp
1.78
0.55
3
Chủ động bộc lộ bản thân
2.21
0.99
4
Lảng tránh vấn đề
1.92
0.66
5
Chấp nhận chịu đựng
1.88
0.81
6
quyết “chủ động bộc lộ bản thân” và “chấp nhận chịu đựng”. Trong đó, độ tuổi dưới 30 sử
dụng cách thức “chủ động bộc lộ bản thân” nhiều hơn và độ tuổi từ 30 đến 39 sử dụng cách
thức chấp nhận, chịu đựng nhiều hơn độ tuổi dưới 30.
Dưới lát cắt trình độ học vấn, có sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ sử dụng cách thức
“chủ động bộc lộ bản thân”; “chấp nhận, chịu đựng”; “lảng tránh”; “giải quyết tiêu cực”.
Trong đó, trình độ học vấn cao – thạc sĩ thì mức độ sử dụng cách thức “chủ động bộc lộ”
nhiều hơn so với trình độ học vấn đại học. Những cách thức còn lại thì những trí thức có
trình độ học vấn đại học lại có mức độ sử dụng cao hơn.
Dưới lát cắt nghề nghiệp, trí thức tham gia hoạt động giảng dạy có mức độ sử dụng
cách thức “chủ động bộc lộ” nhiều hơn so với trí thức tham gia hoạt động quản lý nhà nước,
xã hội. Những cách thức còn lại thì những trí thức tham gia hoạt động quản lý nhà nước, xã
hội có mức độ sử dụng cao hơn.
Dưới lát cắt mức sống, mức độ sử dụng cách thức “bản thân chủ động bộc lộ” giảm
dần theo chiều giảm xuống của mức sống trong gia đình trí thức. Ngược lại, mức độ sử
dụng các cách thức “chấp nhận, chịu đựng”; “lảng tránh”; “giải quyết tiêu cực” lại giảm
theo chiều tăng lên của mức sống trong gia đình trí thức.
Tương quan giữa các cách thức giải quyết với các biến số XĐTL
Có sự tương quan giữa các cách thức giải quyết XĐTL với các biến số XĐTL. Không
có sự tương quan giữa cách thức “tập trung giải quyết” với “biểu hiện hành vi” (p = 0.01)
.Trong các cách giải quyết, nổi bật có cách thức “giải quyết tiêu cực” có tương quan thuận
và chặt với các biến số XĐTL. Cách thức “tập trung giải quyết vấn đề” có tương quan
nghịch và yếu với các biến số mức độ XĐTL; biểu hiện cảm xúc và số lượng biểu hiện.
Các yếu tố ảnh hưởng đến xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Mối quan hệ giữa các yếu tố với mức độ xung đột tâm lý
Mối quan hệ giữa cảm nhận chủ quan về hạnh phúc hôn nhân với mức độ xung đột
Có sự tương quan nghịch và khá chặt giữa cảm nhận chủ quan về hạnh phúc trong hôn
nhân với các biến số XĐTL. Như vậy, có thể nói trong cuộc sống hôn nhân gia đình, người
vợ/ chồng càng cảm nhận mình hạnh phúc thì càng giảm thiểu mức độ xung đột, và giảm
thiểu các biểu hiện nếu có XĐ xảy ra.
trí thức mà mức thuận lợi đạt tối đa nhưng cũng có gia đình chỉ được ở mức ít.
- Yếu tố công việc: Với ĐTB = 1.90 cho thấy, tính chất công việc không thuận lợi của trí thức
ở mức thấp. Với ĐLC = 0.70 và số liệu thu được cho thấy cũng có gia đình có tính chất
công việc không thuận lợi ở mức tương đối cao và cao (19%) và đây có thể là yếu tố ảnh
hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống gia đình.
3.2.2.2. Sự ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ xung đột tâm lý
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ XĐTL
Mức độ XĐTL
Biến độc lập
1. Số lượng biểu hiện
2. Sự hài lòng
3. Văn hóa ứng xử
4. Tình yêu vợ chồng
5. Gia đình nội ngoại
6. Tính chất công việc
Ghi chú:
R²
Β
0.895
0.348
0.231
0.224
0.169
Không dự báo
0.946
-0.590
Các biện pháp nhằm phòng ngừa hoặc giảm thiểu xung đột tâm lý giữa vợ và chồng
trong gia đình trí thức
Nguyên tắc đề xuất biện pháp
Một số biện pháp được đề xuất
Nâng cao nhận thức về giá trị của gia đình, vị trí, vai trò của các thành viên
Nâng cao nhận thức về các vấn đề liên quan đến xung đột tâm lý giữa vợ và chồng
Hình thành các kĩ năng giao tiếp, ứng xử; giải quyết xung đột tâm lý
Nuôi dưỡng tình yêu vợ chồng
Tham vấn hôn nhân gia đình
Tiểu kết chương 3
Trong gia đình trí thức, XĐ giữa vợ và chồng được thể hiện ở ba mặt nhận thức, cảm
xúc và hành vi. Trong đó thể hiện ở mặt nhận thức là cao hơn cả, tuy nhiên chỉ có mức độ ít
ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Khi XĐ, các trí thức chủ yếu biểu hiện về mặt cảm xúc
nhiều hơn hành vi và nhìn chung không xuất hiện biểu hiện hành vi phi ngôn ngữ khi có XĐ
giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, với độ lệch chuẩn tương ứng thì vẫn có gia đình xuất hiện
những hành vi bạo lực như “tát”, “quăng ném đồ đạc vào người bạn đời” hay “đấm, đá, cấu,
véo”… đây là những hành vi mang tính dự báo xấu cho mối quan hệ vợ chồng. Dưới lát cắt
mức sống của gia đình trí thức, không có sự khác biệt về mức độ biểu hiện ở mặt cảm xúc;
nhưng có sự khác biệt về mức độ biểu hiện ở mặt hành vi giữa các mức sống khác nhau –
mức độ biểu hiện ở mặt hành vi sẽ tăng lên theo chiều giảm đi của mức sống.
