Văn hóa giao tiếp của cán bộ y tế các bệnh viện trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội (từ thực tiễn Bệnh viện Phụ sản Trung ương) - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các Thầy, Cô của Học viện Hành
chính đã giành thời gian quý báu của mình để truyền đạt những tri thức, kinh
nghiệm giúp tôi nâng ca khả năng nhận thức và ứng dụng vào thực tiễn ngày
càng tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè, các anh,
chị học viên đã tạo điều kiện thuận lợi về cả vật chất lẫn inh thần giúp tôi
hoàn thành khóa luận của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Lưu Kiếm
Thanh, người đã giành thời gian quý báu để tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi
hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Với sự cố gắng hết sức cảu bản than song vẫn còn hạn chế về kiến thúc,
kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu; do đó, luận văn khó có thể tránh khỏi
những thiếu sót, tôi rất mng nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy,
Cô giáo, các anh chị học viên cho sự hoàn thiện hơn nữa của luận văn.
Xin chân thanh cảm ơn./.
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Châu
MỤC LỤC
Chương 1 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ, GIAO TIẾP 10
VÀ VĂN HOÁ CÔNG SỞ 10
1.1. Các khái niệm cơ bản 10
1.1.1. Khái niệm văn hoá 10
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của văn hóa 14
1.1.3. Khái niệm văn hóa giao tiếp 15
1.1.4. Vai trò của giao tiếp 16
1.1.5. Các nguyên tắc cơ bản của giao tiếp 17
1.1.7. Khái niệm văn hoá tổ chức 22
1.1.8. Khái niệm văn hoá công sở 23
1.2. Nội dung, hình thức, vai trò của văn hóa giao

Chương 3 60
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO 60
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUI TẮC ỨNG XỬ VÀ XÂY DỰNG
60
VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG BỆNH VIỆN 60
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện quy
tắc ứng xử và tiếp cận văn hóa giao tiếp 60
3.1.1. Nâng cao nhận thức về văn hoá công sở 61
3.1.2 Cách tiếp cận xây dựng hệ tiêu chí đánh giá sự hài lòng
của công dân 62
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy
chế văn hóa công sở và văn hóa giao tiếp 69
3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về văn hoá công sở
70
3.2.2. Thường xuyên tổng kết, đánh giá thực tiễn việc thực
hiện quy chế văn hoá công sở, văn hóa giao tiếp tại cơ quan,
tổ chức 71
3.2.3. Nâng cao hiệu quả của thanh tra công vụ 72
3.2.4. Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật và tài chính cho
việc thực hiện văn hoá công sở 74
3.2.5. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức thực hiện văn
hoá giao tiếp cho cán bộ, công chức, viên chức 75
3.2.6. Công tác tổ chức cán bộ, đào tạo bồi dưỡng 77
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PH> L>C 84
KHUNG CƠ BẢN VỀ VĂN HOÁ GIAO TIẾP 84
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

