LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế đổi mới của đất nước ta từ nền kinh tế tập chung quan liêu
bao cấp, kinh tế kế hoạch hoá tập chung chuyển sang nền kinh tế thị trường
với hàng loạt các chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước đã làm cho nền
kinh tế nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung có những bước chuyển biến rõ
rệt, toàn diện và từng bước phát triển mạnh mẽ cả về hình thức, quy mô và
hoạt động hình thức sản xuất kinh doanh.
Để đáp ứng được những sự thay đổi lớn lao về cơ cấu và quy mô của
nền kinh tế, kế toán ra đời để từng bước hỗ trợ cho công tác quản lý và hạch
toán, giúp cho các doanh nghiệp quản lý được chặt chẽ và sâu sắc hơn về quy
trình công nghệ sản xuất từ đầu vào (NVL) đến đầu ra (sản phẩm hoàn thành)
và hiệu quả sản xuất kin doanh. Kế toán thô sơ và giản đơn của trước kia đã
ngày càng hoàn thiện hơn, nâng cao hơn, hình thức và phương pháp đa dạng
phong phú hơn để có thể áp dụng rộng rãi cho từng đối tượng doanh nghiệp.
Kế toán được nói đến như là công cụ sắc bén của quản lý, kế toán cung cấp
thông tin chính xác về tình hình doanh nghiệp nói chung và về chi phí đặc biệt
là “nguyên vật liêu” nói riêng.
Như ta đã biết, tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp
mà nguyên vật liệu đầu vào khác nhau. Có doanh nghiệp thì số lượng nguyên
vật liệu tương đối ít nhưng ngược lại có doanh nghiệp chủ yếu đi sâu vào
phân tích và phân loại nguyên vật liệu thì khối lượng nguyên vật liệu lại nhiều
chủng loại.
Nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành nên thực thể của sản phẩm nên vấn
đề chất lượng nguyên vật liệu phải luôn được đảm bảo, có như vậy mới tạo ra
tiền đề cho công tác sản xuất dựa trên sản phẩm có chất lượng cao . Đồng thời
sử dụng tiết kiệm hợp lý Nguyên vật liệu sẽ tạo ra khả năng tăng lợi nhuận
một cách tương ứng mà không phải đầu tư thêm vốn. Kế toán Nguyên vật liệu
sẽ tạo điều kiện tốt và thuận lợi cho công tác phân tích tình hình quản lý và sử
1
dụng nguyên vật liệu , tìm ra nhược điểm để phát huy khai thác khả năng tiềm
tàng với mục đích ngày càng nâng cao chất lượng sản xuất.
1.1.1. Giai đoạn từ khi thành lập đến năm 1997:
Để đảm bảo giao thông phục vụ sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây
dựng Phú Thọ - quê hương đất tổ anh hùng năm 1986 UBND tỉnh Phú Thọ và
công ty công trình Phó Thọ tổ chức thành lập đội công trình nhằm đảm bảo
giao thông. Ngày 02/01/1974 công ty xây lắp cầu Vĩnh Phú được thành lập
(tiền thân là đội cầu Vĩnh Phú) do yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và chia tách
tỉnh nên Công ty được đổi tên cho phù hợp với từng giai đoạn như sau:
- Cụng ty xây lắp cầu Vĩnh Phú: 1974-1985
- Công ty công trình giao thông 2 Vĩnh Phú: 1986-1992
- Công ty công trình giao thông Phú Thọ: 1997-2005
- Công ty cổ phần xây dựng giao thông Phú Thọ: từ 2006 đến nay.
Trong giai đoạn cả nước tập chung mọi điều kiện để hàn gắn vết
thương chiến tranh khôi phục kinh tế năm 1974-1985, nhiệm vụ chính của
Công ty xây dựng cầu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phú. Giai đoạn Đảng và Nhà
nước ta thực hiện công cuộc đổi mới (1986-1996) xoá bỏ cơ chế tập chung
quan liêu bao cấp, Công ty cũng tiến hành chuyển đổi từng bước từ bao cấp
sang hạch toán công trình. Từ 1986-1992: Toàn Công ty và tổ chức bộ máy
vẫn giữ nguyên như cũ.
Từ ngày 05/12/1992 thực hiện quy chế về thành lập và giải thể DNNN
ban hành kèm theo Nghị định 388-HĐBT ngày 20/11/1991 và Nghị định số
156-HĐBT ngày 07/5/1992 của Hội đồng Bộ trưởng Công ty mang tên là
Công ty công trình giao thông II Vĩnh Phú. Lúc này nhiệm vụ chính của Công
ty là xây dựng cầu đường bộ.
