1
1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn của TS. Cao Tuấn Khanh.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình
thực tế của đơn vị mà tôi tìm hiểu và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 3 năm 2015
Tác giả luận văn
Phùng Nguyễn Ánh Ngọc
2
2
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Thương
Mại, xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện
thuận lợi nhất về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Cao Tuấn Khanh đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn Thạc sĩ một cách trọn vẹn
và hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ, nhân
XNK
Doanh nghiệp thương mại
Hợp tác xã
Siêu thị
Xuất nhập khẩu
World Trade Organization - Tổ chức thương
WTO
mại thế giới
4
4
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Danh mục bảng biểu
1
Bảng 1.1
2
Bảng 2.1
Phân hạng siêu thị theo quy định hiện hành
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
tiêu dùng của Hà Nội và trên toàn quốc
Số lượng siêu thị trên cả nước và trên địa bàn Hà
Nội
Số lượng trung tâm thương mại trên cả nước và
trên địa bàn Hà nội
Cơ cấu các ngành hàng tại chuỗi siêu thị Fivimart
Chương trình xúc tiến thương mại đã tổ chức
Cơ cấu lực lượng bán hàng của hệ thống Fivimart
Phân tích SWOT của các chuỗi siêu thị và chợ
truyền thống
Quy hoạch xây dựng mạng lưới siêu thị Hà Nội
đến năm 2020
Mô hình ma trận TOWS
5
5
5
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
STT
1
2
3
Danh mục sơ đồ và hình vẽ Tên sơ đồ và hình vẽ
Các bộ phận hợp thành giá trị dành cho
10
Hình 2.4
11
Hình 2.5
12
Hình 2.6
13
Hình 3.1
14
Hình 3.2
thống chiến lược chức năng chính của
doanh nghiệp
Mô hình cấu trúc chiến lược marketing
của chuỗi siêu thị
Định vị theo hệ Q/P (Quality/Price)
Quy trình kiểm soát chiến lược marketing
của chuỗi siêu thị
Mô hình tổ chức của chuỗi siêu thị bán lẻ
Fivimart
marketing cần thiết. Những chiến lược marketing hiệu quả sẽ tạo nên bước đột
phá bền vững về thị phần trong miếng bánh thị trường vốn đã gần như là bão
hòa. Một chiến lược marketing hiệu quả sẽ mang lại lợi ích vô cùng to lớn đối
với doanh nghiệp.
Về thực tiễn
Việt Nam gia nhập WTO và mở rộng cánh cửa hội nhập kinh tế Quốc tế, thị
trường Việt Nam được các chuyên gia kinh tế đánh giá là một thị trường tiềm năng
rất lớn, đặc biệt là thị trường bán lẻ với một nửa dân số tầm 30 – 35 tuổi có sức mua
lớn. Nhiều loại hình bán lẻ mới đã và đang hình thành ở Việt Nam để khai thác thị
trường tiềm năng này, trong đó có xuất hiện một phương thức kinh doanh hiện đại
là siêu thị và chuỗi siêu thị.
Kinh doanh siêu thị theo chuỗi là một cách thức kinh doanh trên thế giới
không còn là mới nhưng ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu. Những kinh
nghiệm của điều hành chuỗi siêu thị của các tập đoàn lớn trên thế giới như Walmart
giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có những kinh nghiệm nhất định nhưng việc
áp dụng ở Việt Nam là rất khó khăn do thiếu vốn, nhân lực và cách thức quản lý
chuỗi siêu thị của doanh nghiệp mình.
Kinh doanh theo chuỗi đang là một hướng đi hiệu quả trong kinh doanh hiện
đại. Nhưng việc xây dựng và triển khai hoạt động marketing của chuỗi siêu thị
7
không hề dễ dàng. Đã có thực trạng xảy ra là với việc mở rộng quá về mặt quy mô,
số lượng siêu thị mà các chuỗi siêu thị đã không quan tâm đến chất lượng hoạt động
và thiếu một sự đồng bộ trong chuỗi là một thực trạng đáng lo ngại. Vì vậy mà mỗi
chuỗi siêu thị đều cần phải có chiến lược marketing phù hợp với doanh nghiệp mình
thì mới có thể ngày càng phát triển.
