MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
XĐ
XĐTL
Nghĩa đầy đủ
Xung đột
Xung đột tâm lý
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng biểu
Bảng 2.1. Phân bố mẫu nghiên cứu
Bảng 2.2. Độ tin cậy của bảng hỏi
Bảng 3.1. XĐTL thể hiện ở mặt nhận thức
Bảng 3.2. Mức độ ảnh hưởng của bất đồng nhận thức đối với hạnh
phúc gia đình
Bảng 3.3. Tương quan giữa các yếu tố với mức độ XĐ trong quan
niệm về vấn đề tiền bạc
Bảng 3.4. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề
quan hệ nội ngoại với sự hài lòng về ứng xử đối với hai bên nội ngoại
Bảng 3.5. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề
quan hệ nội ngoại với yếu tố gia đình nội ngoại
Bảng 3.6. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề
quan hệ xã hội với sự hài lòng về cách ứng xử trong quan hệ xã hội
Bảng 3.7. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề
57
57
59
60
62
63
65
67
68
70
73
75
80
Bảng 3.19. Mối quan hệ giữa mức sống và mức độ biểu hiện
hành vi phi ngôn ngữ
Bảng 3.20. Mối quan hệ giữa giới tính và mức độ các biểu hiện khi
XĐ
Bảng 3.21. Cách thức hợp tác, tập trung để giải quyết vấn đề
Bảng 3.22. Cách thức tìm kiếm sự trợ giúp
Bảng 3.23. Cách thức bản thân chủ động bộc lộ với bạn đời
Bảng 3.24. Cách thức lảng tránh vấn đề
Bảng 3.25. Cách thức chấp nhận, chịu đựng
Bảng 3.26. Cách giải quyết tiêu cực
Bảng 3.27. Các cách giải quyết XĐTL
Bảng 3.28. Cách thức giải quyết theo giới tính
Bảng 3.29. Văn hóa ứng xử giữa vợ chồng
Bảng 3.30. Yếu tố gia đình nội – ngoại
Bảng 3.31. Tính chất công việc
Biểu đồ 3.8. Sự hài lòng trong cuộc sống gia đình
4
Trang
48
53
75
77
77
78
103
104
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ
Sơ đồ 3.1. Mối tương quan giữa các mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi
Sơ đồ 3.2: Tương quan giữa các cách thức giải quyết với các biến số
XĐTL
Sơ đồ 3.3. Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc với XĐTL
Sơ đồ 3.4. Tương quan giữa mức độ XĐTL với các biến số trong XĐTL
Sơ đồ 3.5. Tương quan giữa mức độ XĐTL với các yếu tố
5
Trang
79
99
101
nghiên cứu của Lê Thi (1997 – vấn đề ly hôn, nguyên nhân và xu hướng vận động)
đã cho thấy ở thời điểm đó, quan niệm về ly hôn đã cởi mở hơn. Như vậy, đã từ lâu
(1997) chúng ta không còn cái nhìn quá khắt khe đối với vấn đề này, bên cạnh việc
nhận thức về mặt tiêu cực, là nhận thức về những mặt tích cực của ly hôn – đó là
cách giải phóng con người khi cuộc sống hôn nhân trở thành nơi giam cầm của
những cặp vợ chồng không thể hàn gắn bởi những xung đột. Như vậy, ly hôn đôi
khi lại là một giải pháp tốt. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này tăng cao thì lại trở thành con số
6
báo động cho sự phát triển thiếu bền vững của gia đình nói riêng và của xã hội nói
chung.
Theo thống kê của ngành tòa án cho thấy, nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ thì
năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ; đến năm 2010, con số này lên tới 126.325 vụ. Còn
theo một công trình nghiên cứu xã hội học của Tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa (trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM): tỉ lệ ly hôn so với kết hôn ở Việt
Nam là 31% - 40%, tức là cứ 3 cặp kết hôn lại có 1 cặp ly hôn – một con số không
thể tin nổi nhưng lại là sự thật.
