TRƢỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LỚP BỒI DƢỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K3A - 2015
----------
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: XỬ LÝ TÌNH HUỐNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Học viên thực hiện : LƢU THU THẢO
Chức vụ
: Chuyên viên
Đơn vị công tác
: Phòng Thanh tra 7
Thanh tra thành phố Hà Nội
HÀ NỘI, THÁNG 11/2015
I. LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Tranh chấp đất đai là một hiện tượng bình thường trong mọi đời sống xã
hội, không phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất đai. Đối với Việt Nam, trong suốt
thời gian từ khi chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được thiết lập từ năm
1980 cho đến nay, tranh chấp đất đai luôn là vấn đề thời sự, có những diễn biến
rất phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc quản lý, sử dụng đất nói riêng và gây
tin tham khảo cho việc giải quyết khiếu nại về đất đai sau này.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp truyền thống: phân tích câu chữ. Tác giả dựa trên phân tích
câu chữ để nắm bắt được ý của người làm luật từ đó áp dụng điều luật phù hợp
để giải quyết tình huống đặt ra.
Phương pháp suy lý mạnh: Tác giả áp dụng phương pháp trên khi điều
luật không quy định rành mạch về vấn đề đặt ra nhưng cần phải được thừa nhận
bởi lý lẽ để chúng tồn tại tương tự hoặc mạnh hơn lý lẽ được dùng làm cơ sở cho
những quy tắc được chính thức ghi nhận trong Luật.
Phương pháp tổng hợp: Tác giả tổng hợp lại để người đọc hiểu rõ hơn về
tình huống.
Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh để lựa chon
phương pháp tối ưu nhất.
4. Phạm vi nghiên cứu
Tranh chấp đất đai trên địa bàn Thành phố Hà Nội được UBND Thành
phố giao Thanh tra thành phố Hà Nội xác minh và báo cáo UBND Thành phố
Hà Nội. Vụ việc này xảy ra tại UBND xã T (nay là UBND phường T), UBND
quận N, thành phố Hà Nội.
5. Bố cục tiểu luận gồm 3 phần:
Phần 1: Lời nói đầu.
Phần 2: Nội dung
2.1. Mô tả tình huống.
2
2.2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống.
2.3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả.
2.4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống.
2.5. Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện phương án đã chọn.
Phần 3. Kết luận và kiến nghị.
cho 349 hộ gia đình, cá nhận tại xã T, trong đó có hộ gia đình ông Đ được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U762815, diện tích 162m2 đất, tại thửa số
38, tờ bản đồ số 7, đo vẽ năm 1994 và hộ gia đình bà N được cấp giấy chứng
4
nhận quyền sử dụng đất số U76812, diện tích 254m2 đất tại thửa số 33, tờ bản đồ
số 7, được đo vẽ năm 1994.
Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình bà N phá
bỏ một phần bức tường do gia đình ông Đ xây và bao chiếm phần diện tích đất
29m2 do hộ gia đình ông Đ đang sử dụng. Năm 2005, bà N lại ngang nhiên đập
phá tường rào của gia đình ông Đ. UBND huyện T đã có Quyết định 1540/QĐUBND ngày 07/6/2007 về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp cho gia đình bà N và gia đình ông Đ.
Bà N không nhất trí với nội dung Quyết định số 1540/QĐ- UBND ngày
07/6/2007 của UBND huyện T về việc thu hồi hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số U762812, diện tích 254m2 đất tại thửa số 33, tờ bản đồ số 7 đã cấp
cho bà N nên đã có đơn khiếu nại Quyết định trên.
Ngày 06/9/2013, Uỷ ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 5383/
QĐ – UBND về việc giải quyết đơn của bà N ở thôn M, xã T.
Đối với đơn khiếu nại của bà H:
Việc tranh chấp đối với diện tích đất trên của hai gia đình bà H và bà N
xảy ra từ năm 2003 đến năm 2013 đã được UBND xã T tổ chức hòa giải nhưng
không thành.