Về bối cảnh hiện tại
Trong những năm gần đây thị trường bán lẻ nói chung và hoạt động kinh
doanh trong hệ thống siêu thị nói riêng tại Việt Nam đã có những chuyển biến đáng
hơn. Điều này chỉ có thể có khi Fivimart thực sự trở thành một chuỗi siêu thị mạnh
được xây dựng theo quan điểm mới toàn diện hơn bao gồm một chiến lược
marketing với các nội dung đầy đủ của nó.
Với cách tiếp cận đó, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ
của mình là: “Hoàn thiện chiến lược marketing cho chuỗi siêu thị Fivimart trên
địa bàn thành phố Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về chiến lược marketing của
chuỗi siêu thị
2.1. Ở nước ngoài
Một số tác phẩm về Marketing của Philip Kotler - được mệnh danh là “cha đẻ
của marketing hiện đại” đã xuất bản rất nhiều những tác phẩm về marketing được
1.
những nhà kinh tế đánh giá cao. Một số tác phẩm của ông có thể kể đến như:
Philip Kotler (2010) Marketing Management, NXB Prentice - Hall. Đây được coi là
một trong những tác phẩm kinh điển của Ph.Kotler. Cuốn sách đã được tái bản tới
2.
lần thứ 14 kể từ khi lần đầu ra mắt vào năm 1967.
Ph.Kotler & K. Lane Keller (2013), Marketing Management, NXB Prentice - Hall.
Được tái bản lần thứ 14.
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về marketing của một số nhà kinh tế, tác
giả khác như:
3.
John Westwood (2000), Hoạch định chiến lược marketing hiệu quả (dịch giả: Lan
4.
học nào đã được công bố hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng chiến lược marketing của chuỗi siêu thị Fivimart trên địa
bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp
nhằm hoàn chiện chiến lược Marketing của chuỗi siêu thị Fivimart trên địa bàn Hà
Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2025.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về siêu thị và chiến lược marketing của
chuỗi siêu thị.
- Phân tích và đánh giá thực trạng chiến lược marketing của chuỗi siêu thị
Fivimart trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chiến lược marketing của chuỗi siêu thị
Fivimart trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và nội dung chiến
lược marketing của chuỗi siêu thị Fivimart trên địa bàn thành phố Hà Nội.
10
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do những hạn chế về thời gian, năng lực và nguồn lực trong nghiên cứu nên
luận văn tập trung giới hạn nghiên cứu sau:
Về không gian: Nghiên cứu chủ yếu chiến lược marketing của siêu thị thuộc
chuỗi siêu thị Fivimart trên địa bàn Hà Nội, tập trung nghiên cứu tập khách hàng
mục tiêu mua lẻ ở các siêu thị thuộc chuỗi siêu thị Fivimart (Luận văn tập trung
khảo sát các cá nhân mua sắm phục vụ cho tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình tại
Hà Nội).
Về thời gian: Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu, gồm các dữ liệu thứ cấp phản
- Mục tiêu: thu thập thông tin về chiến lược marketing mà chuỗi siêu thị
Fivimart đang thực hiện và hiệu quả của chiến lược đó.
- Phương pháp thu thập: Phương pháp phỏng vấn chuyên gia và điều tra
khách hàng.
- Phân tích thống kê: trên cơ sở các thông tin và tư liệu thu thập từ các nguồn
khác nhau. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê kinh tế để hệ thống hóa và
phân tích các dữ liệu nhằm minh họa những nội dung lien quan đến đề tài, tiến hành
so sánh, đánh giá kết hợp với dự báo tình hình để rút ra những nhận xét, kết luận.
Trên cơ sở đó, luận văn khái quát hóa thành những nội dung vừa mang tính lý luận,
nguyên tắc chung, vừa là những mô hình và giải pháp gắn với thực tiến của chuỗi
siêu thị.
