101 Hoàn thiện kế toán tiêu thụ kẹo Chew và xác định kết quả tiêu thụ kẹo Chew tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà - Pdf 21

LỜI NÓI ĐẦU
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà là một trong những doanh nghiệp sản
xuất bánh kẹo lớn nhất cả nước hiện nay. Cùng với quá trình công nghiệp hoá
- hiện đại hoá đất nước, Công ty đã không ngừng đổi mới từ dây chuyền công
nghệ đến công tác quản lý để đạt kết quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao
hơn.
Công tác hạch toán kế toán trong Công ty là một công tác quan trọng,
liên quan đến lĩnh vực tài chính, những con số, báo cáo phải đúng đắn trung
thực để phản ánh đúng nhất tình hình hoạt động của Công ty.
Trong thời gian thực tập tại Công ty được sự hướng dẫn tận tình của cô
giáo – PGS.TS. Nguyễn Minh Phương và các cô, chú, các chị trong phòng Tài
chính kế toán em đã được tìm hiểu về công tác hạch toán kế toán của Công ty,
đặc biệt là công tác hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ sản phẩm.
Công tác hạch toán ở giai đoạn này là hạch toán các nghiệp vụ xuất
thành phẩm để bán và thanh toán với người mua, tính các khoản doanh thu
bán hàng, các khoản chiết khấu thương mại, giám giá hàng bán,... và cuối
cùng là tính lãi, lỗ về tiêu thụ sản phẩm.
Với đăc điểm: sản phẩm chính của Công ty là bánh và kẹo, gồm rất
nhiều loại khác nhau mà trong khuôn khổ của Chuyên đề em không thể đề cập
đầy đủ hết được. Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán tiêu
thụ kẹo Chew và xác định kết quả tiêu thụ kẹo Chew tại Công ty cổ phần
bánh kẹo Hải Hà”.
Nội dung chuyên đề gồm 3 phần:
Phần 1. Tổng quan về Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Phần 2. Thực trạng kế toán tiêu thụ kẹo Chew và xác định kết quả
tiêu thụ kẹo Chew tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà.
1
Phần 3. Đánh giá thực trạng và phương hướng hoàn thiện công tác
kế toán tiêu thụ kẹo Chew và xác định kết quả tiêu thụ kẹo Chew tại
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà.
Xin được gửi lời cảm ơn của em đến cô giáo – PGS.TS. Nguyễn Minh

xuất từ thủ công đã có một phần chuyển sang cơ giới hoá. Năm 1981 nhà máy
đã đổi tên thành “Nhà máy thực phẩm Hải Hà”.
1.1.2.Giai đoạn từ năm 1992 đến 2003
Tháng 10/1992 nhà máy đổi tên thành “Công ty bánh kẹo Hải Hà”.
Năm 1993, Công ty liên doanh với hãng Kotobuki của Nhật, chuyên sản xuất
bánh tươi, bánh cookies. Năm 1993, xí nghiệp thực phẩm Việt Trì trở thành xí
nghiệp thành viên của Công ty. Để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình Công ty còn liên doanh với hãng Miwon của Hàn Quốc. Tới năm
1995, Công ty sản xuất thêm kẹo Jelly. Năm 1996, xí nghiệp bột dinh dưỡng
Nam Định trở thành xí nghiệp thành viên của Công ty. Đến năm 2002, Công
ty nhập thêm dây chuyền sản xuất kẹo Chew của Đức.
1.1.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Do yêu cầu phù hợp với tình hình sản xuất và kinh doanh cũng như yêu
cầu của nền kinh tế nói chung, ngày 23/11/2003 Bộ công nghiệp quyết định
đổi tên Công ty thành “Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà”. Những kết quả
kinh doanh từ đầu năm đến nay đạt được là rất khả quan, việc thay đổi loại
hình doanh nghiệp là hết sức hợp lý.
Bảng 1.1. Bảng phân tích tình hình tài chính
Chỉ tiêu Đv Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch
I. Cơ cấu nguồn vốn
1.Nợ phải trả/NV % 64.44 59.20 5.24
2.Vốn CSH/NV % 35.36 40.80 (5.44)
II.Khả năng thanh toán
1.TT nhanh Lần 1.02 1.66 0.64
2.TT hiện hành Lần 0.03 0.14 0.11
3.TT tức thời Lần 0.62 1.15 0.53
III. Tỉ suất sinh lời
1.Lntt/Doanh thu % 0.041 0.05 0.009
2.Lnst/Doanh thu % 0.032 0.043 0.011
4