Từ một số nghiên cứu cho biết những nguyên nhân dẫn đến ly hôn trong đó
mâu thuẫn về lối sống là nguyên nhân hàng đầu (27,7%), ngoại tình (25,9%), kinh
tế (13%), bạo lực gia đình (6,7%), sức khỏe (2,2%), do xa cách lâu ngày (1,3%). Dù
là những nguyên nhân nào thì nó cũng trở thành vấn đề hay yếu tố dẫn đến những
xung đột tâm lý giữa vợ và chồng. XĐTL là ngòi nổ kích hoạt sự tan rã của gia
đình.
Những con số trên cho thấy, xã hội đang có nguy cơ phải đối mặt với sự phát
triển kém bền vững ảnh hưởng từ sự phát triển không lành mạnh của gia đình. Vì
vậy, làm sao để giảm thiểu XĐTL giữa vợ và chồng? làm sao để giảm thiểu tỉ lệ ly
hôn? là bài toán cần được giải đáp không chỉ của xã hội mà còn là của mỗi cá nhân.
Đặc biệt là đối với tầng lớp trí thức - những người có vị trí quan trọng và quyết định
trong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thì việc đi đầu trong vấn
Nghiên cứu được dựa trên một số nguyên tắc phương pháp luận trong tâm lý
học sau:
8
• Nguyên tắc luận duy vật biện chứng: Nghiên cứu XĐTL giữa vợ chồng trong các
gia đình trí thức luôn gắn với tính chủ thể, tính lịch sử, tính xã hội của tâm lý người.
Mỗi người vợ/ chồng trí thức sẽ có những biểu hiện, cách thức giải quyết XĐ khác
nhau tùy thuộc vào thế giới quan, những trải nghiện, kinh nghiệm của họ.
• Nguyên tắc hệ thống: Nghiên cứu mức độ XĐTL vợ chồng trong mối quan hệ tác
động qua lại với các yếu tố khác như văn hóa ứng xử, đặc điểm nghề nghiệp, điều
kiện kinh tế…
• Nguyên tắc phát triển: Nhìn nhận XĐTL giữa vợ chồng không phải là một hiện
tượng tâm lý tĩnh, mà có thể thay đổi dưới sự tác động của nhiều nhân tố khác như
thời gian, trình độ nhận thức…
7.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
-
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp quan sát
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phân tích dữ liệu
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị. Đề tài được cấu trúc 3 chương như
sau:
nói riêng. [2]
Theo đánh giá của A.Kauzer (1956), xung đột là một bộ phận không thể tách
rời của tồn tại xã hội và của sự tác động qua lại giữa các cá nhân và các nhóm.
Trường phái tâm lý học nhận thức khẳng định XĐ chỉ trở thành hiện thực khi và chỉ
khi nó được nhận thức rõ ràng, đi vào ý thức của các bên tham gia XĐ [34].
Theo E.Mayo, trong cuốn “ Các vấn đề xã hội của nền văn minh công
nghiệp” đã chỉ ra sự XĐ giữa các nhóm và các cá nhân trong nhóm đó là sự căm
ghét, bất hòa, nghi kỵ và thù địch, mà lẽ ra phải được thay thế bằng sự hợp tác. Điều
này đòi hỏi phải có những chú ý đặc biệt đến đời sống và hoạt động của nhóm [11].
Hai nhà tâm lý học A. Rapport (1974), Jacob Becrcovich (1984) đi sâu vào
nghiên cứu những ảnh hưởng của XĐ đến bầu không khí tâm lý trong tập thể. Theo
hai ông, những tập thể ổn định và phát triển nhanh là những tập thể ít xuất hiện XĐ.
Ngược lại, những tập thể đang trong giai đoạn hình thành, ổn định và phát triển thì
thường xuất hiện nhiều mâu thuẫn và đạt tới ngưỡng XĐ là không ít.
