BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN HỌC: THỐNG KÊ KINH DOANH
ĐỂ TÀI: TRÌNH BÀY ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT NGÀNH CÔNG NGHIỆP
CHẾ BIẾN (NÔNG SẢN) NÊU BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NVL
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN.
GVHD : NGUYỄN KHÁNH BÌNH
Nhóm : 9
Lớp: NCQT4F
TP.Hồ Chí Minh,Tháng 6 năm 2011
1
DANH SÁCH NHÓM 2
STT HỌ VÀ ĐỆM TÊN MSSV
GHI
CHÚ
1 LÂM VŨ BẢO
2 TRẦN THANH HẰNG
3 DIỆP THỊ THU HIỀN (Nhóm trưởng)
4 TRẦN THỊ LỆ KHIÊM
5 NGUYỄN THỊ THÚY KIỀU
6 NGUYỄN THỊ MỪNG
7 ĐỖ THỊ PHƯƠNG NHI
8 MAI THỊ KIM THẢO
9 PHẠM ĐÀO MINH THƯ
10 BÙI THỊ TRANG
2
MỤC LỤC
3
LỜI NÓI ĐẦU
Do xuất phát điểm từ một nền nông nghiệp nhỏ lạc hậu, với 80% dân số và trên
công nghiệp khai thác.
Theo cách phân loại phổ biến hiện nay, thì công nghiệp chế biến là bao gồm: công
nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp dệt và may mặc… trong đó
các ngành chế biến sản phẩm của nông nghiệp được gọi là công nghiệp chế biến
nông sản.
Như vậy công nghiệp chế biến nông sản là một phân ngành của công nghiệp chế
biến, nó thực hiện các hoạt động bảo quản gìn giữ, cải biến và nâng cao giá trị sử
dụng và giá trị nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp (gồm cả nông, lâm, thủy sản)
bằng phương pháp công nghiệp. nói cách khác, nếu công nghiệp có 3 vị trí trong
5
cơ cấu kính tế nông thôn là: đứng trước sản xuất nông nghiệp, song song với sản
xuất nông nhiệp, và đứng cuối quy trình sản xuất công nghiệp thì công nghiệp chế
biến nông sản đứng ở vị trí thứ 3. Công nghiệp chế biến nông sản xuất hiện đã
đáp ứng tốt nhu cầu thị trường, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và
đưa lại hiệu quả kinh tế cao.
Công nghiệp chế biến nông sản lại cũng rất đa dạng về ngành nghề, sản phẩm,trình
độ kĩ thuật – công nghệ… nếu căn cứ vào công dụng của sản phẩm cũng như
nguyên liệu chế biến thì công nghiệp chế biến nông sản bao gồm các ngành hẹp
như: ngành chế biến lương thực; ngành chế biến trái cây, thức uống, ngành chế
biến các loại cây công nghiệp, ngành chế biến thức ăn gia súc, gia cầm; ngành sản
xuất chế biến đường, bánh kẹo, nghành chế biến thịt sữa và các sản phẩm từ thịt,
sữa; nghành chế biến rau quả…
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản quy mô vừa và nhỏ
Quy luật kinh tế chung mà các nước có sản phẩm nông nghiệp phải
chịu là “được mùa rớt giá”. Tăng diện tích cây trồng và các biện
pháp tăng năng suất luôn đẩy sản phẩm nông nghiệp vào thế chống
chọi với áp lực cạnh tranh thị trường và giá cả. Trước sự biến động
về giá nông sản, bài toán cân bằng giá bán - sản lượng luôn là thách
thức đối với các nhà quản lý và người sản xuất.
• Ứng dụng công nghệ chế biến để bình ổn giá nông sản
Chế biến tiêu
xuất khẩu tại Công
ty Tiến Hưng
hợp với trình độ quản lý kinh tế và trình độ công nghệ của người sản xuất;
tính cơ động cao, dễ thích ứng với biến đổi về thị trường, nhất là khi có
nhu cầu thay đổi mẫu mã sản phẩm; năng động trong tiếp thị, vốn đầu tư
thấp với phần lớn thiết bị chế tạo trong nước. Thực hiện mô hình này, có
thể bám sát vùng nguyên liệu với cơ chế thu mua mềm dẻo; có thể kết
hợp hài hòa giữa trồng trọt và chế biến tại chỗ bằng cách chủ động điều
tiết đầu vào nguyên liệu và đầu ra của sản phẩm.