- Phương pháp điều tra khảo sát: Khảo sát 210 cá nhân là người dân sinh sống
trên địa bàn Hà Nội, lấy mẫu ngẫu nhiên thuận tiện và sử dụng phiếu điều tra (Phụ
lục) để nắm được đặc điểm, thói quen mua sắm và tiêu dùng, vấn đề quan tâm khi
mua hàng ở siêu thị, đánh giá của khách hàng về các siêu thị thuộc chuỗi siêu thị
Fivimart vào năm 2013, 2014. Đồng thời còn sử dụng phương pháp phỏng vấn gồm
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: phỏng vấn các chuyên gia, phỏng vấn chuyên
sâu các chuyên gia về đề tài nghiên cứu và thực trạng chiến lược marketing của
chuỗi siêu thị Fivimart và – Phương pháp nghiên cứu thực tế: Đi nghiên cứu trên
toàn chuỗi siêu thị Fivimart trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Nguồn dữ liệu
Thu thập các dữ liệu về thực trạng chiến lược marketing của các siêu thị thuộc
chuỗi siêu thị thông qua các dữ liệu thứ cấp + Báo cáo tổng kết xây dựng và phát
triển chuỗi siêu thị Fivimart, thu thập dữ liệu sơ cấp qua khảo sát + Bản phương
hướng chiến lược của Tổng công ty trong thời gian từ 2013 - 2015 và quan trắc các
cá nhân người tiêu dùng.
6. Đóng góp kỳ vọng của nghiên cứu
Về lý luận khoa học: Luận giải một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản
liên quan đến siêu thị và hoàn thiện chiến lược marketing cho chuỗi siêu thị.
chí khác nhau giữa các khu vực thị trường, thuộc các quốc gia và nền kinh tế.
Tại Pháp: “Siêu thị là cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ có diện
tích từ 400 m2 đến 2500 m2 chủ yếu là bán hàng thực phẩm và vật dụng gia đình”1
Tại Hoa Kỳ: “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn, có mức chi phí
thấp, tỉ suất lợi nhuận cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn
đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và
những mặt hàng chăm sóc nhà cửa” 2. Hoặc đơn giản hơn là: “Siêu thị là cửa hàng
tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của
người tiêu dùng như thực phẩm, thức uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng
cần thiết khác”3.
Siêu thị, theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia - “là dạng cửa hàng tự
phục vụ, hàng hóa ở đây rất đa dạng và đực chọn lọc kĩ hơn so với trong chợ hay
cửa hàng tạp phẩm. Loại hình này gọi chung là siêu thị truyền thống vì ngày nay từ
“siêu thị” còn được chỉ những nơi chỉ chuyên kinh doanh một mặt hàng, một chủng
loại mặt hàng nào đó. Ví dụ: siêu thị điện máy, siêu thị điện thoại di động, siêu thị
trái cây… thậm chí còn có siêu thị việc làm. Siêu thị truyền thống được xây dựng
trên diện tích lớn, gần khu dân cư để tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh
thu. Quy mô của siêu thị thì lớn hơn các cử hàng tạp phẩm (hoặc chợ) và tương đối
nhỏ hơn các trung tâm thương mại”.
1 Theo Marc Benoun, “ Marketing: Savoir et savoir – faire”, 1991
2 Theo Philip Kotler, “ Marketing căn bản”
3 Theo Melvin Morgenstein và Harriet Strongin, “Mordern Retailing – Management Principales and
Practices”
14
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt
Nam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004:
“Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặc chuyên
doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng;
hàng, gian hàng, trưng bày hàng hóa, biểu hiện và hình thức bên ngoài là tương tự
nhau. Chuỗi siêu thị là một số siêu thị của một hoặc nhiều doanh nghiệp liên kết với
nhau có đặc điểm kinh doanh tương tự nhau về hàng hóa, giá cả, quản lý, biển hiệu
hoặc biểu hiện bên ngoài và thường có một tên gọi thống nhất.
Từ các khái niệm về chuỗi siêu thị, tác giả rút ra khái niệm như sau về chuỗi
siêu thị trong bán lẻ: Chuỗi siêu thị bán lẻ để chỉ một hệ thống gồm 2 siêu thị trở lên
có cùng một quan điểm và loại hình kinh doanh với một tên gọi và thực hiện chúng;
được chỉ đạo, quản lý điều hành theo một định hướng và nội dung thống nhất tập
trung từ một văn phòng chính. Về hàng hóa, các siêu thị này có cùng một chủng
loại hàng hóa kinh doanh được bán với giá thống nhất, ngoài ra nó có thể bổ sung
thêm những hàng hóa khác phù hợp với yêu cầu của từng địa phương nơi siêu thị
hoạt động. Hoạt động thu mua và phân phối hàng hóa của chuỗi siêu thị được tổ
chức tập trung trên quy mô lớn.