Ph.Sam – bô (1991) cho rằng: Sự phát triển của nhóm là kết quả từ sự đụng độ
của những khuynh hướng đối lập nhau do sự bất đồng giữa hành vi của thủ lĩnh với
10
những mong đợi của thành viên trong nhóm. Sự bất đồng này khiến nhóm bất ổn
định và XĐ. Nhóm sẽ đi vào ổn định chỉ khi nào nhóm trải qua một loạt các giai
đoạn XĐ và hình thành ở mỗi thành viên trong nhóm những “Tiêu chuẩn văn hóa
chung” [dẫn theo 34].
Theo thuyết so sánh xã hội của G.N. Fischer, trong mỗi nhóm có một hệ thống
chuẩn mực riêng, do các thành viên trong nhóm xây dựng lên. Chuẩn mực có ý
nghĩa hết sức quan trọng, nhằm ràng buộc các cá nhân trong nhóm, tạo sự thống
nhất, duy trì trật tự, quyết định phương hướng ứng xử, giảm bớt tính hỗn tạp. Sự
xuất hiện chuẩn mực chính là kết quả mà các cá nhân chấp nhận và gặp nhau ở các
đáng giá, chính kiến, sau khi đã gạt bỏ những XĐ [dẫn theo 34].
Theo Follet, mâu thuẫn tự bản thân nó không xấu mà cũng chẳng tốt. Mâu
Lê Văn Hảo (2010)…Những nghiên cứu này tiếp cận theo hai hướng nguyên nhân
đó là: bên trong và bên ngoài.
Theo hướng tiếp cận những yếu tố bên trong là nguyên nhân gây ra XĐTL có
các tác giả như: Harville Hendrix cho rằng XĐ xuất hiện do sự thiếu hiểu biết về
người bạn đời và chính mình, nhất là không thấu hiểu được những chấn thương tuổi
thơ, những mong muốn trong cuộc sống hôn nhân [14]. Jacques Gauthier [21] và
John Gray [23] xem sự nhận thức không đầy đủ, đúng đắn và có sự khác biệt ở
nhiều lĩnh vực giữa hai vợ chồng là nguyên nhân dẫn đến XĐTL, còn Fincham lại
nhấn mạnh đến sự khác nhau về sở thích, những ưu tiên giữa vợ và chồng, sự khác
nhau này làm cho vợ và chồng cảm thấy người bạn đời đang can thiệp và cản trở
mình đạt mục tiêu đã định. Szilagy Vilmos [40] cho rằng XĐTL giữa vợ và chồng
có nguyên nhân từ sự không thỏa mãn và hài lòng, bên cạnh đó tác giả còn nhấn
mạnh – những người không được chuẩn bị tinh thần, không được giáo dục về cách
khắc phục, giải quyết những bất đồng và XĐ trong hôn nhân sẽ dẫn đến nguy cơ
hôn nhân đổ vỡ càng cao. Theo Knuds S. Larsen và Lê Văn Hảo, hai tác giả lại xem
sự khác nhau trong quan niệm về trách nhiệm và quyền lợi là nguyên nhân dẫn đến
XĐ [26].
Theo hướng tiếp cận những yếu tố bên ngoài là nguyên nhân gây ra XĐTL có
các tác giả như: Maurice Porot cho rằng sự thiếu thốn vật chất là nguyên nhân dẫn
đến XĐ và sự phân ly trong gia đình, ngoài ra sự nhầm lẫn giữa vai trò làm bố, làm
mẹ cũng dẫn đến những XĐ. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy, để đảm bảo
cho cuộc sống hôn nhân hạnh phúc thì người vợ/ chồng cần nhận thức và thực hiện
đúng vai trò của mình. Bên cạnh đó cần đảm bảo tốt đời sống kinh tế, vật chất của
gia đình [29]. Knuds S. Larsen và Lê Văn Hảo nhấn mạnh đến những yếu tố như
hành vi sử dụng rượu hay chất ma túy dễ dẫn đến XĐ giữa vợ và chồng [26].