3
1.1.2- Giai đoạn từ 1997 đến nay: Là giai đoạn tiếp tục thực hiện công
cuộc đổi mới của Đảng. Đặc biệt năm 1997 tỉnh Vĩnh Phú được chia tách
2 tỉnh là Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Một bộ phận Cán bộ CNV ở Công ty
công trình giao thông I quê quán ở Phú Thọ được chuyển về Công ty
công trình giao thông II và một bộ phận Cán bộ CNV ở Công ty Công
trình giao thông II quê quán ở Vĩnh Phúc được chuyển về Công ty công
7 Tổng doanh thu
11.298.256 16.318.442 57.570.877 68.570.825 61.724.317
8 Lao động bình quâ n
160 170 170 158 158
9 Thu nhập bình quâ n
600 570 780 900 1.200
Qua bảng tổng kết trên ta nhận thấy, Tài sản có của Công ty 100% là
nợ. Điều này khá mạo hiểm trong kinh doanh và công ty đó chuyển sang hình
thức hoạt động cổ phần. Ngày nay, sau khi trở thành thành viên chính thức
của WTO thì Công ty lại có nhiều đối thủ cạnh tranh tầm cỡ, đây là một thách
thức không hề nhỏ chút nào đối với Công ty. Trái lại, tổng doanh thu hàng
năm của công ty lại không hề nhỏ, cũng chứng tỏ được năng lực của Công ty
Cổ phần XD giao thông Phú Thọ là khá cao, nhưng lại tăng giảm không đều
đòi hỏi Công ty phải có kế hoạch kinh doanh cho phù hợp với tình hình thực
tế của mình. Số lượng lao động của công ty ban đầu tăng nhẹ, sau đó lại giảm
cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân. Đây là tín hiệu khá tốt cho Công
ty trong thời kỳ mới này.
1.2- Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh và phân cấp
quản lý tài chính:
1.2.1- Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh:
5
Công ty Cổ phần xây dựng giao thông Phú Thọ đứng đầu là giám đốc
là người chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ bộ máy quản lý. Ngoài việc uỷ
nhiệm cho các Phó Giám đốc, giám đốc cũng trực tiếp chỉ huy các trưởng
phòng. Giúp việc cho giám đốc gồm có 02 phó giám đốc trực tiếp chỉ huy các
bộ phận được phân công uỷ quyền. Phó giám đốc phụ trách về kỹ thuật thi
công và an toàn thi công trực tiếp phụ trách phòng kỹ thuật, Phó giám đốc
phụ trách vật tư thiết bị, kỹ thuật xe, máy và nội quy chính của Công ty. Cũng
phụ trách vật tư và phòng hành chính.
Các phòng chức năng được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý sản
Tại Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Phú Thọ thì Giám đốc là
người quyết định và ký tất cả mọi chứng từ thu chi, các hợp đồng kinh tế, giao
nhận thầu và thanh lý bàn giao các công trình hoàn thành cho bên A. Cùng 02
7
Giám đốc
Phó giám đốc phụ trách
kỹ thuật
Phó Giám đốc phụ trách
vật tư
Phòng tài
chính kế
toán
Phòng vật
tư thiết bị
Phòng
kế hoạch
kỹ thuật
Phòng tổ
chức
hành
chính
Đội thi
công số
1
Đội thi
công số
2
Đội thi
công số
3
đường
Trồng
đá
hộc
Ra đá
4x6
Lu
lốn
Ra
đá
1x2
Tưới
nhựa
nhũ
tương
2 lớp
Lu
lốn
- Dây truyền vá sửa đường:
-
- Dây truyền là hố:
- Dây truyền sửa hố:
- Dây truyền dải thảm đường bê tông asphalt:
Sơ đồ quy trình sản xuất:
Do đặc thù của Công ty là vừa nhận thầu, lại vừa sản xuất các vật liệu
nên quy trình sản xuất được thực hiện qua sơ đồ sau:
9
Vệ
sinh
mặt
Cát
đen
đổ
nền
Tưới
nước
đầm
chăt
Lát
gạch
30x30
Lu
lốn
Đào hè phần
sụt lở
Đổ cát tưới
nước đầm chặt
Lát gạch theo
nguyên mẫu hố cũ
Vệ
sinh
mặt
đường
Bổ lề
chân
chim
Tưới
nhựa
dính
bán
sinh. Sau khi hoàn thành công trình, giá dự toán lại là cơ sở để nghiệm thu,
kiểm tra chất lượng công trình, xác định giá thành quyết toán công trình và
thanh lý hợp đồng kinh tế đó ký kết. Bên cạnh sự tác động của đặc điểm sản
phẩm xây dựng thì việc tổ chức quản lý sản xuất, hạch toán kế toán các yếu tố
đầu vào cũng chịu ảnh hưởng của quy trình công nghệ.