đáng với sứ mệnh của người thầy thuốc “lương y như từ mẫu” điều đó, đã
gây nên bức xúc trong đời sống xã hội, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
lực, hiệu quả của các cơ quan, tổ chức trong quản lý nói chung, trong các cơ
sở y tế, bệnh viện, trường học nói riêng.
Việc xây dựng những chuẩn mực văn hóa giao tiếp công vụ mang tính
pháp lý cho thái độ và hành vi công chức, viên chức trong hoạt động công vụ
là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Bên cạnh đó, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy và môi trường văn hóa
của cơ quan, tổ chức cũng ảnh hưởng và chi phối văn hóa giao tiếp của mỗi
công chức, viên chức trong cơ quan tổ chức. Thực tế hoạt động công vụ hiện
nay cho thấy, sự suy giảm đạo đức trong một bộ phận cán bộ, công chức,
viên chức được xem như một nguy cơ đáng báo động. Tình trạng tham
nhũng, quan liêu, lộng hành, hách dịch, sách nhiễu, yếu kém về năng lực
chuyên môn, năng lực quản lý, lãnh đạo, thiếu gương mẫu trong công việc,
sinh hoạt… của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức các cấp thật sự đã
dẫn đến làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước, bộ máy quản
lý các cơ quan, tổ chức, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà
nước; càng cho thấy tầm quan trọng của văn hóa giao tiếp của cán bộ, công
chức, viên chức trong hoạt động công vụ và trong đời sống xã hội, trong quan
hệ con người.
Do vậy, văn hóa giao tiếp công vụ được coi như đạo đức xã hội. Có thể
thấy đạo đức xã hội nói chung và đạo đức, công chức, viên chức nói riêng
như một sức mạnh tự bảo vệ con người trước sự thoái hoá, biến chất, đánh
mất mình; phải coi đạo đức như một giá trị văn hoá - văn hoá giao tiếp thúc
đẩy xã hội phát triển và tiến bộ. Ngày nay, nền kinh tế nước ta phát triển theo
cơ chế thị trường, từng bước tham gia hội nhập quốc tế thì càng cần đến
5
những đảm bảo về văn hóa giao tiếp công vụ trên mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế - xã hội để thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Do vậy, tôi chọn đề tài “Văn hóa giao tiếp của cán bộ y tế các bệnh
viện trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội (từ thực tiễn Bệnh viện
Phụ sản Trung ương)” làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn của mình.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về văn hóa công sở nói chung và thực
trạng thực hiện quy tắc giao tiếp, ứng xử trong các cơ sở y tế hiện nay, nhìn
nhận những thành công và hạn chế trong nhận thức và thực hiện văn hóa
giao tiếp; yêu cầu của công cuộc đổi mới trong toàn xã hội và hệ thống y tế,
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, nhận thức, thái độ của
cán bộ y tế thông qua việc triển khai có hiệu quả văn hóa giao tiếp, ứng xử tại
các bệnh viện trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu : Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận
văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nêu bật những vấn đề lý luận chung về văn hóa, văn hóa giao tiếp và
thống nhất những khái niệm có liên quan đến vấn đề đặt ra.
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của văn hóa với hiệu quả hoạt động của các
cơ quan, tổ chức.
- Khảo sát thực tế triển khai thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ y tế,
trong đó tập trung chủ yếu hoạt động khảo sát tại Bệnh viện Phụ sản
Trung ương, đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân hạn chế của công
tác này.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện
quy tắc ứng xử, nâng tầm nhận thức thành “văn hóa” trong giao tiếp
của cán bộ y tế trong các bệnh viện nói chung.
7
3. Tình hình nghiên cứu
Văn hóa với tầm quan trọng vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự
phát triển, nó luôn gắn liền với sự tồn tại, phát triển của cơ quan, đơn vị hay
bất kỳ một tổ chức nào. Do vậy từ trước đến nay có rất nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm đến đề tài này, ngoài ra cũng có nhiều giáo trình, tài liệu, luận văn

Chương 1. Cơ sở lý luận về văn hóa, giao tiếp và văn hóa công sở
Chương 2. Thực trạng triển khai thực hiện quy chế văn hóa công sở
và qui tắc ứng xử của cán bộ y tế
Chương 3. Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
thực hiện quy tắc ứng xử và xây dựng văn hóa giao tiếp trong bệnh viện.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ, GIAO TIẾP
VÀ VĂN HOÁ CÔNG SỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Văn hóa là một khái niệm có từ lâu đời và nó có một nội hàm rất rộng
lớn, liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người. Trong từng giai đoạn
phát triển của xã hội loài người, với nhiều sự đổi thay và tương ứng với từng
giai đoạn phát triển đó là những đặc điểm nhất định đánh dấu bước ngoặt
quan trọng của xã hội, đó vừa là thành quả của một thời kỳ, đồng thời cũng
ghi nhận những bước tiến mới của nhân loại. Theo đó, cùng với sự xuất hiện
và phát triển của xã hội loài người, cũng xuất hiện đời sống văn hoá, song để
hiểu một cách chính xác khái niệm về văn hoá thì không hẳn đã thống nhất.
Trước đây, con người hiểu văn hoá còn ở một góc độ phiến diện, văn hoá vẫn
được quy về một lĩnh vực chuyên biệt đặc thù nào đó của con người. Đến
nay, cùng với sự phát triển của xã hội loài người văn hoá được nhìn nhận và
đánh giá khá toàn diện dựa trên những góc cạnh khác nhau của cuộc sống
chẳng hạn như: văn hoá là sự phát triển vật chất và tinh thần của loài người;
văn hoá là khái niệm có nội dung bao gồm khoa học, kỹ thuật, giáo dục, văn
hoá, nghệ thuật; văn hoá chỉ lối sống, nếp sống, đạo đức xã hội. Bên cạnh đó
còn rất nhiều nhà Nhân học, Dân tộc học đã đưa ra nhiều định nghĩa cho tới
nay vẫn chưa thống kê hết được. Các quan điểm về văn hoá bao hàm nội
dung sâu rộng và phong phú, vì vậy, có thể nói trong khoa học xã hội và nhân
văn chưa có khái niệm nào phức tạp như khái niệm văn hoá. Do đó, mỗi một