Khi nghiên cứu về XĐTL vợ chồng, hai tác giả B.Henring và H.Wessel loại
trừ yếu tố tình dục ra ngoài 4 mâu thuẫn chính: Mâu thuẫn vì con cái; mâu thuẫn vì
khả năng tiếp nhận; mâu thuẫn vì trình độ không đồng đều; mâu thuẫn vì tình yêu,
hứng thú không phù hợp [34].
Một số tác giả nghiên cứu về cách thức giải quyết và can thiệp XĐTL giữa vợ
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Cùng với các nhà khoa học trên thế giới, các nhà tâm lý học Việt Nam cũng rất
quan tâm và có nhiều hướng nghiên cứu về XĐ và XĐTL. Có thể tổng hợp những
nghiên cứu này theo hai hướng sau
1.1.2.1. Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu về XĐ và XĐTL
Trong công trình nghiên cứu “Xung đột và không khí tâm lý trong tập thể” của
tác giả Trần Trọng Thủy (1987), ông cho rằng XĐ là hiện tượng nảy sinh trong hoạt
động cùng nhau của các cá nhân trong tập thể và nó liên quan đến bầu không khí
trong tập thể [43].
13
Nghiên cứu về tâm lý gia đình, tác giả Ngô Công Hoàn (1993) đã bàn đến XĐ
thế hệ. Tác giả đưa ra khái niệm XĐ thế hệ là những quan điểm, thái độ, hành động
trái ngược nhau giữa các thành viên trong gia đình không cùng độ tuổi về các vấn
đề như đạo đức, nếp sống, thói quen…trong đời sống sinh hoạt của gia đình. Tác giả
phân chia một cuộc XĐ thành 3 giai đoạn gồm: Thứ nhất – Giai đoạn nhận thức ra
những trái ngược trong sinh hoạt ăn uống, việc làm, tổ chức cuộc sống; thứ hai –
Giai đoạn XĐ thể hiện qua ngôn ngữ lời nói; thứ ba – Giai đoạn XĐ thể hiện qua
hành động chân tay. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau và do nền kinh tế
[15].
Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1994) đã quan tâm nghiên cứu và đưa ra khái
niệm XĐ, ảnh hưởng của XĐ đối với những tâm bệnh của trẻ em và những rối
nhiễu tâm lý ở người lớn. Tác giả cho rằng, chất lượng của những mối quan hệ gia
đình quyết định trên thực tế tương lai đứa trẻ. Quan hệ lành mạnh giảm bớt những
chấn thương tâm lý đau đớn nhất; quan hệ xấu lại tăng cường những cái nhỏ nhất
giữa chúng. [45]
Nguyễn Đình Xuân (1997) với nghiên cứu về các loại XĐ điển hình và phổ
biến trong gia đình, ông cho rằng: XĐ trong giao tiếp giữa cha mẹ - con cái, XĐ
– Mâu thuẫn với nhau về tâm lý từ đó không có sự hòa hợp về tình cảm, nhận thức
sẽ tạo ra muôn vàn XĐ; thứ hai – Mâu thuẫn về quyền lợi; thứ ba – Mâu thuẫn về
dục vọng, tác giả cho rằng chính những ham muốn của con người đã làm nảy sinh
XĐ [48].
Theo tác giả Văn Thị Kim Cúc (2003), bản chất của gia đình có bố mẹ ly hôn là
XĐ và nó tạo nên các căng thẳng trong mối quan hệ gia đình, đặc biệt là sự bất an
cho những đứa trẻ. Sự XĐ gia đình triền miên để lại những hệ quả là sự phát triển
lệch lạch của những thành viên trong gia đình, điều mà không phải ai cũng ý thức
được [3].