hình hoạt động của Công ty.
Hội đồng quản trị có quyền lựa chọn Tổng Giám đốc và các Phó Tổng
Giám đốc. Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm điều hành Công ty, chịu
trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về tình hình hoạt động của Công ty. Giúp
việc cho Tổng Giám đốc là các Phó tổng giám đốc, trong đó Phó tổng giám
đốc tài chính là người chịu trách nhiệm về việc huy động và sử dụng vốn,
xem xét việc tính giá thành và xác định kết quả kinh doanh lãi lỗ,…Phó tổng
giám đốc kinh doanh là người chịu trách nhiệm về quản lý vật liệu và tiêu thụ
sản phẩm, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh liên tục,…
Các phòng ban chức năng của Công ty gồm có: Phòng KCS, Phòng kỹ
thuật, Phòng kinh doanh, Phòng kế toán tài chính (Phòng Tài vụ). Phòng
KCS: Phụ trách kiểm tra kiểm soát chất lượng sản phẩm đảm bảo theo tiêu
chuẩn quy định. Phòng kỹ thuật: Phụ trách đảm bảo các mặt kỹ thuật trong
toàn Công ty. Phòng kinh doanh: Phụ trách lập kế hoạch và thực hiện kinh
doanh, tiêu thụ sản phẩm, thực hiện marketing sản phẩm,...Phòng kế toán tài
chính: Có chức năng huy động vốn cho sản xuất, tính giá thành sản phẩm, xác
định kết quả kinh doanh của Công ty,...
Ngoài ra còn có các xí nghiệp phụ trợ để hỗ trợ các phòng ban khác (kỹ
thuật, điện, nước,…) và các xí nghiệp thành viên chịu trách nhiệm trực tiếp
sản xuất sản phẩm cho Công ty, chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm và
các yếu tố kỹ thuật.
Kiểu cơ cấu tổ chức này vừa phát huy được năng lực chuyên môn của
các bộ phận vừa đảm bảo quyền chỉ huy của bộ phận trực tuyến.
Do yêu cầu về việc thống nhất tên gọi và cũng để khách hàng dễ nhận
biết sản phẩm của Công ty, cuối năm 2006, “Nhà máy thực phẩm Việt Trì”
6
đổi tên gọi thành “Nhà máy bánh kẹo Hải Hà I”, còn “Nhà máy bột dinh
dưỡng Nam Định” đổi tên thành “Nhà máy bánh kẹo Hải Hà II”.
Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty có thể được
khái quát bằng sơ đồ sau:

Phòng
KD
CN. Đà
Nẵng
CH.Giới
thiệu SP
Đội xe KhoCN.TP
HCM
XN
Kẹo
mềm
Hội đồng
quản trị
1.2.2. Đặc điểm phân cấp quản lý tài chính
Thực tế Công ty không dùng thu để bù chi mà các khoản thu chi được
thực hiện riêng rẽ trong năm. Trong quá trình chi tiền như thanh toán với
người mua, người bán, với nhà nước Công ty sử dụng nguồn dự trữ của mình,
nếu thiếu thì vay từ các ngân hàng. Các ngân hàng mà Công ty hợp tác và mở
tài khoản tại đó là Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại
và cổ phần Sài Gòn - Thương Tín...Với tình hình hoạt động của mình Công ty
luôn đạt được sự tin tưởng và có mối quan hệ tốt với các ngân hàng nên các
khoản thanh toán đều được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, đúng tiến độ.
Các khoản thu của Công ty được thực hiện cũng qua ngân hàng, hoặc ngay
trực tiếp tại Công ty. Cuối năm, căn cứ vào lợi nhuận đạt được Công ty tiến
hành trích các quỹ và thực hiện các phân phối khác.
1.3. Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
1.3.1. Đặc điểm về tổ chức sản xuất
Việc tổ chức sản xuất tại Công ty do Phó tổng giám đốc phụ trách kinh
doanh trực tiếp giám sát. Tại các xí nghiệp có quản đốc, nhân viên kỹ thuật,

