1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam” là do tôi tự tìm tài liệu và nghiên cứu dưới
sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Nguyễn Thị Minh Hạnh.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Trần Minh Hạnh
2
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
BH
Bán hàng
7
DTT
Doanh thu thuần
8
HTK
Hàng tồn kho
9
LN
Lợi nhuận
10
ngđ
Nghìn đồng
11
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
TSLĐ
Tài sản lưu động
17
TSNH
Tài sản ngắn hạn
18
VAT
Thuế giá trị gia tăng
19
VATM
Tổng Công ty Quản lý bay Việt Nam
20
VCĐ
Vốn cố định
21
Hình 2.2
Sơ đồ quy trình công việc của VATM
38
3
Hình 2.3
Biểu đồ số lần chuyến ĐHB thực tế từ 2009 đến
2012
46
4
Bảng 2.1
Cơ cấu theo dây chuyền sản xuất
39
5
Bảng 2.2
Cơ cấu theo trình độ đào tạo
39
Bảng 2.6
Kết cấu nguồn vốn của VATM
49
10
Bảng 2.7
Kết cấu tài sản của VATM
49
11
Bảng 2.8
Cơ cấu vốn lưu động của VATM
51
12
Bảng 2.9
Tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn lưu động
của VATM từ 2010 - 2012
53
64
Tình hình sử dụng vốn cố định của VATM từ 2010 –
2012
Hiệu quả sử dụng vốn cố định của VATM từ 20102012
58
60
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh thì trước tiên đòi hỏi doanh nghiệp đó cần phải có vốn. Việc sử dụng vốn hợp lý
hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và qua đó cũng đánh giá được một phần thực trạng tình hình tài
chính của doanh nghiệp đó.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa
các doanh nghiệp, muốn tồn tại và phát triển vững mạnh thì việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn có ý nghĩa rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh và
những chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay ở Việt Nam, nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp cho các doanh
nghiệp nhà nước giảm xuống ở mức tối thiểu, mở rộng quyền tự chủ về tài chính, giao
vốn cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng thì vấn đề sử dụng vốn càng được đặc biệt
quan tâm. Hơn nữa, nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh và khẳng đinh vị thế của
doanh nghiệp trên thị trường ngày càng lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt trong
huy động và sử dụng vốn. Đối với Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam cũng vậy, là
- Tác giả: Võ Thị Thanh Thủy, Đại học Đà Nẵng, 2011.
- Qua phân tích các chỉ tiêu tài chính, tác giả đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vẫn
chưa cao do nhiều nguyên nhân: hiệu suất sử dụng TSCĐ giảm, lợi nhuận thuần từ
hoạt động sản xuất âm qua các năm nhưng lại có lợi nhuận doanh nghiệp là do lợi
nhuận khác đem lại, tỷ suất nợ cao do chủ yếu cho vay ngắn hạn dẫn đến doanh nghiệp
luôn căng thẳng về tình hình tài chính. Trên cơ sở phân tích, tác giả đã đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn, rút ra ưu nhược điểm làm cơ sở tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại Công ty Cổ phần Công nghệ phẩm Đà Nẵng.
7
Đề tài 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần xây lắp Bưu
điện Hà Nội
- Tác giả: Trần Lệ Phương, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông, 2011.
- Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, tác giả cho rằng cần phải
hoàn thiện hệ thống hoạch toán kế toán, hoàn thiện công tác lập kế hoạch và thống kê
tài chính. Bên cạnh đó, tổ chức tốt nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động quản lý là những biện
pháp cải thiện công tác quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Ngoài nước:
- Trong nghiên cứu của các tác giả Belt and Smith (1991), Singh (2002),
Maysami (1990) cho thấy rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc đầu tư vào vốn lưu động
như quan điểm của lãnh đạo, mục tiêu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có mối
quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng doanh thu và mức đầu tư vào giá trị TSLĐ, định
mức vốn lưu động tùy thuộc vào từng ngành hoạt động và doanh nghiệp có thể sử dụng
các nguồn tài trợ nào cho phù hợp.