Trong luận án Tiến sĩ của mình, tác giả Cao Huyền Nga (2001) đã chỉ ra những
nguyên nhân dẫn đến XĐTL giữa vợ và chồng đó là: Ngoại tình, đời sống kinh tế
khó khăn, thiếu kĩ năng giao tiếp ứng xử, thiếu tôn trọng, thiếu tin tưởng vào nhau,
sự khác biệt giữa hai vợ chồng [34].
Tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007) với luận án Tiến sĩ nghiên cứu về “XĐTL
trong tình yêu nam nữ của sinh viên” đã đưa ra bốn giai đoạn của một quá trình tiến
triển XĐ gồm có: Giai đoạn 1 – Xuất hiện nguyên nhân sâu xa gây ta quá trình XĐ;
giai đoạn 2 – Tình huống XĐ xuất hiện; giai đoạn 3 – XĐ bùng nổ; giai đoạn 4 –
Giải quyết XĐ. Bên cạnh đó, tác giả phân chia XĐ thành 3 mức độ: Mức độ 1 – Có
sự không phù hợp về quan điểm, nhu cầu, khí chất, tính cách, hành vi…giữa hai
người; mức độ 2 – Có sự khác biệt lớn về quan điểm, nhu cầu, khí chất, tính cách,
hành vi…giữa hai người; mức độ 3 (mức độ XĐ cao nhất) – Có sự đối lập về quan
điểm, nhu cầu, khí chất, tính cách, hành vi…giữa hai người [28].
XĐTL giữa các thành viên trong gia đình nói chung và giữa vợ - chồng nói
riêng luôn để lại những hệ quả trong đó có những hậu quả tiêu cực, vì vậy việc
nghiên cứu những biện pháp can thiệp và thực hiện hỗ trợ, tham vấn, trị liệu tâm lý
nhằm khắc phục và hạn chế XĐTL gia đình là rất thiết thực. Ở Việt Nam, tác giả
15
Nguyễn Khắc Viện (1994) là người tiên phong trong việc nghiên cứu và giới thiệu
dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của
Luật này” [20]. Trong định nghĩa này, gia đình được xem xét trên hai khía cạnh gồm
quan hệ chính thức (kết hôn hợp pháp) và khía cạnh trách nhiệm, quyền lợi của các
thành viên trong các mối quan hệ đó.
16
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên 2011) gia đình được hiểu là
“Tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó
với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và
con cái” [37]. Định nghĩa trên nhấn mạnh đến tính chất của mối quan hệ là hôn
nhân và huyết thống.
Theo từ điển tâm lý (Nguyễn Khắc Viện chủ biên 2001) gia đình gồm bố, mẹ,
con và có hay không một số người khác ở chung một nhà [46]. Định nghĩa này nhấn
mạnh đến số thành viên trong gia đình.
Trong cuốn “Tâm lý học gia đình” tác giả Ngô Công Hoàn định nghĩa: Gia
đình là một nhóm xã hội, các thành viên trong nhóm đó có quan hệ gắn bó về hôn
nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có cùng chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn
định trong các thời điểm lịch sử nhất định [15].
Tác giả Nguyễn Đình Xuân đã nêu ra định nghĩa gia đình trong cuốn “Tâm lý
học tình yêu gia đình” như sau: Gia đình là một đơn vị, một nhóm xã hội với số
lượng thành viên ít nhất là hai người: vợ và chồng. Sau đó sinh sôi nảy nở thêm con
cái, trong đó mối quan hệ vợ chồng là giường cột [47].
Dưới quan điểm Xã hội học, Levy Strauss định nghĩa: Gia đình là một nhóm
xã hội được quy định bởi 3 đặc điểm thường thấy nhiều nhất: Hôn nhân; quan hệ
huyết thống; những ràng buộc về mặt pháp lý, nghĩa vụ, quyền lợi có tính chất kinh
tế, sự cấm đoán tình dục gắn với các thành viên và những ràng buộc về mặt tình
cảm, tâm lý, tình yêu, tình thương và sự kính trọng, sợ hãi.