2
Ngày 21/3/2012, bà H (vợ ông Đ) có đơn gửi UBND huyện T đề nghị giải
quyết dứt điểm tranh chấp đất đai giữa gia đình bà H và gia đình bà N ở thôn M,
xã T đối với vị trí đất 29m2 nay là một phần thửa đất số 33, tờ bản đồ số 07, bản
đồ năm 1994 xã T.
quận N và các đơn vị có liên quan, Tổ xác minh nhận định như sau:
- Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của bà N:
Hộ gia đình bà N đang sử dụng diện tích đất thuộc thửa đất số 33, tờ bản
đồ số 7 (bản đồ đo vẽ xã T năm 1994) có nguồn gốc là đất nông nghiệp. Năm
1991, bà N đổi ruộng cho ông N (vợ là bà P), sau đó hộ bà N mới xây dựng nhà
ở trên diện tích đổi
6
- Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của bà H:
Hộ gia đình bà H đang sử dụng diện tích đất làm nhà ở thuộc thửa đất số
38, tờ bản đồ số 7, diện tích 162m2 ( bản đồ đo vẽ xã T năm 1994) có nguồn gốc
là đất giãn dân do HTX Đ giao trái thẩm quyền năm 1989. Cũng trong năm 1989
gia đình bà H sử dụng thêm 29m2 đất liền kề có nguồn gốc là đất nông nghiệp.
Đến khoảng năm 1991 -1992, gia đình bà H xây tường bao quanh phần diện tích
29m2 đất nêu trên.
- Hồ sơ địa chính hiện đang lưu giữ tại UBND phường T:
Về hồ sơ địa chính: Tại bản đồ số 7, đo vẽ năm 1994 được Giám đốc Sở
địa chính ký và đóng dấu ngày 26/11/1996 thể hiện:
- Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 07, diện tích 254m2 (sổ mục kê ghi chủ sử
dụng đất: bà N, diện tích 254m2, loại đất T.
- Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 07, diện tích 162m2 (sổ mục kê ghi chủ sử
dụng đất: ông Đ (chồng bà H), diện tích 162m2, loại đất T.
Về tài liệu lưu giữ tại phường:
Ngày 04/8/2003: Đại diện UBND xã T (nay là UBND phường T) làm việc
với Ban quản lý Hợp tác xã M: về việc cấp đất ở cho gia đình ông Đ (chồng bà
H) và gia đình bà N…có nội dung: Năm 1989 theo kế hoạch tập thể cấp đất dãn
dân cho nhân dân trong xã trong đó có gia đình ông Đ được cấp như các gia
đình khác với diện tích khoảng 160m2 – 170m2. Riêng gia đình bà N không có
trong danh sách được cấp đất ở. Sau thời gian khoảng 01 đến 02 năm bà N có
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất ao và vườn liền kề đợt 3 cho
349 hộ gia đình, cá nhân tại xã T, trong đó có hộ gia đình bà N được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số U76812, diện tích 254m2 đất tại thửa số 33, tờ
bản đồ số 7, được đo vẽ năm 1994.
- Về hồ sơ cấp GCN QSD đất cho hộ gia đình ông Đ:
Ngày 19/5/2001, gia đình ông Đ có đơn đăng ký quyền sử dụng đất trên
diện tích 162m2 ở xóm III, thôn M thuộc tờ bản đồ số 7, thửa số 38, loại đất thổ
cư, mục đích làm nhà ở, thời hạn sử dụng lâu dài, nguồn gốc sử dụng là đất giãn
dân năm 1989 đã được UBND xã T (nay là UBND phường T) xác nhận ngày
12/12/2001, với nội dung:“Gia đình sử dụng thửa đất trước ngày 31/5/1990
hiện đang ở ổn định. Không có tranh chấp, đề nghị UBND huyện cấp giấy
8
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Đ”. Ngày 28/12/2001,
Phòng Địa chính huyện T xác nhận: Đề nghị UBND huyện cấp GCN QSD đất ở
cho hộ ông Đ diện tích 162m2. Hộ gia đình ông Đ phải nộp lệ phí trước bạ đất.
Ngày 19/5/2001, tổ công tác kê khai đăng ký cấp GCN QSD UBND xã T
tiến hành kiểm tra, đối soát hình thể, ranh giới thửa đất số 38, tờ bản đồ số 7
diện tích 162m2 tại thực địa của hộ gia đình ông Đ tại xóm III, thôn M, xã T,
huyện T xác nhận: về hình thể, đúng;hiện trạng sử dụng, không có tranh chấp và
đã được UBND xã T xác nhận.
Ngày 24/12/2001, UBND huyện T có Quyết định số 1740/QĐ- UBND về
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất ao và vườn liền kề đợt 3 cho
349 hộ gia đình, cá nhân tại xã T, trong đó có hộ gia đình ông Đ được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số U762815, diện tích 162m2 đất tại thửa số 38,
tờ bản đồ số 7, được đo vẽ năm 1994.