Để giải quyết mối quan hệ giữa giá cả và sản lượng nông sản ở nước ta,
phát triển các mô hình công nghiệp chế biến thực phẩm nông sản quy mô
vừa và nhỏ là hướng đi thích hợp. Một giải pháp rất quan trọng là phân
cấp công nghệ theo vùng và địa phương. Các địa phương có sản phẩm
nông sản cần xây dựng mô hình chế biến tại chỗ, trong khi đó các thành
phố lớn, như TPHCM, cần đầu tư xây dựng các khu công nghệ cao, tạo ra
các sản phẩm có giá trị lớn cả về khoa học công nghệ và kinh tế.
Các mô hình chế biến nông sản quy mô vừa và nhỏ ở các địa phương trở
thành các xí nghiệp vệ tinh cung cấp sản phẩm sơ chế và nguyên liệu thứ
cấp cho khu công nghệ cao để chế biến sản phẩm cuối cùng. Quy hoạch
phân vùng công nghệ chế biến nông sản theo mô hình vệ tinh như vậy
đảm bảo sự phù hợp về vận trù học, tạo con đường đi ngắn nhất và tiết
kiệm nhất trong quá trình vận chuyển nông sản.
Nếu mọi doanh nghiệp đều chở nông sản về thành phố hoặc khu công
nghiệp để chế biến, chưa tính lãng phí về kinh tế do vận chuyển, hao hụt
8
và giảm chất lượng nguyên liệu, cái giá mà thành phố phải trả là chi phí
giải quyết ô nhiễm môi trường, giá trị sản phẩm thấp, tăng dân số cơ
học… Còn nếu địa phương nào cũng đầu tư chế biến quy mô lớn, trước
hết không thể đủ vốn đầu tư hoàn chỉnh, kết quả chỉ tạo ra những sản
này là hướng phát triển quan trọng, bởi hiệu quả hiệu quả “kép” đặc biệt
của nó trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước hết,
các số liệu thống kê quốc tế trong gần nửa thế kỷ gần đây cho thấy, tuy
cũng thăng trầm, nhưng diện tích đất nông nghiệp của Việt nam vẫn tăng
và đạt kỷ lục 6,649 triệu ha ở thời điểm năm 2001, nhưng trong mấy năm
gần đây chỉ còn dao động xung quanh mức 6,35 triệu ha. Trong khi đó,
10
tổng diện tích các loại cây, bao gồm cây hàng năm và cây lâu năm, hầu
như vẫn tăng, nhưng nhịp tăng càng ngày càng chậm lại và năm 2009 đã
đạt kỷ lục 13,949 triệu ha.
Thực tế đó có nghĩa là, tiềm năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp hầu
như không còn, trong khi diện tích đất nông nghiệp buộc phải chuyển qua
các mục đích sử dụng khác lại tăng lên, còn khả năng quay vòng sử dụng
đất có lẽ cũng đã được khai thác gần như triệt để. Do vậy, phát triển nông
nghiệp theo chiều rộng trong những năm tới là điều hầu như không thể.