- Một số nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp với cơ
cấu vốn như Rami Zeitun (2007), Margaritis (2007) ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua
lại, hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài
Phòng/Ban Tổng công ty. Tôi sử dụng các báo cáo khoa học, đề tài nghiên cứu của
nhiều tác giả công bố trên các tạp chí chuyên ngành, phương tiện thông tin đại chúng.
Các nguồn tài liệu này được sử dụng để tham khảo và sử dụng có mang tính kế thừa
hợp lý trong luận văn này.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: thu thập số liệu điều tra bằng cách phát phiếu thăm dò
(dự định tiến hành trong quá trình nghiên cứu sau này của tôi), đồng thời phỏng vấn
trực tiếp cán bộ của công ty. Quy mô mẫu là 30 nhân viên phòng tài chính trong
9
khoảng thời gian từ ngày 03 đến ngày 07 tháng 03 năm 2014. Tổng số phiếu phát ra là
30 phiếu, thu về 30 phiếu, đạt 100%, vì vậy hoàn toàn thích hợp cho phân tích trong
nghiên cứu này.
b) Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
- Trong quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích
dữ liệu qua các năm của công ty.
6. Kết cấu luận văn.
Luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Chương II: Hiệu quả sử dụng vốn của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Tổng công ty Quản lý
bay Việt Nam.
10
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn và tầm quan trọng của vốn
của mình, các tác giả đều thống nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản doanh nghiệp đang
nắm giữ. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Tiền tệ này
phải được đầu tư vào sản xuất kinh doanh và phải nhằm mục đích sinh lời. Vốn luôn
thay đổi hình thái biểu hiện, khi thì là vật tư sản xuất hoặc tài sản vô hình, khi thì là
hình thái tiền tệ nhưng kết thúc vòng tuần hoàn thì luôn là hình thái tiền.
Vốn luôn vận động không ngừng, chuyển từ hình thái này sang hình thái khác
nhưng điểm cuối cùng của chuỗi hình thái này là tiền nên có thể kết luận vốn là toàn bộ
giá trị bằng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra trước và trong quá trình sản xuất kinh doanh
nhằm tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu doanh nghiệp.
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với
nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn có thõa
mãn các yêu cầu, các quan niệm đa dạng. Song hiểu một cách khái quát như sau: Vốn
kinh doanh là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hay các giá trị tích lũy được cho
vào các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp.
1.1.2 Đặc trưng của vốn
Để tiến hành sản xuất kinh doanh cần có tư liệu lao động, đối tượng lao động và
sức lao động, quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra
sản phẩm lao động, dịch vụ. Để tạo ra các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất kinh
doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định ban đầu. Có vốn
doanh nghiệp mới có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, cũng như trả tiền lương cho
lao động sản xuất, sau khi tiến hành tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp dành một phần
12
doanh thu để bù đắp giá trị tài sản cố định đã hao mòn, bù đắp chi phí vật tư đã tiêu hao
và một phần để lập quỹ dự trữ cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Như vậy có thể thấy các tư liệu lao động và đối tượng lao động mà doanh nghiệp đầu
tư cho mua sắm cho hoạt động sản xuất kinh doanh là hình thái hiện vật của vốn sản
thanh toán, không phải trả lãi suất.
Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm:
-
Vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng doanh nghiệp. Chủ
sở hữu vốn của doanh nghiệp có thể là Nhà nước, cá nhân hoặc các tổ chức tham gia
-
góp vốn, các cổ đông mua và nắm giữ cổ phiếu;
Các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn hoặc thấp hơn mệnh
-
giá;
Các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ (nếu được ghi tăng vốn chủ sở hữu);
Vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của
-
chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, của Hội đồng quản trị,. . .
Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong
quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, và các quỹ hình thành tư lợi nhuận sau thuế (Quỹ
đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu, lợi
-
nhuận chưa phân phối, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản,. . .);
Giá trị cổ phiếu quỹ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu.
b) Nợ phải trả
ích cho doanh nghiệp. Vì thế các nhà hoạch định cấu trúc vốn sẽ đưa ra tỉ lệ nợ mục
tiêu riêng của doanh nghiệp, xác định cấu trúc vốn tối ưu.