Trong 6 cách giải quyết XĐ, “hợp tác, tập trung để giải quyết vấn đề” là cách thức
được các gia đình trí thức sử dụng nhiều hơn cả. Không có sự khác biệt giữa nam và nữ
trong việc sử dụng cách thức “hợp tác, tập trung giải quyết vấn đề”; “bản thân chủ động bộc
lộ” và”lảng tránh”. Có sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc sử dụng cách thức giải quyết
sau: Nam giới sử dụng cách thức “chấp nhận, chịu đựng” nhiều hơn nữ giới; nữ sử dụng
cách thức “tìm kiếm trợ giúp” và “giải quyết tiêu cực” nhiều hơn nam giới. Cách thức “hợp
tác, tập trung giải quyết vấn đề” và “chủ động bộc lộ” có mối tương quan nghịch với mức
độ XĐTL, các cách thức còn còn lại có tương quan thuận với mức độ XĐTL, trong đó cách
thức “giải quyết tiêu cực” có tương quan nghịch ở mức độ chặt nhất.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua việc nghiên cứu lý luận và điều tra thực tiễn, chúng tôi có một số kết luận như
sau:
XĐTL là hiện tượng diễn ra khá phổ biến trong các gia đình nói chung và gia đình trí
thức nói riêng. XĐTL giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức được hiểu: Là sự bất đồng,
va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao giữa người vợ và người chồng trong quá trình chung
sống với nhau; được bộc lộ qua nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành vi theo hướng phá
hủy mối quan hệ vợ chồng.
XĐTL giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức ở địa bàn TP. Hà Nội chỉ diễn ra ở mức
hiếm khi. XĐ được biểu hiện chủ yếu ở mặt cảm xúc, không xuất hiện các biểu hiện ở mặt
hành vi. Khi xảy ra XĐ, các trí thức chủ yếu có biểu hiện “im lặng để giữ được bình tĩnh” ở
mức thỉnh thoảng. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có các biểu hiện như “nhắc lại lỗi lầm”, “chì
chiết, nói dai, nói nhiều”, hay “nói trống không”… ở mức hiếm khi.
Khi xảy ra XĐ, gia đình trí thức thường sử dụng 6 cách giải quyết sau: Hợp tác, tập
trung giải quyết vấn đề; bản thân chủ động bộc lộ với bạn đời; tìm kiếm sự trợ giúp; lảng
tránh; chấp nhận chịu đựng; giải quyết tiêu cực. Trong đó, cách thức chủ yếu được gia đình
trí thức sử dụng là “hợp tác tập trung giải quyết vấn đề” ở mức thỉnh thoảng, cách thức “giải
quyết tiêu cực” được sử dụng ít nhất và ở mức hiếm khi.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ XĐTL: Sự hài lòng với cuộc sống gia đình;
tình yêu vợ chồng; văn hóa ứng xử giữa hai vợ chồng; yếu tố gia đình nội ngoại hai bên; số
lượng biểu hiện. Trong đó, số lượng biểu hiện có sự dự báo cao nhất đến mức độ XĐTL
giữa vợ và chồng – trong XĐ càng ít biểu hiện thì mức độ XĐ càng thấp và ngược lại. Yếu
tố hai bên gia đình nội – ngoại có tính dự báo thấp nhất. Tính chất công việc không có ý
nghĩa dự báo cho mức độ XĐTL. Như vậy, để có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, bớt đi
những XĐ thì mỗi người cần phải biết hài lòng về cuộc sống của mình, nuôi dưỡng tình yêu
vợ chồng, phải có văn hóa ứng xử lành mạnh, có được những thuận lợi từ phía hai bên gia
đình nội ngoại và đặc biệt trong XĐ cần biết kiềm chế, kiểm soát cảm xúc để hạn chế bộc lộ
những cảm xúc và hành vi tiêu cực.
với đó luôn là rèn luyện phẩm chất, năng lực để có thể mang đến chất lượng dịch vụ tốt nhất
cho khách hàng
Đối với người vợ/ chồng
Tham gia các lớp học tiền hôn nhân trước khi kết hôn/ trong độ tuổi kết hôn.
Tìm hiểu văn hóa gia đình hai bên trước khi lựa chọn bạn đời và trước khi kết hôn.
Tham gia các khóa tập huấn, đào tạo dành cho hôn nhân gia đình, làm cha, làm mẹ, kĩ
năng gia tiếp ứng xử, kĩ năng kiểm soát cảm xúc…
Tham gia các buổi nói chuyện, chia sẻ về gia đình; hạnh phúc gia đình; cách thức
phòng ngừa; giải quyết XĐ trong gia đình…
Học cách hài lòng với cuộc sống và luôn hâm nóng, làm mới tình yêu vợ chồng.
22
22