Môi trường kinh tế: Đất nước ta đang trên đà phát triển để tiến kịp các
nước phát triển trong khu vực. Vì vậy, thu nhập mỗi cá nhân đều tăng lên,
mức sống của con người ngày càng cao. Như nhà cửa, nội thất, phương tiện đi
lại. Vì vậy, những con đường mới được mở ra to hơn, đẹp hơn, chất lượng
hơn, những con đường nhỏ được nâng cấp, cải tạo để đáp ứng được nhu cầu
xã hội đang ngày một phát triển..
10
Môi trường công nghệ: Phát triển khoa học kỹ thuật sẽ thúc đẩy sự phát
triển của doanh nghiệp , doanh nghiệp sẽ phải đầu tư máy móc hiện đại là cho
tiến độ nhanh và thuận lợi hơn.
Môi trường tự nhiên: Khí hậu và địa hình ảnh hưởng lớn đến doanh
nghiệp, địa hình hiểm trở ảnh hưởng đến việc vận chuyển nguyên vật liệu,
máy móc gây khó khăn cho việc thi công. Mưa gió ảnh hưởng đến tiến độ thi
công của công trình.
Môi trường văn hoá xã hội: Công ty thường thi công ở nhiều nơi khác
nhau vì vậy phong tục tập quán ở mỗi nơi khác nhau nhất là vùng cao. Vì vậy
ảnh hưởng đến việc ăn ở của công nhân.
Môi trường luật pháp: Trong quá trình công nghiệp hoá, Việt Nam
đang ngày càng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật với mục đích tạo
ra hành lang pháp lý thông thoáng cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động,
giảm gọn nhẹ các thủ tục hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh
doanh và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động.
1.4 - Đặc điểm lao động kế toán và tổ chức bộ máy kế toán
1.4.1- Đặc điểm lao động kế toán
Phòng kế toán của công ty cổ phần xây dựng giao thông Phú Thọ có 05
tiền vay
Kế toán
tài sản
cố định
vật liệu
CCDC
Kế toán
tổng hợp
thanh toán
tiền lương
chi phí và
giá thành
Thủ quỹ
Nhân viên kỹ thuật
ở các đội thi công
duyệt hợp đồng kinh tế, hạch toán kế toán và phân tích kế toán chung
của Công ty.
+ Kế toán tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền vay ngân hàng: Chịu
trách nhiệm theo dõi nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tài sản
tiền gửi ngân hàng để phản ánh đầy đủ chi tiết vào sổ sách kế toán, lập
báo cáo hàng tháng về tiền gửi ngân hàng theo dõi tình hình thu chi tiền
mặt tại quỹ của Công ty. Đối chiếu số liệu tổng hợp với thủ quỹ theo dõi
định kỳ các khoản vay nợ của Công ty đối với từng ngân hàng, tình hình
thanh toán nợ và số dư nợ ngân hàng, định kỳ đối chiếu số dư nợ với các
ngân hàng.
+ Kế toán nguyên vật liệu, CCDC, tài sản cố định: Theo dõi tình
hình nhập xuất vật liệu, CCDC, phụ tùng sửa chữa ở từng công trình đối
chiếu kiểm kê định kỳ đối với các nhân viên kế toán ngoài công trình để
đảm bảo phù hợp số liệu trên sổ sách với thực tế. Đồng thời, kế toán
cũng có nhiệm vụ ghi chép, đảm bảo phản ánh số liệu về tình hình tăng,
trong Luật kế toán và Ban hành theo QĐ số 48/2006 / QĐ- BTC, ngày 14
tháng 9 năm 2006. Hình thức sổ kế toán Công ty đang áp dụng là hình
thức chứng từ ghi sổ .
* Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Phương pháp kê khai
thường xuyên.
* Phương pháp tính thuế GTGT: Phương pháp khấu trừ
1.5.1- Đặc điểm vận dụng chứng từ kế toán
14
Công ty áp dụng các loại chứng từ sau: Phiếu thu, phiếu chi, hoá
đơn GTGT,....