1.1.3.2 Căn cứ vào thời gian sử dụng vốn
a) Vốn thường xuyên
Đây là nguồn vốn mang tính ổn định và lâu dài mà doanh nghiệp có thể sử dụng
để đầu tư vào TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu cần thiết cho sản xuất kinh doanh
15
của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của
doanh nghiệp.
b) Vốn tạm thời
Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (ít hơn một năm) mà doanh nghiệp có
thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản
vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng cùng các khoản nợ khác.
Việc phân loại vốn thường xuyên và vốn tạm thời giúp cho người quản lý xem
xét huy động các nguồn vốn một cách hợp lý với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ,
kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Cách phân loại này còn giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch
tài chính hình thành nên những dự định và tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ
sở xác định quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả
cao
1.1.3.3 Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của vốn
a) Vốn cố định
- Là số vốn đầu tư mà doanh nghiệp ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ
nên nếu số vốn này được sử dụng có hiệu quả thì sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu
hồi lại được sau khi tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ của mình. Mặt khác,
+ Trong quá trình tồn tại, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu
của TSCĐ hầu như không thay đổi, song giá trị và giá trị sử dụng giảm dần. Khi các
TSCĐ tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì giá trị của
chúng được dịch chuyển dần từng phần vào chi phí kinh doanh hay vào giá trị sản
17
phẩm, dịch vụ tạo ra. Bộ phận giá trị dịch chuyển này là yếu tố cấu thành chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
b) Vốn lưu động
- Là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản ngắn hạn nhằm đảm bảo cho quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục và giá trị của
nó được kết chuyển toàn bộ vào giá trị sản phẩm trong 1 chu kỳ kinh doanh
- Các đặc trưng cơ bản của vốn lưu động:
+ Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ chu kỳ kinh doanh
bình thường của doanh nghiệp;
+ Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích
ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 1 tháng kể từ ngày kết thúc
niên độ;
+ Là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một
hạn chế nào.
- Căn cứ vào các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh thì VLĐ bao gồm:
+ Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: nguyên vật liệu dự trữ, phụ tùng
thay thế, công cụ dụng cụ lao động,…dự trữ để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp có thể tiến hành thường xuyên, liên tục.
+ Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là những sản phẩm đang trong
quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…
+ Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: thành phẩm, hàng hóa, tài sản
bằng tiền, các khoản phải thu…nhằm đảm bảo cho việc tiêu thụ hàng hóa hoặc cung
19
Như vậy, vốn được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn
tại tư cách pháp luật của một doanh nghiệp trước pháp luật.
1.1.4.2 Đối với nền kinh tế
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là mạch máu của doanh nghiệp quyết
định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn không những đảm bảo khả năng
mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất mà
còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục.
Vốn là yếu tố quyết định mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Để có
thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh vốn của doanh nghiệp
phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo cho doanh nghiệp được
bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư sản xuất, thâm nhập
vào thị trường tiềm năng từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh
nghiệp trên thương trường.
Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy thì doanh nghiệp mới có thể
sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Để khẳng định vai trò của vốn, Mác đã nói: “tư bản đứng vị trí hàng đầu vì tư
bản là tương lai” [14].
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn và ý nghĩa đối với doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả
Đối với mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì mục tiêu xuyên suốt quá trình
hoạt động luôn luôn là tối đa hoá lợi nhuận và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Hơn
nữa, nguồn lực của doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh là có giới
hạn, vì vậy nhiệm vụ của các doanh nghiệp là làm sao có thể tối đa hoá giá trị doanh
nghiệp trong khuôn khổ nguồn lực cho phép.
21
hai lợi ích này lại có một điểm chung là hiệu quả đạt được với lợi nhuận cao thì có đủ
điều kiện để trang trải các khoản chi phí, tiền lương, cải thiện đời sống vật chất, tinh
thần cho người lao động trong doanh nghiệp như các khoản thu nhập, phúc lợi xã hội,
nộp thuế cho Nhà nước và mở rộng qui mô kinh doanh tạo thêm công ăn việc làm cho
người lao động. Ngược lại doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không có hiệu quả, qui mô
kinh doanh ngày càng thu hẹp, làm cho người lao động không có công ăn việc làm, thu
nhập và Nhà nước không thu được thuế do vậy mà hiệu quả kinh tế không được thực
hiện.