Theo Yvone Castellan, gia đình như một cộng đồng những người: Có quan hệ
huyết thống; chung sống dưới mái nhà hay cùng một nơi cư ngụ; cùng chung một số
thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, cùng chung sống với nhau và phải có những quy
định, quy chế giữa các thành viên, có ngân sách chung và thực hiện các chức năng:
Duy trì nòi giống; chăm sóc, bảo vệ; giáo dục; chức năng kinh tế; chức năng thỏa
mãn và đảm bảo sự cân bằng tâm lý.
Như vậy, gia đình được hiểu dựa trên các tiêu chí sau:
Thứ nhất: Gia đình bao gồm những thành viên có mối quan hệ với nhau đặc
trưng nhất là quan hệ hôn nhân (được pháp luật thừa nhận).
Thứ hai: Gia đình là nơi thực hiện các chức năng gồm: Chức năng tái sản xuất
con người; chức năng kinh tế; chức năng chăm sóc, bảo vệ; chức năng giáo dục;
chức năng đảm bảo sự cân bằng đời sống tâm lý.
1.2.1.2. Trí thức
Định nghĩa trí thức
Khái niệm trí thức đã được bàn đến từ rất lâu. Trong lịch sử Việt Nam thời Lê,
nghề nghiệp được chia thành 4 loại gồm: Sĩ (trí thức); nông; công; thương và vai trò
của trí thức cũng được đề cập “Nhất sĩ nhì nông”. Ngày nay, sự phân loại nghề
nghiệp đa dạng hơn rất nhiều với các lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Điều đặc biệt
là trí thức có thể làm việc ở tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề còn các tầng lớp
nông, công, thương thì phạm vi hoạt động nghề nghiệp hạn chế hơn. Ở mỗi thời đại
khác nhau với mỗi tác giả khác nhau lại đưa ra những định nghĩa khác nhau về trí
thức dưới những góc độ tiếp cận khác nhau: Có tác giả chú ý đến trình độ học vấn;
18
-
đặc thù nghề nghiệp; có tác giả lại nhấn mạnh đến các thuộc tính nhân cách như
năng lực tư suy, sáng tạo… Dưới đây là một số định nghĩa trí thức của một số tác
giả:
Theo tác giả Phạm Tất Dong (1995) cho rằng Trí thức là những người: Sáng
tạo, phổ biến và vận dụng văn hóa; học vấn đại học – điều kiện cần để được xếp vào
vụ trực tiếp cho hoạt động nghề nghiệp.
Thứ ba: Thuộc tính nhân cách – Có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo.
19
Chúng tôi lựa chọn những trí thức có ba đặc điểm trên là khách thể nghiên
cứu. Với khách thể này, chúng tôi muốn tìm hiểu xem với khả năng nhận thức cao,
có nghề nghiệp, có năng lực tư duy, sáng tạo thì họ có những biểu hiện và cách thức
giải quyết như thế nào trước những XĐTL giữa vợ chồng.
Phân loại trí thức
Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp, tác giả Phạm Tất Dong chia trí
thức thành năm loại sau:
(1). Trí thức trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật;
(2). Trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn;
(3). Trí thức trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật;
(4). Trí thức trong các lực lượng vũ trang;
(5). Trí thức trong lĩnh vực doanh nghiệp [4].
Theo tác giả Lê Thị Thanh Hương cùng với các cộng sự đã phân chia tầng lớp
trí thức theo lĩnh vực hoạt động gồm 5 loại như sau:
(1). Hoạt động chủ yếu là nghiên cứu khoa học;
(2). Hoạt động chủ yếu là giảng dạy;
(3). Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực quản lý xã hội;
(4). Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh;
(5). Hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật [18].