Đặc điểm luân chuyển chứng từ nói chung của đơn vị:
Tất cả các chứng từ kế toán do công ty lập hoặc từ bên ngoài
chuyển vào đều được tập chung tại phòng kế toán. Bộ phận kế toán kiểm
tra những chứng từ kế toán đó. Sau khi kiểm tra và xác minh tính pháp lý
của chứng từ thì mới áp dụng những chứng từ đó để ghi sổ kế toán. Tất
cả các chứng từ sau khi ghi sổ và kết thúc kỳ hạch toán đều được chuyển
sang lưu trữ, đảm bảo an toàn, khi cần có thể tìm được nhanh chóng. Khi
kết thúc thời hạn lưu trữ, chứng từ đem huỷ.
1.5.2- Đặc điểm tài khoản kế toán áp dụng
Công ty áp dụng hệ thống tài khoản ban hành kèm theo Quyết định
số 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính ban
hành "Chế độ kế toán doanh nghiệp"
Tài khoản kế toán được dùng để theo dõi và phản ánh tình hình và
sự biến động của từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn và từng khoản nợ
phải thu, nợ phải trả. Bởi vậy , để cung cấp đầy đủ thông tin cho quản lý
cũng như phụ thuộc vào quy mô, vào điều kiện kinh doanh và vào loại
hỡnh hoạt động, sở hữu của mình, trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán
thống nhất do Nhà nước ban hành, Công ty đó lựa chọn những tài khoản
thích hợp để vận dụng đó tạo thành hệ thống tài khoản kế toán của Công ty.
1.5.3- Đặc điểm vận dụng sổ sách kế toán
làm căn cứ để lập chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào thẻ kế toán chi tiết.
17
Chứng từ gốc và bảng
tổng hợp chứng từ gốc
Sổ quỹ
Sổ (thẻ)
Kế toán chi tiết
Sổ đăng ký
chứng từ
ghi sổ
Chứng từ
ghi sổ
Sổ cái
Bảng tổng hợp
chi tiết
Bảng cân đối
tài khoản
Bảng cân đối
kế toán
Cuối tháng phải khoá sổ để tính ra tổng số tiền của các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh trong tháng, trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ tính ra
tổng số phát sinh Nợ, tổng số phát sinh Có và số dư của từng tài khoản
trên sổ cái. Căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối phát sinh.
Sau khi đối chiếu khớp đúng số liệu ghi trên sổ cái và sổ tổng hợp
chi tiết thì lập báo cáo tài chính.
1.5.4- Đặc điểm vận dụng báo cáo kế toán
Báo cáo tài chính của công ty được trình bày bằng đồng việt nam,
được lập theo hướng dẫn của "Chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp
Việt Nam" ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày
20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính và chuẩn mực kế toán Việt Nam
phục vụ cho nhu cầu của từng công trình và chỉ dự trữ một lượng vừa đủ cho
công trình đó.
Bộ phận quản lý vật tư là phòng vật tư có trách nhiệm quản lý vật tư
và làm theo lệnh của giám đốc. Tiến hành nhập xuất vật tư trong tháng, định
19
kỳ tiến hành kiểm kê để tham mưu cho giám đốc những chủng loại vật tư cần
dùng cho sản xuất, những loại vật tư còn tồn đọng … để giám đốc có những
biện pháp để giải quyết hợp lý, tránh tình trạng cung ứng không kịp thời làm
giảm tiến độ sản xuất thi công hay tình trạng ứ đọng vốn do vật tư tồn đọng
quá nhiều, không sử dụng hết
Bên cạnh cán bộ của phòng vật tư, thống kê đội, thủ kho có trách nhiệm
nhập. Xuất vật tư theo phiếu nhập, phiếu xuất đủ thủ tục chứng từ mà công ty
quy định. Hàng tháng, hàng quý kết hợp với cán bộ chuyên môn khác tiến
hành kiểm kê vật liệu thừa thiếu trong tháng, quý.
2.2- Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu tại công ty cổ phần XDGT Phú
Thọ
2.2.1 Phân loại nguyên vật liệu
Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu – công cụ dụng cụ bao gồm rất
nhiều loại khác nhau, đặc biệt là trong ngành xây dựng cơ bản với nội dung
kinh tế và tính năng lý hoá học khác nhau. Để có thể quản lý chặt chẽ và tổ
chức hạch toán chi tiết tới từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ, phục vụ cho kế
hoạch quản trị … cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ.