1.2.1.2 Khái niệm Hiệu quả sử dụng vốn
Việc quản lý và sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả vừa là yêu cầu,
vừa là mục tiêu của các nhà quản lý doanh nghiệp. Đây cũng là vấn đề được hầu hết
các đối tượng có lợi ích liên quan đến doanh nghiệp quan tâm và chú ý. Hiệu quả sử
dụng vốn ở doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp, ảnh hưởng
đến lợi ích kinh tế của các đối tượng có liên quan.
Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện qua năng lực tạo ra giá trị sản xuất, doanh thu và
khả năng sinh lợi của vốn [6].
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thể hiện ở tất cả các khâu của quá trình
sản xuất kinh doanh, từ cách khai thác các nguồn vốn, sử dụng vốn để mua sắm vật tư
cho đến khi tiêu thụ sản phẩm và thu hồi để đầu tư cho quá trình tái sản xuất. Các
doanh nghiệp luôn phải tìm cách để cung ứng đầy đủ cho nhu cầu kinh doanh, đồng
thời tiết kiệm được vốn và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích: tiến hành so sánh giữa kỳ này với kỳ trước, doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác cùng loại hình có điều kiện sản xuất kinh doanh
tương tự, đồng thời xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả sử dụng
vốn. Khi so sánh kết quả xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau:
>0: hiệu quả sử dụng vốn tăng
vốn kinh doanh càng cao và ngược lại.
23
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu - ROE
ROE =
Chỉ số này được xem là thước đo sau cùng về hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn đầu tư của chủ sở hữu. Nói cách khác
nó cho biết mỗi đồng vốn chủ sở hữu sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ mức sinh lợi của một đồng vốn vốn chủ
sở hữu càng cao và ngược lại.
Thông thường, khi phân tích đánh giá khả năng sinh lời của một doanh nghiệp,
ngoài việc so sánh kết quả tính toán giữa các kỳ với nhau để xác định xu hướng biến
động của các hệ số, người ta còn có thể so sánh với các hệ số biểu thị khả năng sinh lời
trung bình trong ngành cũng như so sánh với các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh
trong ngành để xác định mức độ hiệu quả, vị trí của doanh nghiệp trong ngành.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một phạm trù kinh tế phản ánh năng lực khai
thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm
mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí.
Để đánh giá tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn lưu động, người ta sử
dụng các chỉ tiêu sau đây:
- Hệ số sinh lợi của vốn lưu động: chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của
vốn lưu động, nó cho biết mỗi đơn vị giá trị vốn lưu động sử dụng trong kỳ mang lại
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Hệ số càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt và ngược lại
hệ số này mà thấp tức là lợi nhuận sau thuế thu được trên một đồng vốn là thấp.
25
- Tỷ suất sinh lời của vốn cố định: chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ một đồng vốn
đầu tư cho vốn cố định tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
- Tỷ suất sinh lời của TSCĐ: chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ một đồng vốn đầu
tư cho TSCĐ tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hệ số càng cao chứng
tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ càng tốt và ngược lại hệ số này mà thấp tức là lợi nhuận sau
thuế thu được trên một đồng vốn là thấp.
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định: chỉ tiêu này cho biết trong kỳ một đồng vốn
đầu tư cho vốn cố định tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thực hiện. Hệ số này
càng lớn càng chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao và ngược lại.
Nếu số liệu vốn cố định được cung cấp vào cuối các năm thì vốn cố định bình
quân được xác định theo công thức sau:
- Hệ số hao mòn TSCĐ: chỉ tiêu này một mặt phản ánh mức độ hao mòn của
TSCĐ trong doanh nghiệp, mặt khác nó phản ánh tổng quát tình trạng về năng lực còn
lại của TSCĐ ở thời điểm đánh giá.
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ
tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thực hiện.
- Hệ số trang bị TSCĐ: chỉ tiêu này phản ánh mức độ trang bị giá trị TSCĐ cho
một người lao động cao hay thấp. Hệ số này càng lớn phản ánh mức độ trang bị TSCĐ
cho người lao động càng cao, điều kiện lao động càng thuận lợi và ngược lại.