biệt ảnh hưởng đến văn hóa của một số nước phương Đông.
Văn hoá là tri thức khoa học, sự hiểu biết, trình độ học vấn, trình độ
tiếp thu và vận dụng những kiến thức khoa học. Hệ thống kiến thức được con
11
người sáng tạo, tiếp thu, tích luỹ, bổ sung và luôn luôn đổi mới qua lao động,
sản xuất, đấu tranh giữa con người với thiên nhiên và xã hội. Qua đó con
người tiếp xúc, giao tiếp với nhau, hình thành nên những tập tục, những cách
đối nhân xử thế nhất định. Sự hiểu biết được sử dụng làm nền tảng và định
hướng cho lối sống, nếp suy nghĩ, đạo lý, tâm hồn và hoạt động của mỗi dân
tộc để đạt tới chân, thiện, mỹ trong mỗi quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với môi trường xã hội và tự nhiên.
Với nghĩa rộng, văn hoá là tổng hợp sáng tạo văn minh vật chất, văn
minh tinh thần trong quá trình phát triển xã hội loài người. Nói về nghĩa hẹp,
văn hoá chỉ hình thái ý thức và thượng tầng kiến trúc của xã hội, tức là cái
hình thức tổ chức và chế độ xã hội thích ứng với hình thái ý thức xã hội.
Đồng thời với nghĩa rộng cũng bao gồm văn hoá khảo cổ học, lấy tiêu chuẩn
đồ vật làm đặc trưng. Ví dụ như văn hoá trống đồng. Văn hoá trở thành môn
khoa học chuyên nghiên cứu hiện tượng văn hoá một cách có hệ thống. Nó
bắt đầu phát triển ở nước Pháp vào khoảng giữa thế kỷ XIX, trước tiên họ đề
xuất khái niệm khoa học văn hoá, chủ trương xây dựng độc lập, tiến hành
nghiên cứu khoa học để nói rõ sự tiến triển của văn hoá.
Đến đầu thế kỷ XX, các nhà văn hoá Mỹ chính thức xác lập nguyên tắc
khung văn hoá.Như vậy, văn hoá là một hiện tượng lịch sử, mỗi xã hội đều
có nền văn hoá thích ứng với nó và phát triển lên theo đà xã hội. Văn hoá
phản ánh chính trị, kinh tế xã hội nhất định, đồng thời lại tác động đến kinh
tế và chính trị của xã hội. Văn hoá có tính dân tộc rất rõ rệt, theo sự phát triển
của các dân tộc từ đó mà hình thành nên truyền thống dân tộc riêng. Văn hoá
lại có tính liên tục của lịch sử, nó không phải vì triều đại lịch sử nhất thời
thay đổi mà xuất hiện tình hình đứt đoạn. Văn hoá đã phản ánh sự tổng hoà
của một dân tộc, một quốc gia, cho đến hành vi của loài người ở một khu

Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
của đời sống (của các cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ,
cũng như đang diễn ra trong hiện tại qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một
hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng
dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [52,tr.23].
13
Đặc biệt, khi nghiên cứu về văn hoá, Hồ Chí Minh đã viết:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở
và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là
văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với
biểu hiện của nó, của loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu
cầu và đòi hỏi của sự sinh tồn [26, tr.431].
Như vậy, Hồ Chí Minh đã thấy văn hoá là cơ chế tổng hợp để hình
thành và phát triển con người xã hội. Vì chính Người với tầm nhìn xa đã thực
sự coi trọng và khẳng định vai trò to lớn của văn hoá đối với sự nghiệp cách
mạng, sự nghiệp phát triển con người và xã hội.
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của văn hóa
1.1.2.1. Tính hệ thống
Hệ thống văn hóa là một tổ chức hữu cơ; các hiện tượng, các sự kiện
có quan hệ khăng khít, chi phối và chế ước lẫn nhau thuộc một nền văn hóa.
Do văn hóa có tính hệ thống cho nên nó bao trùm mọi hoạt động của xã hội,
thực hiện được chức năng tổ chức xã hội.
1.1.2.2. Tính giá trị
Giá trị văn hóa được mọi người tin tưởng, chúng xác định những cái
mà người ta ao ước. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con
người. Từ đó, cho phép phân biệt văn hóa và phi văn hóa, phản văn hóa. Mỗi
dân tộc có mỗi tính giá trị văn hóa riêng. Nó thường xuyên điều chỉnh xã hội,
giúp cho xã hội duy trì sự ổn định và không ngừng hoàn thiện.