Sau khi nhận được GCN QSD đất, gia đình bà N phá bỏ một phần bức
tường do gia đình ông Đ xây và bao chiếm phần diện tích đất 29m2 do hộ gia
đình ông Đ đang sử dung. Năm 2005, bà N lại ngang nhiên đập phá tường rào
đất này vẫn còn móng tường cũ do gia đình bà H xây dựng.
Sau khi nhận được GCN QSD đất gia đình bà N đã phá bỏ một phần bức
tường do gia đình bà H xây dựng và chiếm phần diện tích đất mà gia đình bà H
đang sử dụng thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 07, từ đó hai gia đình xảy ra
tranh chấp đối với phần diện tích này.
……..
Giữ nguyên ranh giới sử dụng đất của hộ gia đình bà H và hộ gia đình bà
N tại thời điểm trước khi các hộ xảy ra tranh chấp năm 2003. Khi thực hiện
công tác Giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án Cụm trường trung học chuyên
nghiệp – dạy nghề theo Quyết định của UBND thành phố Hà Nội hộ gia đình bà
H sẽ được bồi thường chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất
29m2 nêu trên theo quy định.”
10
Ngày 07/11/2013, UBND xã T lập Biên bản hòa giải số 127/BB – UBND
về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình bà H với gia đình bà N ở thôn
3, M, xã T.
Ngày 05/3/2014, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T có báo cáo số
455/BC – TNMT về việc xem xét, xác minh đơn của bà H ở thôn M xã T, huyện
T.
Ngày 10/3/2014, UBND huyện T có Quyết định số 1607/QĐ- UBND về
việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà H với bà N với nội dung: “Giữ nguyên
hiện trạng sử dụng đất của hộ gia đình bà H tại thời điểm trước năm 2001 (có
sơ đồ kèm theo)”.
Ngày 24/3/2014, bà H có đơn khiếu nại Quyết định số 1607/QĐ- UBND
về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà H với bà N ở thôn M, xã T, quận N.
2.2. MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Trên cơ sở phân tích sơ lược tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
giấy tờ thì cũng không có xác nhận của chính quyền địa phương. Bà N tự
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở nhưng không bị xử lý
vi phạm của chính quyền địa phương. Như việc kê khai cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, người dân không thực hiện kê khai mà do bộ phận chính
quyền địa phương thời bấy giờ tự kê khai và người dân chỉ biết ký tên, dẫn đến
việc mặc dù diện tích 29m2 đất nông nghiệp bà H sử dụng trước đó lại được kê
khai và GCN QSD đất của bà N.
+ Người dân còn thiếu hiểu biết pháp luật dẫn tới hành vi vi phạm pháp
luật là lấn, chiếm đất đai thuộc quản lý của cơ quan nhà nước. Cụ thể, như: Do
công tác quản lý đất đai ở địa phương còn lỏng lẻo, nên đối với diện tích đất
không sử dụng bà H đã tự sử dụng để đào hố vôi xây nhà, trồng rau.
+ Công tác quản lý đất đai cũng còn nhiều bất cập, hồ sơ địa chính chưa
được quan tâm đúng mức, chưa đầy đủ, sổ sách, bản đồ, sổ mục kê thiếu không
đủ cơ sở cho việc quản lý đất đai. Công tác lưu trữ tư liệu địa chính chưa tốt dẫn
đến việc xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất gặp nhiều khó khăn. Công
tác chỉnh lý biến động đất đai không được theo dõi, cập nhật thường xuyên dẫn
12
đến việc tham mưu không đầy đủ, thiếu chính xác trong việc thu hồi đất và giải
quyết khiếu nại về đất đai; không kịp thời phát hiện và xử lý hành vi vi phạm về
đất đai của công dân, để hành vi vi phạm kéo dài khiến công tác giải phóng mặt
bằng sau này gặp nhiều khó khăn. Đó là việc, hồ sơ và nguồn gốc đất của bà N
trước kia là đất của ai? diện tích bao nhiêu mét? không còn, dẫn đến tranh chấp
cũng như khó khăn trong việc giải quyết.
+ Những tồn tại có tính lịch sử, như việc giao đất từ rất lâu nên hồ sơ
không còn được lưu giữ; quá trình tan rã của các Hợp tác xã đã gây khó khăn rất
lớn cho quá trình giải quyết các vụ việc. Việc HTX giao đất trái thẩm quyền
nhưng hồ sơ giao không còn được lưu trữ.
+ Một số bộ phận cán bộ, công chức do trình độ kém không giải thích đầy
1540/QĐ – UBND ngày 07/6/2007, về việc thu hồi hủy bỏ Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho 02 trường hợp (bà N và ông Đ là không đủ cơ sở,
căn cứ và chưa phù hợp với Khoản 3, Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ – CP
ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003; Mục III,
điểm 1.3 Thông tư số 01/2005/TT – BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ
– CP.
