Bài tập: Chứng minh Cách mạng vô sản ở các nứoc thuộc địa có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc potx - Pdf 21


Bài tập: Chứng minh Cách mạng
vô sản ở các nứoc thuộc địa có thể
nổ ra và giành thắng lợi trước cách
mạng vô sản ở chính quốc
1
Bằng lý luận và thực tiễn hãy chứng minh quan điểm của NAQ:
cách mạng vô sản ở các nứoc thuộc địa có thể nổ ra và giành thắng
lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh
đã trở thành người anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Mác - Angghen đã vạch ra con đường Cách mạng là giải phóng
giai cấp, đi đến giải phóng nhân loại.
Lênin đã bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Cống hiến lớn của
Lênin là nghiên cứu những đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc, phát hiện
quy luật không đều của chủ nghĩa tư bản, ở đây cũng phải nói thêm
rằng: Lênin sinh ra và hoạt động chủ yếu ở nước Nga rộng lớn, chủ
nghĩa tư bản phát triển ở mức trung bình, trong thời kỳ chủ nghĩa tư
bản phát triển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ngoài mâu thuẫn cơ
bản giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ở các nước tư bản, trên thế
giới đã xuất hiện và phát triển càng gay gắt mâu thuẫn giữa các dân tộc
thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Cuối cùng
Lênin đi đến một luận điểm nổi tiếng: Cách mạng có thể thắng lợi
trong một số nước, thậm chí ở một nước ở đó tập trung mâu thuẫn và
là chỗ yếu của dây chuyền đế quốc chủ nghĩa. Lênin đã trực tiếp lãnh
đạo thành công Cách mạng Mười Nga vĩ đại, mở ra kỷ nguyên mới
2
cho lịch sử loài người. Lênin đã vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác,
tiến hành cách mạng vô sản thành công, đi từ giải phóng giai cấp đến
giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại với khẩu hiệu: “Vô sản toàn
thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại”. Cả Lênin và Mác đều

đứng lên, đem sức ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách
mạng vô sản ở chính quốc.

Trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp các thuộc địa (1921), Người
viết: “Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự
nỗ lực của bản thân anh em”. Đến “Đường Cách mệnh” (1927), Người
lại chỉ rõ: Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình
đã” và Người dự báo: Việt Nam dân tộc cách mạng thành công thì tư
bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mạng cũng dễ. Năm
1945, Nhật đầu hàng Đồng minh, thời cơ cách mạng đã đến, Người kêu
gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng
cho ta”
4
Luận điểm sáng tạo nêu trên của Hồ Chí Minh mang tính cách mạng
và khoa học đúng đắn, dựa trên những luận cứ đã được Người khảo sát
chứng minh.
Về chủ nghiã tư bản, Người nhận thức sâu sắc vai trò của thuộc địa
đối với sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa đế quốc: chủ nghĩa tư bản
đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệu người lao động ở các nước thuộc
địa, nửa thuộc địa. Bởi vậy, theo Người, chủ nghĩa tư bản chỉ tan rã hoàn
toàn và vĩnh viễn khi nào chúng ta phá bỏ được nền móng của lâu đài đế
quốc chủ nghĩa.
Về phía phong trào giải phóng dân tộc, Người nhận thức rõ tiềm
năng cách mạng của các dân tộc bị áp bức là rất to lớn, nó sẽ bùng lên
mạnh mẽ, hình thành một lực lượng khổng lồ khi được giáo dục, khi
được giác ngộ, tổ chức, lãnh đạo. Ngay từ năm 1921, Người đã viết:
“Người châu Á- tuy bị người phương Tây coi là lạc hậu - vẫn hiểu rõ
hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiện tại”. Người đưa
ra luận điểm nổi tiếng: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi
bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai

sáng tạo có tầm quan trọng to lớn của Hồ Chí Minh, bổ sung, phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Quan điểm đó xuất phát từ tư tưởng độc
lập tự chủ, tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh, đó là nền tảng của luận
điểm: Cách mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi trước, không thụ
động chờ cách mạng vô sản ở chính quốc thắng lợi để được giải
phóng. Người đã từng nói: Tiếc thay, một số đông chiến sỹ vẫn còn
tưởng rằng, một thuộc địa chẳng qua chỉ là một xứ mà trên là mặt trời,
dưới là cát, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi. Và
họ hoàn toàn không để ý gì đến”. Trong tình hình ấy, Hồ Chí Minh
cảm thấy không thể chỉ trông cậy vào sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản
Pháp, mà phải tự lực tự cường. Tuyên ngôn của “Hội liên hiệp thuộc
địa (1921) mà Hồ Chí Minh là người khởi thảo đã viết: “công cuộc
giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản
thân anh em”, đồng thời khi nói với các nhà cách mạng Việt Nam,
Người khẳng định “muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự
giúp mình đã”.
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, 9 nước tư bản đế quốc chủ
nghĩa đã chia nhau thống trị toàn cầu. Chúng tha hồ làm mưa, làm gió,
áp bức, bóc lột các dân tộc thuộc địa. Nhiều nhà cách mạng châu Âu tỏ
ra bi quan và đưa ra luận điểm không đúng rằng “không thể có những
cuộc chiến tranh dân tộc được” và luận điểm trên đã bị Lênin phê
7
phán. Mặc dù vậy, Quốc tế Cộng sản vẫn nhận định chỉ khi nào cách
mạng vô sản chính quốc thành công thì sự nghiệp giải phóng ở các
nước thuộc địa mới giành thắng lợi. Thể hiện quan điểm đó, Tuyên
ngôn thành lập Quốc tế Cộng sản (3-1919) có đoạn viết: “Việc giải
phóng các thuộc địa chỉ có thể tiến hành với việc giải phóng giai cấp
công nhân ở chính quốc”, rằng “công nhân và nông dân không chỉ ở
An Nam, Angieri, Bengan mà cả ở Ba Tư và Ácmeni chỉ có thể được
độc lập khi nào công nhân ở Anh và Pháp đã lật đổ chính phủ Lôigioóc