xã hội học, tâm lý học, quản trị học, lô- gic học, luật học và nhiều khoa
học khác, đồng thời môi trường giao tiếp công sở cũng có những đặc trưng
của mình. Giao tiếp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả công việc trong
cơ quan.
15
Trong hệ thống khái niệm cơ bản của giao tiếp phải kể đến phong cách
và công cụ giao tiếp, trong đó cho thấy những nghi thức và quy tắc thực hiện
hành vi trong giao tiếp.
Văn hóa giao tiếp trong hoạt động công vụ là sự kết tinh là sự kết
tinh các chuẩn mực xã hội, các qui định pháp luật, các qui tắc nội bộ,
triết lý hoạt động và nhận thức thể hiện qua hành vi và thái độ của từng
thành viên trong tổ chức nhằm hướng tới hệ giá trị mà tổ chức đó mong
muốn và theo đuổi.
Văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức nơi công sở thể hiện qua các
mối quan hệ giữa người và người trong nội bộ và ngoài công sở. Thông qua
những mối quan hệ đó, cán bộ, công chức nơi công sở bộc lộ bản chất của
mình vì bản chất của con người được biểu hiện thông qua quá trình giao tiếp.
Vấn đề đặt ra đối với mỗi cán bộ công chức nơi công sở là thực hiện giao tiếp
có văn hóa. Giao tiếp có văn hóa là toàn bộ những giao tiếp ở tất cả các lĩnh
vực khác nhau trong xã hội đạt đến trình độ nhất định của cái đẹp, cái tốt, cái
thật, phù hợp với tiêu chuẩn định hướng về văn hóa.
1.1.4. Vai trò của giao tiếp
Trong hoạt động của cơ quan, tổ chức giao tiếp của công chức, viên
chức nói chung, của cán bộ ý tế nói riêng khi tiếp xúc với công dân, người
bệnh thì giao tiếp có một vai trò vô cùng quan trọng. Giao tiếp là công cụ,
phương tiện để đạt mục đích của hoạt động. Bởi vì, chất lượng và hiệu quả
hoạt động tùy thuộc vào mức độ chất lượng cảu quá trình giao tiếp được tiến
hành. Nếu giao tiếp mà dành được lợi ích cho cả hai bên cùng tham gia thì cả
hai bên đều cảm thấy tốt hơn, đều muốn cùng nhau làm viêc, xây dựng được
giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề cùng quan tâm. Khi nói đến vai trò của