Từ việc tìm hiểu về định nghĩa gia đình và định nghĩa trí thức, chúng tôi hiểu
về gia đình trí thức như sau: Gia đình trí thức là gia đình mà tối thiểu có vợ và
chồng đều là những người có trình độ học vấn từ bậc đại học, có khả năng tư duy
độc lập và sáng tạo trọng hoạt động nghề nghiệp.
Trong luận văn này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài trên khách thể trí
này, tác giả đã nhấn mạnh nhận thức là nguyên nhân dẫn đến XĐ, ngoài ra XĐ xuất
hiện ở mối quan hệ mà giữa những cá nhân có sự phụ thuộc lẫn nhau.
Tác giả Văn Kim Cúc định nghĩa: XĐ là sự bất đồng quan điểm, bất đồng
nhận thức, từ đó dẫn đến những ứng xử không phù hợp với nhau, không hòa đồng
với nhau [3]. Tác giả đã tiếp cận XĐ dưới góc độ nhận thức và ứng xử - khi nhận
thức bất đồng sẽ dẫn đến việc xuất hiện những ứng xử không không phù hợp. Như
vậy, trong XĐ, có mối quan hệ giữa nhận thức với cảm xúc và hành vi.
Từ các định nghĩa trên về XĐ, có thể tiếp cận XĐ theo hai hướng:
XĐ nội tâm: Diễn ra trọng nội tại của chủ thể, chủ thể cảm thấy bị giằng xé giữa
những sức mạnh ngược chiều và ngang sức nhau.
XĐ liên cá nhân: Là XĐ diễn ra giữa chủ thể này với chủ thể khác, giữa nhóm này
với nhóm khác và nó có đặc điểm như sau:
• Có sự khác nhau giữa các cá nhân.
• Tạo ra trạng thái căng thẳng ở mỗi cá nhân khi diễn ra XĐ.
• XĐ diễn ra ở các cá nhân có mối liên quan với nhau và tạo ra những biến đổi tâm lý
ở mỗi cá nhân.
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận XĐ theo hướng XĐ liên cá nhân và
chúng tôi hiểu về XĐ như sau: XĐ là sự bất đồng quan điểm, sự va chạm, mâu
thuẫn ở mức độ cao giữa những chủ thể có mối quan hệ qua lại với nhau.
1.2.2.2. Xung đột tâm lý
Nếu như XĐ theo quan điểm triết học luôn tồn tại ở mọi sự vật hiện tượng thì
XĐTL chỉ xuất hiện ở con người. Với những đặc trưng của con người, nên XĐTL
21
diễn ra dưới cơ chế đặc thù và được phân thành nhiều loại.
Cơ chế xung đột tâm lý
XĐTL có thể diễn ra dưới dạng XĐTL nội tâm hay XĐTL liên cá nhân, mỗi
kiểu XĐ diễn ra theo cơ chế riêng. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi nghiên cứu về
thân mỗi người, hoặc giữa các cá nhân trong mối quan hệ liên nhân cách hay liên
22
nhóm, cùng với những trạng thái cảm xúc tiêu cực như: Hoang mang, lo lắng, khó
chịu, bực bội, phẫn nộ, căm giận [28].
Tác giả Đỗ Hạnh Nga (2005) cho rằng: XĐTL là sự va chạm, mâu thuẫn ở
mức độ cao của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lý – ý thức của mỗi cá nhân,
trong quan hệ qua lại giữa các cá nhân hay các nhóm người, nó biểu hiện trong các
trải nghiệm cảm xúc kèm theo những chấn động về tình cảm (thường là những cảm
xúc âm tính: Nóng giận, bực bội, khó chịu…) [31]. Trong định nghĩa XĐTL của
Nguyễn Đình Mạnh và Đỗ Hạnh Nga đã bàn dưới góc độ nguyên nhân gây XĐTL
và biểu hiện của nó.