1.1.2. Phân loại, đặc trưng và vai trò của siêu thị trong hệ thống phân phối bán lẻ
1.1.2.1. Phân loại `siêu thị
Phân loại theo quy mô
- Siêu thị nhỏ (Mini supermarket): theo cách phân loại của Pháp thì những siêu thị có
diện tích dưới 400m2 được gọi là siêu thị nhỏ. Mặt hàng chủ yếu là thực phẩm,
doanh số chiếm 90 – 95% tổng doanh thu. Danh mục thực phâmt thông thường
-
khoảng 1.500 mặt hàng.
Siêu thị (Supermarket):ở Pháp các siêu thị thường có diện tích từ 400 m 2 đến
2.500 m2. Siêu thị ở Mỹ có diện tích trung bình là 1.500 m 2. Danh mục hàng hóa
kinh doanh của các siêu thị thường từ 2.500 – 3.500 mặt hàng và doanh số bán
chiếm khoảng 80% tổng doanh thu. Địa điểm đặt siêu thị thường ở trung tâm
thành phố, các khu dân cư lớn, giao thông thuận tiện, có bãi đỗ xe rộng và tiêu
-
khách hàng giống như cửa hàng giảm giá, hạ giá.
Siêu thị chất lượng: lấy chất lượng cao là yếu tố chính để thu hút khách hàng. Siêu
thị chất lượng thường chọn khách hàng mục tiêu là những người có thu nhập cao.
Phân loại theo quy chế siêu thị hiện hành tại Việt Nam
Theo quy chế Siêu thị và Trung tâm thương mại của Bộ Thương Mại và quyết
định số 14606 của UBND thành phố Hà Nội ngày 25.8.2006 về cơ chế khuyến
khích đầu tư xây dựng trung tâm thương mại và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà
Nội, tiêu chuẩn của siêu thị được xây dựng dựa vào địa điểm kinh doanh và quy mô
trình độ tổ chức kinh doanh. Cụ thể siêu thị được chia thành 3 hạng I, II, III thể hiện
trên bảng 1.1 sau:
Bảng 1.1. Phân hạng siêu thị theo quy định hiện hành
Hạng
Hạng I
Hạng II
Hạng III
Loại hình
Siêu thị tổng hợp
Siêu thị chuyên doanh
Siêu thị tổng hợp
Siêu thị chuyên doanh
Siêu thị tổng hợp
Siêu thị chuyên doanh
Tiêu chuẩn tối thiểu về
Diện tích kinh doanh (m2)
Số lượng tên hàng
5.000
20.000
Mặt hàng kinh doanh tại siêu thị rất phong phú và đa dạng (mặt hàng ở đây là
bao gồm luôn giá cả, dịch vụ…). Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên tới
hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn loại hàng. Thông thường, một siêu thị có thể
đáp ứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trang
phục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa, vệ sinh...
1.1.2.3. Vai trò của siêu thị trong hệ thống phân phối bán lẻ
Siêu thị nằm trong hệ thống phân phối bán lẻ, là cầu nối quan trọng giữa
sản xuất và tiêu dùng.
Người tiêu dùng thường có nhu cầu về nhiều loại hàng hoá nhưng lại với số
lượng ít, trong khi đó người sản xuất để đảm bảo lợi nhuận và bù đắp chi phí kinh
doanh thì phải sản xuất một hoặc một số hàng hoá với khối lượng lớn. Các nhà phân
phối bán lẻ trong đó có các siêu thị sẽ giúp giải quyết mâu thuẫn này bằng cách mua
hàng hoá của nhiều nhà sản xuất khác nhau, bán lại cho người tiêu dùng tại một địa
điểm. Bằng cách đó, các siêu thị đã giải quyết sự khác biệt và không trùng khớp về
không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Về mặt không gian, có rất nhiều
nhà sản xuất ở nhiều địa điểm khác nhau và người tiêu dùng cũng vậy, sự trùng
khớp là rất ít. Còn về mặt thời gian, sản xuất và tiêu thụ không thể diễn ra cùng một
18
lúc, sản xuất phải diễn ra trước và phải tiến hàng dự trữ để khi cần sẽ đáp ứng được
nhu cầu.