1.1.5.1. Đảm bảo sự hài hòa về mặt lợi ích giữa các bên tham gia giao tiếp
Nguyên tắc này dựa trên một thực tế có tính quy luật về mặt tâm lý của
con người. Bất kỳ ai, khi thực hiện các quan hệ giao tiếp đều mong muốn, tin
tưởng hoặc hy vọng rằng thông qua việc giao tiếp có thể đạt được một lợi ích
17
nào đó cho mình hoặc cho chủ thể mà mình đại diện. Lợi ích mà con người
hướng tới có thể là vật chất cũng có thể là lợi ích tinh thần (chẳng hạn trình
bày oan ức bởi một quyết định không đúng, chưa thỏa đáng, mong được chia
sẻ và thông cảm, hoặc một đề nghị ghi nhận một sự đóng góp của bản than
cho tập thẻ, cho xã hội). Có thể nói, hầu như không một ai thực hiện giao tiếp
lại không muốn hoặc không hy vọng rằng sẽ đạt được mục đích đã đặt ra,
ngay cả khi chính bản thân người dân biết rằng để đạt được mục đích đó là
vô cùng khó khăn.
1.1.5.2. Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong giao tiếp
Trong hoạt động giao tiếp, người cán bộ- công chức se gặp phải nhiều
đối tượng khác nhau (già-trẻ, nam-nữ, người dân tộc ít người, hoặc đại diện
cac tổ chức). Vấn đề đặt ra ở đây là phải bảo đảm sự bình đẳng trong giao
tiếp. Thực tế, người cán bộ- công chức trong hoạt động giao tiếp có khi gặp
phải những tình huống hết sức khó xử, một bên là công việc, một bên là
những quan hệ có ảnh hưởng rất lớn đến cơ quan hoặc bản than mình. Để giải
quyết vấn đề này, cách tốt nhất là thực hiện nguyên tắc “mọi người đều quan
trọng” nghĩa là mọi đối tượng giao tiếp đều cần được tôn trọng và đối xử tốt.
Dĩ nhiên, nguyên tắc này giúp co cán bô- công chức tránh được những sai
lầm trong giao tiếp khi họ có quan niệm “người này không quan trọng”,
không có ảnh hưởng gì đến bản thân mình, cơ quan mình thì thờ ơ, thậm chí
coi thường.
1.1.5.3. Nguyên tắc hướng tới các giải pháp tối ưu
Người cán bộ- công chức khi giao tiếp với công dân, với tổ chức cần đưa ra
nhiều giải pháp để đối tượng có thể lựa chọn và quyết định.
Nguyên tắc này dựa trên cơ sở nguyên tắc 1. Trong thực tế, để có thể

nước như là : cơ quan hành chính nhà nước, bệnh viện, viện nghiên cứu…đây
là loại công sở nói chung có tư cách pháp nhân, được điều chỉnh bằng công
pháp và phụ trách quản lý một loại công việc hay một loại hoạt động dịch vụ
công mang tính chất chuyên ngành.
19
Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế do Nhà xuất bản Thuận Hoá
xuất bản năm 1999 đã định nghĩa: công: chung chỉ thuộc về nhà nước; sở:
nơi, chỗ. Công sở là chỗ làm việc cuả cơ quan nhà nước.
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, năm 1994 do Hoàng
Phê chủ biên đã định nghĩa đã định nghĩa công sở là trụ sở cơ quan xí
nghiệp nhà nước.
Từ điển và từ ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, định nghĩa công là
chung; sở là nơi chốn; công sở là chỗ làm việc của một cơ quan nhà nước.
Có quan điểm cho rằng, Công sở là nơi hoạt động của hệ thống tổ chức
bộ máy nhà nước hoặc tổ chức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế công
chức hoặc thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước. Công sở có vị
trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức do pháp luật quy định,
được sử dụng công quyền để tổ chức công việc nhà nước hoặc dịch vụ công
vì lợi ích chung của xã hội, cộng đồng.
Tuy nhiên, cần lưu ý về thuật ngữ công sở có thể được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau trong những trường hợp khác nhau. Cụ thể trong một số
trường hợp, thuật ngữ này được sử dụng để chỉ khía cạnh vật chất, địa điểm
hoạt động, hay còn gọi là trụ sở, nơi công vụ được tiến hành hoặc dịch vụ
công được cung cấp. Ví dụ, trong Quyết định 213/2006/QĐ-TTg ngày 25
tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý công
sở các CQHCNN thì thuật ngữ công sở được hiểu theo nghĩa này. Trong một
số trường hợp khác, thuật ngữ công sở được sử dụng để thay thế cho một
thuật ngữ khác quen dùng là cơ quan hành chính nhà nước. Ví dụ, khi xác
định nhiệm vụ của các công sở trong việc xây dựng văn hoá công sở (tích
cực)- một cách sử dụng quyền lực đúng đắn và để phục vụ nhân dân tốt nhất