Dù mỗi tác giả sẽ có những cách tiếp cận riêng và đưa ra định nghĩa khác nhau
về XĐTL, tuy nhiên dưới phạm trù tâm lý học thì họ đều có những điểm chung sau:
Thứ nhất: Nguyên nhân dẫn đến sự XĐTL là do sự khác biệt, đối lập về những
mục đích, lợi ích, những xu hướng tâm lý; sự khác biệt, mâu thuẫn về nhận thức,
cảm xúc… của các cá nhân hay nhóm.
Thứ hai: XĐTL đều dẫn đến sự biến đổi tâm lý của các cá nhân thể hiện ở mặt
nhận thức, thái độ, hành vi chủ yếu theo hướng tiêu cực.
Từ việc tìm hiểu về cơ chế XĐTL và những định nghĩa trên, chúng tôi hiểu về
XĐTL như sau: XĐTL là sự bất đồng, va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao giữa các
chủ thể có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau; biểu hiện qua nhận thức, trạng
thái cảm xúc và hành vi theo xu hướng phá hủy mối quan hệ.
Phân loại xung đột tâm lý
XĐTL được phân thành nhiều loại dựa trên các tiêu chí khác nhau:
• Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia xung đột:
- Xung đột liên cá nhân: Những cá nhân có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau nên đã kìm
hãm mục tiêu chung hoặc đi theo những giá trị và chuẩn mực không thống nhất với
nhau.
XĐ hôn nhân là sự phản đối công khai giữa vợ và chồng, thể hiện sự bất đồng
trong mối quan hệ hoặc nguồn gốc của sự bất đồng. Định nghĩa này bàn đến loại
XĐTL công khai, bộc lộ những biểu hiện của XĐ ra bên ngoài.
Tác giả Tim và Joy Downs (2006) dưới góc độ tiếp cận về mặt hậu quả mà XĐ
gây ra đối với vợ và chồng, hai tác giả cho rằng: XĐ hôn nhân không chỉ khác biệt
về quan điểm mà nó còn được thể hiện ở một loạt các sự kiện được xử lý kém, để
gây tổn hại sâu sắc mối quan hệ vợ chồng. Vấn đề hôn nhân đã trầm trọng đến mức
tổn hại lòng tự trọng, đau đớn, tức giận, để lại những tổn thương cơ thể, ngăn cản sự
giao tiếp hiệu quả giữa hai vợ chồng [30].
Theo tác giả Tôđor Ghêghisanốp (2002), khi bàn đến hậu quả của XĐ, ông
không chỉ dừng lại việc tác động của nó đến vợ và chồng mà còn có tác động đến
nhiều người xung quanh. Ông định nghĩa XĐTL giữa vợ và chồng là sự khác biệt
hay không trùng hợp ý kiến, quan điểm giữa hai vợ chồng, gây ra sự căng thẳng
tường xuyên bên trong và bên ngoài gia đình [30]. Ngoài ra, tác giả còn bàn đến sự
khác nhau giữa XĐ và cãi vã. Cãi vã là dạng hiện thực của XĐ, tức là biểu hiện gay
gắt được bộc lộ ra bên ngoài của XĐ. Cãi vã là sự kiện tạm thời có thể giải tỏa
những căng thẳng cảm xúc trong mỗi người nhưng không thể xóa được XĐ, không
24
-
-
-
triệt bỏ được nguyên nhân gây XĐ mà lại càng làm cho XĐ gay gắt hơn, mâu thuẫn
sâu sắc hơn, khác biệt lớn thêm và làm cho mối quan hệ vợ chồng trở nên xa cách
hơn.
Từ việc tìm hiểu về định nghĩa của XĐ, XĐTL, XĐTL giữa vợ và chồng,
của bản thân đối với bạn đời, đối với cuộc sống gia đình và đồng thời cả cách ứng
25