Các siêu thị hoạt động trong mạng lưới lưu thông phân phối bán lẻ, giữ vai
trò ngày càng quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội.
Siêu thị cung cấp cho người tiêu dùng đúng chủng loại hàng hoá mà họ cần,
đúng thời gian, tại một địa điểm. Và do là bán hàng trực tiếp cho khách hàng là
người hiểu rõ nhất nhu cầu của khách hàng để từ đó cung cấp thông tin phản hồi đối
với nhà sản xuất, tác động tới sản xuất để nhà sản xuất có kế hoạch sản xuất sao cho
phù hợp với nhu cầu đa dạng và thay đổi liên tục của khách hàng.
Siêu thị có thể dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường,
Giá trị sản phẩm
Giá trị dịch
Giávụtrị nhân
Giásự
trị hình ảnhChi phí bằng
Phítiền
tổn tham
Phí gia
tổn công
Phísức
tổn tinh thần
Tổng giá trị mà khách hàng nhận được
Tổng chi phí mà khách hàng phải trả
Giá trị dành cho khách hàng
Hình 1.1. Các bộ phận hợp thành giá trị dành cho khách hàng
Như vậy, giá trị dành cho khách hàng không chỉ đơn thuần là những giá trị/lợi
ích nằm trong bản thân SP/DV. Nó bao gồm tất thảy những giá trị hữu hình và vô
hình, giá trị được sáng tạo ra trong sản xuất và giá trị nằm ngoài khâu sản xuất,
miễn là những giá trị này mang lại lợi ích cho khách hàng.
1.1.4. Quá trình cung ứng giá trị theo tiếp cận marketing
20
Cung ứng giá trị
Tru
phận marketing với các bộ phận khác trong doanh nghiệp.
1.1.5. Chiến lược marketing - Khái niệm, vị thế và nội hàm
Peter Drucker, nhà quản trị bậc thầy đã từng nói rằng: “Nội dung thực sự của
marketing không phải là bán hàng. Mục tiêu đích thực của marketing là phải biết
và hiểu được khách hàng, tốt đến mức các sản phẩm và dịch vụ cung ứng sẽ phù
hợp hoàn toàn với khách hàng và tự nó sẽ được bán”.
22
Như vậy, marketing là hoạt động của con người được hướng đến việc thỏa
mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi.
Theo Philip Kotler trong cuốn Marketing căn bản, nhà xuất bản Lao động – xã
hội năm 2005, “Chiến lược marketing là hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn
cứ chỉ đạo đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ marketing của
mình. Nó bao gồm những chiến lược cụ thể đối với các thị trường mục tiêu, đối với
phức hệ marketing và mức chi phí cho marketing”.
Theo GS.TS Nguyễn Bách Khoa trong cuốn “Marketing thương mại”, nhà
xuất bản thống kê năm 2005, “Chiến lược marketing được định nghĩa là toàn bộ
logic tiếp thị thương mại và nhờ nó các đơn vị kinh doanh đạt được mục tiêu
marketing của mình”. Một chiến lược marketing của doanh nghiệp bao gồm một
cấu trúc cân bằng của marketing mục tiêu, marketing – mix và quy hoạch marketing
của doanh nghiệp phù hợp, thích nghi với những điều kiện môi trường marketing
thường xuyên thay đổi.
Chiến lược marketing là một trong những chiến lược chức năng. Trong kinh
doanh hiện đại, đây là chiến lược chức năng có vị thế quan trọng và tính tích hợp
cho việc thiết lập và phát triển các chiến lược chức năng khác như chiến lược sản
xuất, chiến lược kinh doanh, chiến lược về tài chính, chiến lược nguồn nhân lực.
Chiến lược
tốt đẹp hơn cho chuỗi siêu thị. Một chuỗi siêu thị thường phải xây dựng rất nhiều
chiến lược cho mình để có thể đảm bảo hoạt động cũng như có thể chuẩn bị những
nguồn lực cần có để đối phó với những thay đổi chung của môi trường, những biến
động của nền kinh tế.