Nói đến Đà Lạt-Lâm Đồng là nói đến vùng đất chuyên canh các mặt hàng
rau, quả. Khoảng 7 năm trở lại đây, sự tác động của Chương trình sản
xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, năng suất các mặt hàng rau,
quả ở Lâm Đồng đã được nâng lên rõ rệt. Cũng như nhiều mặt hàng nông
sản khác, đầu tư cho công nghiệp chế biến rau quả là vấn đề bức thiết
nhằm nâng cao chất lượng và giá trị của các mặt hàng rau, quả. Bình
quân mỗi năm, Lâm Đồng canh tác khoảng 43,6 ngàn ha rau quả các loại,
với sản lượng bình quân trên 1,3 triệu tấn/năm. Nhờ năng suất và chất
lượng khá ổn định, thời gian qua, Lâm Đồng đã khuyến khích các thành
phần kinh tế đầu tư vào khâu chế biến nông sản,nhằm nâng cao giá trị sản
xuất của các mặt hàng rau quả. Thông thường, chế biến rau cấp đông, rau
sấy khô đòi hỏi cao về kỹ thuật công nghệ và vệ sinh thực phẩm. Hiện,
một số doanh nghiệp đã đầu tư và phát triển công nghệ BLOC (sản phẩm
dạng đóng gói) và công nghệ IQF (sản phẩm dạng rời). Theo thống kê
chưa đầy đủ, hiện các doanh nghiệp sản xuất chế biến rau đông lạnh và
đã tạo cho ngành chế biến NSTP một sức sống mới, diện mạo mới. Hiện
tại, trên địa bàn tỉnh có khoảng hơn 11.000 cơ sở chế biến NSTP, trong đó
phần lớn là các hộ sản xuất cá thể. Tốc độ tăng trưởng chung toàn ngành
đạt khoảng 14,13%/ năm.
Các cơ sở và doanh nghiệp chế biến NSTP đang tạo việc làm cho khoảng
23.000 lao động. Cơ cấu ngành hàng chế biến ngày càng phong phú, đa
dạng nhưng tập trung chủ yếu vào 10 chủng loại sản phẩm có quy mô
tương đối lớn, điển hình như: Chế biến gạo, ngô; thịt đông lạnh; thuỷ sản
đông lạnh; nước mắm; rau- củ- quả; bia- nước giải khát Trong đó, một
số nhóm ngành có bước phát triển khá sôi động, bước đầu tạo được
thương hiệu và cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.
Đáng chú ý là nhóm ngành chế biến cây lương thực, chủ yếu là lúa gạo.
Sản lượng xay xát toàn tỉnh hàng năm đạt khoảng 900.000 tấn, xuất khẩu
đạt khoảng 6.000 tấn. Hiện tại đã hình thành được một số cơ sở xay xát
quy mô khá như: Công ty cổ phần lương thực Thái Đan; Công ty cổ phần
giống cây trồng Thái Bình, Công ty cổ phần SX- KD XNK Lam Sơn, Công
ty Hưng Cúc; Công ty Thuận Khang Cùng với đó là hàng chục các làng
nghề, xã nghề chế biến LT- TP như: Dụ Đại (Đông Hải); Tô Hồ, Tô Đê (An
Mỹ); Đồng Thanh (Vũ Thư); Nguyên Xá (Đông Hưng); An Vũ, An Lễ
13
(Quỳnh Phụ)
Kế đó là nhóm ngành chế biến các sản phẩm chăn nuôi, trên địa bàn tỉnh
hiện có 3 cơ sở chế biến thịt đông lạnh, chủ yếu là lợn sữa xuất khẩu với
công suất khoảng 10.000 tấn/ năm như: Công ty XNK thực phẩm Thái
Bình công suất 5.000 tấn/ năm; Xí nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu
công suất 3.000 tấn/ năm; Công ty thực phẩm nông sản Thái Bình công
suất 1.200 tấn/ năm. Ngoài ra còn có hàng trăm cơ sở giết mổ gia súc, gia
cầm nằm phân bố rải rác. Giá trị xuất khẩu của nhóm ngành này đạt
khoảng 5,5- 6 triệu USD/ năm
Nhóm ngành chế biến thuỷ- hải sản có năng lực chế biến khoảng 1.200-
đã đạt kỷ lục 13,949 triệu ha.
Để ngành công nghiệp chế biến NSTP tiếp tục phát triển nhanh, tương
15
xứng với tiềm năng, thời gian tới các ngành chức năng cần nghiên cứu và
xác định rõ một số nhóm sản phẩm vừa là thế mạnh vừa đáp ứng nhu cầu
thị trường để khuyến khích, tập trung đầu tư phát triển.
Trước mắt cần ưu tiên vào một số mặt hàng như lương thực - thực phẩm,
thịt lợn sữa, thuỷ sản, đồ uống, rau quả (hoa hèo, dưa chuột bao tử, ớt,
khoai tây) Phát triển công nghiệp chế biến theo hướng đa dạng hoá các
thành phần kinh tế tham gia, trong đó chú trọng thành phần kinh tế tư nhân
và hợp tác đầu tư nước ngoài, ưu tiên phát triển các sản phẩm xuất khẩu.
Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới nhằm đa dạng
hoá sản phẩm và từng bước xây dựng thương hiệu một số mặt hàng nông
sản tiêu biểu. Chú trọng việc quy hoạch để hình thành một số vùng sản
xuất nguyên liệu tập trung, quy mô lớn và mở rộng hình thức mua- bán
thông qua hợp đồng nhằm tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho sản xuất.
Đi liền với đó cần tích cực đầu tư xây dựng hạ tầng cho các vùng chuyển
đổi, nhất là về thuỷ lợi. Tăng cường hỗ trợ nông dân về giống, vốn, vật tư,
kỹ thuật nhằm tạo sản phẩm chất lượng cao đủ tiêu chuẩn làm hàng hoá.
Ngoài ra, tỉnh tiếp tục bổ sung các cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư
mới và hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Đặc biệt là cơ chế hỗ trợ
16
về vốn, mặt bằng, lao động, tìm kiếm thị trường
• Giải pháp đảm bảo an định nguồn nguyên liệu:
- Hình thành và phát triển tại Đà Nẵng mặt số vùng nguyên liệu phù hợp
với định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến nông-lâm-thủy sản
thành phố.
- Tăng cường liên kết với các địa phương khác, nhất là khu vực Miền
Trung-Tây Nguyên, trong việc khai thác và phát triền các vùng nguyên liệu
tập trường đề đảm bảo ổn định nguồn nguyên liệu cho sản xuất.
cường hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp trong
đào tạo và tuyển dụng nhân lực; Trích lập Quỹ đào tạo tại doanh nghiệp
• Giải pháp về công nghệ và chất lượng:
- Triển khai thực hiện tốt Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học-công
nghệ thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2004-2010, trong đó chú trọng cho
phép doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để đầu tư đổi mới công nghệ; khấu hao
nhanh tài sản; thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển khoa học-công nghệ của
thành phố đồng thời khuyến khích việc thành lập quỹ này tại các doanh
nghiệp; khuyến khích thành lập các đơn vị tư vấn, môi giới và dịch vụ khoa
học-công nghệ trên địa bàn thành phố.
- Chú trọng các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm như tăng cường
liên kết, hợp tác với ngành Nông nghiệp trọng việc đảm bảo chất lượng
nông phẩm cung cấp cho công nghiệp chế biến; tăng cường khâu kiểm tra
chất lượng sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp và các cơ quan nhà
19
nước đối với các tiêu chuẩn về vệ sinh-an toàn thực phẩm
• Các chính sách và hỗ trợ:
Thực hiện các chính sách của Trung ương và Thành phố về tài chính, tín
dụng; hỗ trợ đầu tư ứng dụng khoa học- công nghệ mới, phát triển thị
trường, phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp.
Trong đó chú ý một số giải pháp như: Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi; Thúc đẩy việc thành
lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Thực hiện
Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về
việc khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng; Quyết
định 106/2004/QĐ-CP ngày 02/4/2004 của Chính phủ về việc cho các hộ
nông dân và các doanh nghiệp ngành chế biến nông-lâm-thủy sản được
vay vốn từ các Chương trình hỗ trợ phát triển cây trồng, vật nuôi, gây rừng
và trồng rừng; Xây dựng Trung tâm giới thiệu sản phẩm công nghiệp thành
phố Đà Nẵng; Hỗ trợ kinh phí thuê chuyên gia quản lý doanh nghiệp, xúc
tiên triển khai, đó là phát triển công nghiệp chế biến nông sản có lợi thế
cạnh tranh và sử dụng nguyên liệu tại chỗ. Ông Huỳnh Ngọc Hải - Phó
Giám đốc Sở Công thương lâm Đồng cho biết: “Để lĩnh vực công nghiệp
chế biến phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương,
thì ngoài những chủ trương, chính sách của Nhà nước, Lâm Đồng, cần
tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự đồng thuận cạnh
tranh như cà phê, chè, rau quả… Ngoài ra, cần quyết tâm cao trong công
tác chỉ đạo, quyết liệt trong công tác thực hiện, giải pháp linh hoạt và phù
hợp với thực tế; thường xuyên kiểm tra và có giải pháp hộ trợ thực hiện.