Trước hết với vật liệu, căn cứ vào nội dung kinh tế, vai trò của chúng
trong quá trình thi công xây dựng, căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp thì nguyên vật liệu được chia thành các loại sau :
*Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng lao động chủ yếu của Công ty và
là cơ sở vật chất chủ yếu hình thành nên sản phẩm như: Đá 4x6 , Đá bây , Đá
1x2 , Đá 0.5 , Cát vàng , Xi măng , sắt , thép , Nhựa đường .
+ Đá 4x6 , đá bây , làm móng công trình
Ký hiệu : 1521
Ý nghĩa mã số : Đá và nhựa đường là nguyên vật liệu chính trực
tiếp , đá 4 x 6 là vật lliệu thứ nhất thuộc nhóm đá .
2.2.2 –Đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá vật liệu- công cụ dụng cụ là xác định giá trị của chúng
theo những nguyên tắc nhất định về nguyên tắc kế toán nhập xuất tổng
hợp, nhập xuất tồn kho vật liệu - công cụ dụng cụ công ty phản ánh trên
giá thực tế. Nguồn vật liệu của ngành xây dựng cơ bản nói chung và của
Công ty cổ phần xây dựng Giao Thông nói riêng là rất lớn, công ty chưa
đảm nhiệm được việc chế biến và sản xuất ra nguyên vật liệu - công cụ
dụng cụ mà nguồn vật liệu chủ yếu do mua ngoài.
Đối với nguyên liệu, vật liệu: Giá thực tế vật liệu nhập do mua
ngoài:
* Trường hợp bên bán vận chuyển vật tư cho công ty thì giá thực
tế nhập kho chính là giá mua ghi trên hoá đơn.
Ký hiệu
Nhóm vật
liệu
Danh điểm vật
liệu
1521 - 01 1521- 01-001
1521- 01-002
Đá 4 x 6
Đá 1 x 2
M
M
1521 - 02 1521- 01-001
1521- 01-002
Nhựa đường đặc
Quy trình luân chuyển phiếu nhập kho: Theo quy định tất cả các
vật liệu khi về đến công ty đều phải làm thủ tục kiểm nhận và nhập kho.
Khi nhận được hoá đơn của người bán gửi tới hoặc của nhân viên mua
vật tư đem về công ty. Ban vật tư của công ty sẽ đối chiếu với kế hoặch
thu mua để giải quyết. Trước khi nhập kho vật liệu trưởng ban kiểm tra
phải tiến hành lập biên bản kiểm nghiệm vật tư, kiểm tra về số lượng,
chất lượng, quy cách, phẩm chất vật tư .Căn cứ vào hoá đơn, giấy báo
nhận hàng ban vật tư lập phiếu nhập vật tư thành hai bản, người phụ
trách kí vào hai bản đó rồi chuyển xuống cho Thủ kho để làm căn cứ
nhập nguyên liệu vật liệu .
Hoá đơn người bán hàng được chuyển cho kế toán thanh toán để
làm thủ tục thanh toán với người bán .
Căn cứ vào phiếu nhập kho Thủ kho tiến hành kiểm nhận vật tư
nhập kho ghi số lượng thực nhập và cùng với người bán hàng kí vào hai
liên . Nếu phát hiện thừa, thiếu nguyên liệu vật liệu khi nhập kho hoặc
không đúng quy cách phẩm chất của nguyên vật liệu đó thì Thủ kho báo
cho ban vật tư biết để giải quyết .Nếu có sự khác biệt lớn về chất lượng
và số lượng của nguyên liệu vật liệu giữa hoá đơn và thực nhập thì phải
lập biên bản kiểm nghiệm .
Phiếu nhập kho chia làm 3 liên:
Liên 1: Lưu tại phòng kế toán
Liên 2: Giao cho cán bộ vật tư
Liên 3: Giao cho thủ kho để theo dõi số lượng làm cơ sở đối chiếu
với kế toán vật liệu.
Phiếu nhập kho phải có đầy đủ chữ ký của đơn vị, kế toán trưởng
và thủ kho thì mới hợp lệ.
Nội dung của phiếu nhập kho là theo dõi số tiền và số lượng vật tư
24
+ Minh hoạ thủ tục nhập kho :
Ví dụ 1: Căn cứ vào hoá đơn GTGT số 0026139 ngày 06/ 10/