Tại điều 17, Quyết định 65/2001/QĐ – UB ngày 29/8/2001 quy định:
“Điều 17: Người đang sử dụng đất có trách nhiệm kê khai chính xác, kịp thời và
đầy đủ nội dung theo quy định về kê khai đăng ký đất ở khu dân cư nông thôn.
Mọi trường hợp cản trở việc kê khai đăng ký, cố tình không kê khai hoặc kê khai
không đúng sự thật sẽ bị xử lý theo quy định của Pháp Luật” và Điều 27 Quyết
định số 23/2005/QĐ – UB ngày 18/2/2005 quy định trách nhiệm của người sử
dụng đất: “Điều 27. Người đang sử dụng đất có trách nhiệm kê khai chính xác,
kịp thời và đầy đủ nội dung theo quy định về kê khai đăng ký đất ở, nhà ở, đất có
vườn, ao. Mọi trường hợp cản trở người khác kê khai đăng ký, cố tình không kê
khai đăng ký hoặc kê khai đăng ký không đúng sự thật sẽ bị xử lý theo quy định
tại Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai”. Nay là Điều 81 Quyết định số
13/2013/QĐ – UBND ngày 24/4/2013 của UBND Thành phố Hà Nội về việc
14
cấp GCN QSD đất trên địa bàn Thành phố quy định trách nhiệm của người sử
dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất: “Điều 81.Người sử dụng đất, sở hữu
tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm kê khai chính xác, kịp thời và đầy đủ nội
dung theo quy định khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận và đăng ký biến động. Mọi
trường hợp cản trở việc kê khai, cố tình không kê khai hoặc kê khai không đúng
sự thật sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật”. Như vậy, Quyết định số
1740/QĐ – UB ngày 24/12/2001 của UBND huyện T về việc cấp GCN QSD đất
trước nhưng vì diện tích 29m2 nằm trong diện tích bà N được cấp giấy. Dẫn đến
bà N căn cứ vào đó để tiếp tục khiếu kiện.
Gia đình bà N có thể khiếu nại vượt cấp lên cơ quan trung ương dẫn tới
khiếu nại kéo dài hoặc khiếu kiện lên Tòa án hành chính.
2.4.2.Phƣơng án thứ hai
+ Đối với đơn khiếu nại của bà N khiếu nại Quyết định số 5383/QĐUBND ngày 06/9/2013 về việc giải quyết khiếu nại liên quan đến việc thu hồi,
hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N: Việc thu hồi, hủy
bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N là có cơ sở.
+ Đối với đơn khiếu nại của bà H khiếu nại Quyết định số 1607/QĐUBND về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà H với bà N với nội dung:
Bà H trả lại cho bà N diện tích 29m2 mà hai gia đình đang tranh chấp.
* Ưu điểm:
Đảm bảo đúng các quy định của pháp luật về cấp, thu hồi và hủy bỏ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về trình tư, thủ tục kê khai GCN QSD đất có tính pháp lý hơn.
Nhanh chóng giải quyết được khiếu nại, thuận tiện cho việc đẩy nhanh
tốc độ giải phóng mặt bằng.
Củng cố kiến thức về pháp luật của công dân và chính quyền các cấp.
* Nhược điểm:
16
- Chưa bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của công dân mà chủ thể
trực tiếp ở đây là gia đình bà H. Mặc dù, diện tích 29m2 gia đình bà H là người
sử dụng trước nhưng gia đình bà H đã bị mất quyền lợi đối với diện tích 29m2.
2.4.3. Phƣơng án thứ ba:
+ Đối với đơn khiếu nại của bà N khiếu nại Quyết định số 5383/QĐUBND ngày 06/9/2013 về việc giải quyết khiếu nại liên quan đến việc thu hồi,
hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N: Việc thu hồi, hủy
bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N là có cơ sở.
+ Đối với đơn khiếu nại của bà H khiếu nại Quyết định số 1607/QĐUBND về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà H với bà N với nội dung:
ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu
nại; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ
quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính;
Căn cứ Quyết định số 89/2009/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của UBND
thành phố Hà Nội quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Thanh tra thành phố Hà Nội;
Căn cứ Quyết định số 1233/QĐ-TTTP ngày 27/5/2014 của Chánh Thanh
tra thành phố Hà Nội về việc ban hành “Quy định trách nhiệm của cán bộ, công
chức cơ quan Thanh tra thành phố Hà Nội trong việc xác minh, báo cáo, giải
quyết khiếu nại, tố cáo”.