chủ nghĩa.
Về phía phong trào giải phóng dân tộc, Người nhận thức rõ tiềm
năng cách mạng của các dân tộc bị áp bức là rất to lớn, nó sẽ bùng lên
mạnh mẽ, hình thành một “lực lượng khổng lồ” khi được giáo dục,
giác ngộ, tổ chức, lãnh đạo. Ngay từ năm 1921, Người đã viết: “Người
châu Á tuy bị phương Tây coi là lạc hậu - họ vẫn hiểu rõ hơn hết sự
cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiện tại”. Người dự báo: “Ngày
9
mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để
gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của vài tên thực dân lòng tham không đáy, họ
sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và trong khi thủ tiêu một trong
những điều kiện sống còn của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, họ
có thể giúp đỡ anh em phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn
toàn”. Cũng từ đánh giá đó, Người đi đến khẳng định: “Vận mệnh của
giai cấp vô sản thế giới tùy thuộc phần lớn vào các thuộc địa là “một
cái cánh cửa của cách mạng vô sản thế giới”.
Về Việt Nam và Đông Dương, Người nhận định: Ngay dưới ách
áp bức, bóc lột tàn khốc của chủ nghĩa thực dân, người Đông Dương
không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi. Sự đầu độc của
bọn thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt
tư tưởng cách mạng của họ Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn
bị đất rồi, chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống
của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Trong lời kêu gọi nhân dân thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người viết: Sự áp bức và bóc lột vô
nhân đọa của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách
mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy mà phong
trào cách mạng ngày càng lớn mạnh ”. Như vậy, luận điểm về khả
năng giành thắng lợi của cách mạng thuộc địa trước cách mạng chính
quốc và nhân dân thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng cho mình là
một sáng tạo có tầm quan trọng to lớn của Hồ Chí Minh, bổ sung và

nhiều mức độ khác nhau, thì lịch sử loài người được ghi lại như thời
kỳ sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Hiện
tượng lịch sử có tính chất thế giới ấy càng làm sáng tỏ tư tưởng độc lập
tự chủ, tự cường, tự mình giải phóng cho mình và lời dự đoán hơn 50
năm về trước mà Hồ Chí Minh đã viết trong Bản án chế độ thực dân
Pháp và Đường cách mệnh. Mọi ý nghĩ của Người đã trở thành hiện
thực. Hồ Chí Minh đã trở thành “Một trong những người đầu tiên làm
tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”, đã góp phần cùng với
loài người loại trừ một trở lực to lớn trên con đường tiến lên thế giới văn
minh, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử là chế độ thuộc địa.
Vượt lên trên tầm nhìn của các nhà yêu nước lớp trước, Hồ Chí
Minh không chỉ phát huy ý chí tự lực tự cường để hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc về mặt chính trị mà còn vận dụng truyền
thống tốt đẹp đó vào sự nghiệp xây dựng đất nước để “đi tới xã hội
cộng sản”.
12
Thấm nhuần lý luận Mác – Lênin và nhận thức sâu sắc đặc điểm
dân tộc Việt Nam, ở giai đoạn giải phóng dân tộc cũng như bước vào
giai đoạn xây dựng đất nước. Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối vào
truyền thống yêu nước của nhân dân và khả năng cách mạng của các
giai cấp từ: công nhân, nông dân, lao động trí óc đến giai cấp tư sản
dân tộc và các tầng lớp và cá nhân yêu nước khác. Lòng tin đó được
Người thể hiện trong cuộc đấu tranh về quan điểm và lý luận trong
Đảng Cộng sản Pháp sau khi được thành lập (1920). Ở châu Âu, cho
mãi đến khi Quốc tế Cộng sản ra đời (3-1919), nhiều người Cộng sản
vẫn không tin rằng chế độ cộng sản có thể áp dụng được ở châu Á và
Đông Dương, nơi kinh tế chưa phát triển. Trong lúc đó, bằng sự phân
tích lý lẽ về những đặc điểm lịch sử ở khu vực này, Người đã trình bày
những nguyên nhân cơ bản và khẳng định: “Chế độ cộng sản có thể áp
dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng” dễ dàng

14
cường, tự mình xây dựng đất nước, không ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ
từ bên ngoài.
Đó là sự sáng tạo và công lao to lớn của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc, đồng
thời cũng là chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế. Do đã sống và họat động ở nhiều nước tư bản phát triển và các
thuộc địa cũng như các nước xã hội chủ nghĩa, nên Người am hiểu
thực chất chế độ kinh tế, chính trị, xã hội ở các nước đó. Nên luận
điểm của Người về sự thắng lợi của cách mạng ở các nước thuộc địa
có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc là
hoàn toàn có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn và thực tế luận điểm đó
đã được chúng minh là đúng đắn ở Việt Nam, một nước vốn là thuộc
địa của Pháp.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status