Hoà đường
Nấu
Làm nguội
Máy
lăn còn
Vuốt keo
Gói tay
Sàng
làm lạnh
Dập hìnhBơm nhânTạo nhân
Gói máy
Đóng túi
- Quy trình sản xuất kẹo mềm:
Nguyên liệu sau khi đã hoà đường được đưa vào nấu, sau đó để nguội.
Một phần được đưa vào quật, cán, sau đó chặt miếng rồi bao gói bằng tay;
Phần còn lại được đưa vào máy lăn còn, chuyển sang quy trình vuốt, sau đó
bao gói (bằng máy). Kẹo sau khi đã bao gói được đóng thành từng túi có
trọng lượng khác nhau.
Sơ đồ 1.3. Quy trình công nghệ sản xuất kẹo mềm
1.4. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.4.1. Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm chính của Công ty là bánh, kẹo các loại (trong đó sản lượng kẹo
chiếm 70-75%). Hiện nay danh mục sản phẩm của Công ty rất đa dạng (bao gồm
trên 190 loại khác nhau). Có thể nói chủng loại các mặt hàng bánh kẹo của Công
ty hiện nay là đa dạng nhất so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Ví dụ,
riêng kẹo Jelly Chipchip đã có đến khoảng 10 loại trọng lượng, với màu sắc
và các hình dáng khác nhau: 25g, 50g, 100g, 150g, 250g,… Kẹo Chew mới
có các loại như: Chew sữa, Chew caramel, Chew khoai môn, Chew nho đen,
10
Hoà đường

mạnh. Nhu cầu về sản phẩm bánh kẹo cao hơn so với các thị trường khác.
Tuy nhiên thực tế Công ty chưa khai thác hết điểm mạnh của thị trường này
mặc dù đã có mở chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, có thể do sự cạnh
tranh gay gắt của thị trường này.
Thị trường nước ngoài: Đây là một thị trường mà Công ty đang từng
bước đột phá, thâm nhập. Với chất lượng sản phẩm của mình Công ty đã nhận
được nhiều hợp đồng từ nước ngoài để xuất khẩu các loại bánh kẹo. Những
11
năm qua, Công ty đã thâm nhập được vào thị trường nhiều nước châu Á như:
Hàn Quốc, Indonexia, Singapor và nhiều nước khác.
Để đáp ứng một thị trường rộng lớn như vậy, Công ty sử dụng một hệ
thống kênh phân phối đơn giản mà vẫn phải đảm bảo hiệu quả sao cho sản
phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng. Đó là kênh phân phối
trực tiếp, kênh phân phối gián tiếp (Cấp 1), kênh phân phối gián tiếp (Cấp 2)
Sơ đồ 1.4. Kênh phân phối của doanh nghiệp
(1)
(1) Kênh phân phối trực tiếp: Đây là loại hình kênh phân phối sản phẩm
trực tiếp đến với tiêu dùng (chỉ chiếm 7% sản lượng hàng năm của Công ty).
(2) Kênh phân phối gián tiếp (cấp 1): Chỉ sử dụng thông qua một trung
gian duy nhất là người bán lẻ (chỉ chiếm khoảng 5% sản lượng hàng năm).
(3) Kênh phân phối gián tiếp (cấp 2): Thông qua các trung gian là người
bán buôn (các đại lý). Các đại lý đến đặt hàng của Công ty rồi bán lại cho các
đại lý nhỏ hơn (đại lý cấp 2, cấp 3), sau đó người phân phối đến tay người
tiêu dùng. Loại hình phân phối này chiếm phần lớn (~88% sản lượng tiêu thụ
hàng năm).
12
Công ty Hải Hà