Muốn làm được điều đó, giải pháp mà ngành công nghiệp đưa ra là tăng
cường kêu gọi đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào
lĩnh vực chế biến nông sản, trong đó có chế biến các mặt hàng rau quả;
đồng thời thông qua các chương trình, dự án được triển khai hàng năm,
hỗ trợ kinh phí để các doanh nghiệp có điều kiện đầu tư trang thiết bị chế
biến rau cấp đông, rau đông lạnh, chế biến cà phê theo công nghệ ướt, cà
phê hòa tan…”.
Có thể nói, đầu tư phát triển công nghiệp chế biến được xem là “chìa
khóa” tạo động lực cho ngành công nghiệp tạo bước bứt phá mới. Vì vậy,
thời gian tới các ban ngành, địa phương liên quan cần tập trung tối đa các
nguồn lực thực hiện tốt các dự án phát triển công nghiệp chế biến trên cơ
sở quy hoạch chung của tỉnh và khu vực; chú trọng đổi mới công nghệ,
tính toán cân đối phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên
liệu. Bên cạnh đó, phát triển công nghiệp chế biến phải mang tính bền
vững theo hướng hiện đại kết hợp với công nghệ truyền thống, đảm bảo
môi trường, môi sinh, coi trọng hiệu quả kinh tế, phù hợp với xu thế hội
nhập; đặc biệt, cần phát huy tổng hợp mọi nguồn lực trong và ngoài nước,
khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và con
22
người, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn.
vỉ phơi, nguyên liệu… Từ tháng 6-2008, mô hình của chị đi vào sản
xuất. Theo chị Hương, việc sản xuất bánh đa nem cũng đơn giản, gạo
đem ngâm rồi xay bột nước, bột nước được tráng trên băng vải
phẳng rộng 40cm cho chạy qua nồi nước sôi đã đun trước và đưa
vào để bánh trải trên vỉ và đem phơi. Sau khi bánh khô, lột bánh đem
cắt và đóng gói đưa ra thị trường tiêu thụ.
Cơ sở bánh đa nem Hương Huệ.
Hiện tại cơ sở của chị Hương có 6 lao động thường xuyên sản xuất,
đóng gói và giao hàng, chủ yếu là lao động nữ, công việc cũng không
vất vả nhưng thu nhập bình quân 1,2 triệu đồng/tháng/người. Mỗi
24
ngày, cơ sở của chị Hương sản xuất 100kg gạo, sau khi trừ chi phí
mỗi tháng gia đình chị có thu nhập 4,8 - 5 triệu đồng. Thời gian đến,
chị dự tính sẽ mua sắm thêm vỉ phơi để sử dụng hết năng suất thiết
bị, mở rộng diện tích sân phơi, xây lò sấy và nhà phơi để sản xuất
bánh trong mùa mưa, tìm kiếm thị trường tiêu thụ… nhằm nâng cao
thu nhập. Ưu điểm của bánh đa nem Hương Huệ là hợp với khẩu vị
người tiêu dùng, nhờ bánh mềm, mỏng lại dẻo, không rách, không
giòn và không có vị mặn như các loại bánh trên thị trường nên được
nhiều người ưa chuộng.
Với anh Đàm Văn Phước cũng tương tự: sau khi được đi học nghề,
anh đã chọn cho mình nghề sản xuất bún, phở khô. Anh mạnh dạn
đầu tư 47 triệu đồng để mua máy móc thiết bị sản xuất và mỗi ngày
có thu nhập gần 100 nghìn đồng. Đây là nguồn thu không nhỏ so với
nghề nông.
Những mô hình được nông dân huyện Thăng Bình học tập từ tỉnh Hà
Tây là những mô hình chế biến nông sản có qui mô sản xuất nhỏ tại
hộ gia đình. Sản phẩm được chế biến từ gạo nguyên chất, kỹ thuật