2.5.1. Các bƣớc thực hiện
Kể từ ngày nhận được Công văn giao việc của UBND Thành phố, trong
vòng 03 ngày làm việc, Bộ phận Tiếp công dân lập Phiếu đề xuất giao nhiệm vụ
trình Chánh Thanh tra ký duyệt. Phiếu đề xuất phải được gửi đến phòng được
giao nhiệm vụ trong vòng 01 ngày, có gửi kèm Đơn khiếu nại và các tài liệu liên
quan (nếu có).
Trong vòng 02 ngày kể từ ngày nhận được Phiếu đề xuất giao nhiệm
vụ, Trưởng phòng phân công cán bộ tham gia Tổ xác minh.
18
Trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận được Phiếu đề xuất giao nhiệm
vụ, Tổ xác minh tiến hành tiếp công dân làm rõ các nội dung khiếu nại và ban
hành Quyết định thành lập Tổ xác minh nội dung khiếu nại. Thời gian tiến hành
xác minh không quá 45 ngày làm việc kể từ ngày ban hành Quyết định thành lập
tổ Xác minh.
Trong vòng 25 ngày làm việc kể từ ngày ban hành Quyết định thành lập
Tổ xác minh, Tổ xác minh tiến hành nghiên cứu tài liệu, xác minh tại các cơ
quan, đơn vị có liên quan, trình dự thảo Báo cáo kết quả xác minh lên Trưởng
văn bản
phố; ghi sổ đến
20/5/2015
Trình Chánh Thanh tra Ban tiếp công dân; Thanh tra Phiếu đề
duyệt Phiếu đề xuất
21/5/2015
Chánh Thanh tra;
Phân công nhiệm vụ Trưởng phòng
19
Thành phố
xuất
Thanh tra Bằng
cho Tổ xác minh
28/5/2015
Thành phố
Tiếp công dân
Cán bộ địa chính;
Phó
02/7/2015
chủ
phường T
tịch
UBND;
Xác minh tại phòng Tổ xác minh;
TN&MT quận N
Làm
việc
với
UBND
Biên bản
Đại diện phòng quận N
Sở TN&MT;
TN&MT Hà Nội
Sở
Thanh tra Bằng
Thành phố
văn bản
Phó Chánh thanh
tra.
27/7/2015
31/7/2015
Thông qua dự thảo với Tổ xác minh
Thanh tra Biên bản
người khiếu nại
Thành phố
Ban hành Báo cáo kết Tổ xác minh
Thanh tra Bằng
quả xác minh
Thành phố
20
góp ý kiến của các thầy, cô để hoàn thiện bài tập tiểu luận.
3.2. Kiến nghị:
21
* UBND thành phố Hà Nội:
Trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo Luật Khiếu nại 2011, nếu chấp
nhận phương án của Thanh tra Thành phố, UBND Thành phố ra Quyết định giải
quyết khiếu nại và gửi đến người khiếu nại, người bị khiếu nại, Thanh tra Thành
phố và các đơn vị có liên quan.
Trường hợp chưa chấp thuận phương án thì trong thời hạn giải quyết
khiếu nại hoặc thời hạn gia hạn giải quyết, UBND Thành phố có công văn đề
nghị các cơ quan chuyên môn đề xuất ý kiến về phương án của Thanh tra Thành
phố; trường hợp các đề xuất khác nhau thì tổ chức họp Liên ngành để thống nhất
phương án.
Không tiếp tục thụ lý đơn khiếu nại của gia đình bà N do Quyết định
giải quyết của UBND Thành phố là Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai nếu
không có tình tiết mới.
* UBND quận T:
Kể từ ngày nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại của UBND
Thành phố, UBND quận T giao phòng Tài nguyên và Môi trường quận thực
hiện.
* Gia đình bà N: Do Quyết định giải quyết khiếu nại của UBND Thành
phố là Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai, căn cứ Luật Khiếu nại năm 2011,
kiến nghị gia đình bà N và bà H nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của
UBND thành phố thì không tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên UBND Thành phố
(nếu không có tình tiết mới, cũng như cung cấp được thông tin tài liệu mới) hoặc
gửi đơn vượt cấp lên các cơ quan trung ương mà thực hiện khởi kiện vụ án hành
chính lên tòa án hành chính Quận T.
: Tài nguyên môi trường
GCN
: Giấy chứng nhận
QSD
: Quyền sử dụng
GPMB
: Giải phóng mặt bằng
BTNMT
: Bộ Tài nguyên Môi trường