bảo đảm công vụ, có quy chế cần thiết để thực hiện các chuyên môn do Nhà
nước quy định.
Từ các đặc điểm trên có thể hiểu về công sở như sau: Công sở là nơi
để tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính, quản lý các công việc
của đời sống xã hội, là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để phục vụ công
21
việc chung, bảo đảm các thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà
nước, nơi phối hợp các bộ phận cán bộ, công chức theo một cơ chế nhất định
để thực hiện mọi nhiệm vụ được nhà nước giao. Do đó, công sở là bộ phận
hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước.
1.1.7. Khái niệm văn hoá tổ chức
Nghiên cứu văn hoá là một cách thức quan trọng để hiểu về con người.
Theo đó nghiên cứu văn hoá của một tổ chức là một điều kiện quan trọng để
hiểu đến các yếu tố tác động đến tư duy, quan điểm và hành vi của các thành
viên trong tổ chức đó. Văn hoá liên quan đến niềm tin và cách hành động
trong nội bộ tổ chức và liên quan đến hình ảnh, diện mạo, uy tín và ảnh
hưởng của tổ chức đối với bên ngoài. Khi nói đến văn hoá người ta thường
hàm ý về khía cạnh tinh thần. Trên thực tế, văn hoá có biểu hiện mang tính
vật thể và phi vật thể. Nói như vậy, cũng có nghĩa rằng văn hoá có những
điều có thể cảm nhận được bằng các giác quan nhưng cũng có những điều mà
ta chỉ đánh giá qua nhận thức mà thôi.
Cũng tương tự như khái niệm văn hóa, văn hóa tổ chức trong những
năm gần đây được một số nhà nghiên cứu về tổ chức, quản lý và quản lý
hành chính đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau nhằm phục vụ cho những mục
đích nghiên cứu khác nhau.
GS.TSKH Nguyễn Văn Thâm, trong cuốn “ Tổ chức và điều hành
công sở ” đưa ra cách hiểu : Văn hóa tổ chức là hệ thống các giá trị, niềm
tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại với các
cơ cấu chính thức và tạo nên những chuẩn mực hành động có tính truyền
thống, tạo nên đặc điểm về cách thức làm việc của tổ chức mà mọi người

theo một cách tự nguyện. Văn hoá tổ chức giúp chúng ta nhìn thấy được sự
khác nhau giữa các tổ chức khác nhau.
Văn hóa công sở là một bộ phận của văn hóa quốc gia, dân tộc, khi có
những yếu tố tác động làm thay đổi các mặt của đời sống văn hóa dân tộc,
cũng sẽ là những yếu tố làm thay đổi văn hóa công sở.
23
Theo tác giả Trần Hoàng: văn hóa công sở có thể được hiểu là những
qui tắc, các chuẩn mực ứng xử của các cán bộ, công chức nhà nước với nhau
và với đối tượng giao tiếp là các công dân tới cơ quan hành chính nhà nước
vì công việc trong quá trình thực thi công vụ, nhằm phát huy tối đa năng lực
của những người tham gia giao tiếp để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc
tại công sở.
Theo Thạc sĩ Hoàng Xuân Tuyền, Văn hóa công sở là hệ thống các giá
trị, chuẩn mực, nguyên tắc xử sự chung của công sở. Nó được hình thành, tồn
tại và phát triển trong lòng tổ chức và nó có tác động chi phối đến hoạt động
của toàn bộ các thành viên trong công sở. [47, 29]
Các tác giả của tập bài giảng Văn hóa hành chính cho rằng: “Văn hóa
công sở là tập hợp các giá trị, niềm tin, trông đợi và các chuẩn mực trong
cách tư duy về nền hành chính và thực tiễn thực thi công vụ, thể hiện bản
chất, mục tiêu hoạt động của nền công vụ”. [34, 48]
Vậy, văn hóa công sở là hệ thống giá trị, niềm tin, chuẩn mực được
hình thành, duy trì và phát triển trong công sở, tạo nên một dấu ấn riêng
biệt. Nó tác động đến hoạt động của toàn bộ thành viên trong công sở và là
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công sở.
Trong văn hóa công sở, cần lưu ý tới khía cạnh chính trị.
Văn hóa chính trị không phải là phép cộng đơn giản giữa ‘‘văn hóa’’
và ‘‘chính trị’’ mà đó là sự thẩm thấu, xâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn
nhau giữa văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa. Hồ Chí Minh đã từng
khẳng định “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất mật thiết”.
Văn hóa chính trị là chất lượng tổng hợp của tri thức và kinh nghiệm

Mỗi công sở là một xã hội thu nhỏ, một tiểu hệ thống nằm trong một hệ
thống lớn, có lịch sử thành lập và phát triển, có các mối quan hệ nội bộ bên
25

Trích đoạn Nghĩa vụ và quyền lợi của viên chức bệnh viện Quá trình triển khai và tổ chức thực hiện Tiêu chí về thái độ của cán bộ, công chức,viên chức Nâng cao nhận thức về văn hoá công sở Cách tiếp cận xây dựng hệ tiêu chí đánh giá sự hài lòng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status