1.2. Phân định nội dung chiến lược marketing của chuỗi siêu thị
1.2.1. Mô hình nghiên cứu quá trình và nội dung chiến lược marketing của
chuỗi siêu thị
Có thể mô hình hóa cấu trúc chiến lược marketing của chuỗi siêu thị, như sau:
Phân tích tình thế chiến lược Marketing
Chiến lược marketing mục tiêu định hướng giá trị của chuỗi siêu thị
Chiến lược marketing mix định hướng giá trị/thị trường mục tiêu của chuỗi siêu thị
Chiến lược dựa trên năng lực marketing
Đánh giá, kiểm tra, kiểm soát chiến lược marketing
24
Hình 1.4. Mô hình cấu trúc chiến lược marketing của chuỗi siêu thị
1.2.1.1. Phân tích tình thế chiến lược marketing
Để việc phát triển chiến lược marketing được hiệu quả, chuỗi siêu thị cần phải
cập nhật thông tin tình thế chiến lược thông qua tổng hợp và phân tích các yếu tố
môi trường marketing có ảnh hưởng tới các quyết định lựa chọn, cấu trúc hoặc các
yếu tố cốt lõi của hoạt động marketing bao gồm các nội dung sau:
Mô tả tình thế marketing hiện tại: được thể hiện thông qua các biến số như
tình hình thị trường, tình thế và sức mạnh cạnh tranh mặt hàng, tình thế cạnh tranh
của chuỗi siêu thị, tình thế phân phối và bán hàng, tình thế của môi trường vĩ mô.
Tiên lượng xu thế vận động tự phát của thị trường: Chỉ định những khả năng
có thể xảy ra nếu giả định không có sự thay đổi của chương trình Marketing và
học. Phân đoạn khách hàng theo địa dư đòi hỏi các siêu thị phải chia thị trường
thành nhiều đơn vị địa dư khác nhau, thường là theo thành phố, quận nội thành,
vùng ngoại ô. Với mỗi đơn vị địa dư đã được nhận diện, các siêu thị tiếp tục phân
đoạn khách hàng theo nân khẩu học tức là chia thị trường thành các nhóm theo các
biến số nhân khẩu học như: giới tính, tuổi tác, thu nhập…
Sau khi phân đoạn thị trường, các chuỗi siêu thị cần phải ra hai quyết định: sẽ
bao quát mấy đoạn, làm sao xác định được những đoạn tốt nhất, các đoạn thị trường
này thường thống nhất giữa các siêu thị trong chuỗi. Có thể chọn một trong ba cách
sau để đáp ứng thị trường: marketing không phân biệt, marketing phân biệt,
marketing tập trung. Chuỗi siêu thị muốn tiết kiệm chi phí marketing cho nghiên
cứu marketing và quản trị sản phẩm sẽ chọn marketing không phân biệt. Trong
trường hợp này siêu thị không xem xét những khác biệt giữa các khu vực và theo
đuổi cả thị trường bằng một danh mục mặt hàng duy nhất. Siêu thị sẽ tập trung vào
điểm phổ biến trong nhu cầu khách hàng hơn là những điểm dị biệt và định hình
một danh mục mặt hàng cùng một chương trình marketing hướng tới đại đa số
khách mua, là cách phổ biến. Các siêu thị cũng có thể đáp ứng thị trường bằng
chương trình marketing phân biệt nếu họ có đủ tiềm lực về tài chính, nhân lực để
tiến hành nghiên cứu marketing cho từng khu vực thị trường và đưa ra các chương
trình marketing tương thích với từng khu vực thị trường đó. Nhiều siêu thị sử dụng
marketing tập trung rất hiệu quả trong trường hợp khả năng của siêu thị tương đối
hẹp. Thay vì theo đuổi một phần nhỏ chiếm được trong một thị trường lớn thì các
siêu thị này theo đuổi để chiếm một thị phần lớn của một hay một vài tiểu thị
trường. Nhờ hiểu biết rõ nhu cầu của khu vực và đạt được uy tín đặc biệt trong