+ Kế toán giá thành và tiền lương; Có nhiệm vụ hạch toán chi tiết và
tổng hợp cho các đối tượng chịu sự phân bổ. Tổng hợp chi phí theo từng đối
tượng, tiến hành tính giá và nhập kho,mở sổ chi tiết và tổng hợp cho sản
phẩm hoàn thành nhập kho, xác định giá bán và tổ chức ghi sổ chi tiết. Cùng
13
với đó là hạch toán việc chi trả lương, khoản phải trả cho cán bộ công nhân
viên trong Công ty như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các khoản khác
theo qui định.
+ Thủ quĩ: Chịu trách nhiệm về tiền mặt, thanh toán bằng tiền mặt các
khoản phải thu, phải chi trên cơ sở chứng từ do kế toán các phần hành đưa
sang và có xác nhận của người lãnh đạo có thẩm quyền.
+ Kế toán các đơn vị thành viên: Tại các XN thành viên không tổ chức
bộ máy kế toán đầy đủ như tại phòng tài chính kế toán của Công ty. Tổ chức
kế toán ở đó chỉ gồm khoảng 2-3 người dưới sự điều hành của giám đốc xí
nghiệp và sự chỉ đạo chuyên môn của kế toán trưởng của Công ty như việc
thu thập chứng từ, thực hiện việc ghi chép ban đầu và có trách nhiệm ghi chép
đầy đủ cung cấp số liệu chính xác về tình hình sản xuất của đơn vị mình.
Có thể khái quát bộ máy kế toán của Công ty bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1. Bộ máy kế toán của Công ty
14
Kế toán trưởng
KT
vật
liệu
&
CCDC
KT
giá
thành
và tiền

ty áp dụng hình thức sổ kế toán “Nhật ký chứng từ”.
Sơ đồ 2.2. Hình thức tổ chức sổ Nhật ký chứng từ
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Ghi định kỳ
15
Chứng từ gốc và
Các bảng phân bổ
Bảng tổng hợp
phát sinh tài khoản
Bảng tổng hợp
kế toán chi tiết
Nhật ký
chứng từ
Sổ kế toán
chi tiết
Sổ cái
Báo cáo tài chính
Bảng kê
1.5.4. Đặc điểm vận dụng chứng từ kế toán
Kế toán tiền mặt và thanh toán: Phiếu thu, phiếu chi, giấy đề nghị tạm
ứng, giấy thanh toán tạm ứng, biên lai thu tiền, bảng kiểm kê quỹ,…
Kế toán tiền gửi ngân hàng: Giấy báo Nợ, giấy báo Có, lệnh chi tiền, uỷ
nhiệm chi, séc doanh nghiệp.
Kế toán tiêu thụ: Hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, hoá
đơn cước tiền gửi, bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi,…
Kế toán TSCĐ: Biên bản giao nhận TSCĐ, thẻ TSCĐ, biên bản thanh
lý TSCĐ, biên bản đánh giá lại TSCĐ, bảng tính khấu hao TSCĐ,…
Kế toán tiền lương: Bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm hoàn

doanh, thuyết minh báo cáo tài chính.
Các loại báo cáo quản trị: Báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo nguồn
vốn, báo cáo giá thành, báo cáo chi tiết chi phí bán hàng,…
17
PHẦN 2
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH
KẾT QUẢ TIÊU THỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
Sản phẩm chính của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà là bánh và kẹo,
rất đa dạng, gồm nhiều loại khác nhau. Trong khuôn khổ của Chuyên đề thực
tập tốt nghiệp, em xin phép chỉ trình bày một cách khái quát nhất về thực
trạng kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ của một loại sản phẩm là
Kẹo Chew.
2.1. Đặc điểm của kẹo Chew và thị trường tiêu thụ kẹo Chew
2.1.1. Đặc điểm của kẹo Chew
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà là doanh nghiệp có quy mô lớn, có
truyền thống và uy tín trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo ở VN. Sản phẩm của
công ty Hải Hà được người tiêu dùng bình chọn và đánh giá cao nhờ không
ngừng nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến bao bì mẫu mã.
- Để không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, duy trì và
phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, công ty xác định cần phải đầu tư
chiều sâu, đưa công nghệ tân tiến, thiết bị hiện đại vào sản xuất tạo ra sản
phẩm mới, tăng sức cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại.
Trước đây sản phẩm của công ty sản xuất ra để đáp ứng nhu cầu bình
dân do điều kiện sống, mức thu nhập của người dân còn thấp. Đến nay, đời
sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, không chỉ ở các thành phố lớn
mà ngay cả ở các tỉnh thành khác, thu nhập và mức sống đã khác rất nhiều.
Đồng thời, hàng hoá tràn ngập và luôn có các sản phẩm bổ sung, thay thế; do
đó, khách hàng ngày càng khắt khe hơn trong việc lựa chọn cho mình loại sản
phẩm phục vụ cho tiêu dùng. Nhận thức được điều đó, Hải Hà một mặt không
ngừng giữ vững uy tín và thị phần của mình, một mặt luôn tìm công nghệ tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status