TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
TIỂU LUẬN
Đề tài: Thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
trong điều kiện thực hiện lộ trình AFTA-CEPT
Thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam trong điều kiện thực hiện lộ trình
AFTA-CEPT
CHƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN (AFTA)
000001. Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và AFTA
nói riêng.
000001.1. Cơ sở của hội nhập kinh tế .
Ngày nay, các quốc gia trên hành tinh chúng ta trong quá trình phát triển đã từng bớc
tạo lập nên các mối quan hệ song phơng và đa phơng nhằm từng bớc tham gia vào các liên
kết kinh tế quốc tế với những mức độ khác nhau, nhằm đa lại lợi ích thiết thực cho mỗi
bên. Chính các liên kết kinh tế quốc tế là sự biểu hiện rõ nét của hai xu hớng khu vực hoá
và toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức sôi động và đặc biệt quan trọng trong những năm gần
đây.
ã Khu vực hoá kinh tế và các hình thức chủ yếu của nó.
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra ở những cấp độ khác
+ Liên minh kinh tế.
000001.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tê đối với Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong thế giới ngày nay. Đối với
các nớc đang và kém phát triển (trong đó có Việt Nam) thì hội nhập kinh tế quốc tế là con
đờng tốt nhất để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nớc khác và có điều kiện phát
huy hơn nữa những lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Nh vậy vấn đề đặt ra đối với Việt Nam không còn là “hội nhập” hay “không hội nhập” mà
phải là hội nhập nh thế nào để tận dụng tốt cơ hội, giảm thách thức trong quá trình phát
triển của mình trong điều kiện thế giới có nhiều biến động khó có thể dự đoán trớc đợc.
Trớc đây, tính chất xã hội hoá của quá trình sản xuất chủ yếu chỉ lan toả trong phạm vi
biên giới của từng quốc gia, nó gắn các quá trình sản xuất , kinh doanh riêng rẽ lại với
nhau, hình thành các tập đoàn kinh tế quốc gia và làm xuất hiện phổ biến các loại hình
công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc gia. Qua đó quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất đã có
những thay đổi đáng kể, hình thành nên sở hữu hỗn hợp. Từ đó, việc đáp ứng yêu cầu về
quy mô lớn cho sản xuất kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn. tình hình này đòi hỏi sự
tham gia ngày càng lớn của chính phủ các quốc giacó nền kinh tế phát triển. Bởi lẽ, những
nớc này là những nớc có thế mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý…
Ngày nay, một mặt do sự phát triển cao của lực lợng sản xuất làm cho tính chất xã hội
hoá của nó vợt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lan toả sang các nớc trong khu vực và
thế giới. Mặt khác tự do thơng mại cũng đang trở thành xu hớng tất yếu và đợc xem là một
nhân tố quan trọng thúc đẩy buôn bán giao lu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trởng kinh
tế và nâng cao đời sống của mọi quốc gia. Vì vậy hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
điều chỉnh các chính sách theo hớng mở cửa , giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cản thơng mại,
tạo điều kiện cho việc lu chuyển các nguồn lực và hàng hoá tiêu dùng giữa các quốc gia.
Có thể nói sự hội nhập của nền kinh tế các nớc trong khu vực đang đa lại những lợi ích
kinh tế khác nhau cho cả ngời sản xuất và ngời tiêu dùng trong các nớc thành viên. Đặc
biệt là Việt Nam thì mở cửa và hội nhập với các nớc trong khu vực và trên toàn thế giới
đang là xu thế tất yếu. Chính sự hội nhập này đã đem lại cho Việt Nam nhiều lợi ích đáng
kể. Cụ thể:
Một là, tạo lập quan hệ mậu dịch mới giữa các nớc thành viên, mở rộng hơn nữa khả
sự điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu giá và tỷ giá hối đoái.
- Vấn đề việc làm và giải quyết thất nghiệp.
- Cải cách hệ thống tài khoá, đặc biệt là những trờng hợp thuế quan mậu dịch có tỷ
trọng đáng kể trong nguồn thu ngân sách và do đó làm nảy sinh những kho khăn trong qua
trình cân đối ngân sách của chính phủ.
- Cần phải thiết lập khuôn khổ pháp lý chung ( luật chơi chung) đối với các nớc thành
viên. Trớc hết, cần phải giải quyết một số vấn đề có liên quan tới các quy định thuế quan,
hải quan, chuẩn mực lao động, môi trờng sinh thái, chất lợng sản phẩm…
- Vấn đề giải quyết công bằng, bình đẳng trong xã hội và giữa các nớc trong nội bộ khu
vực.
Nh vậy, việc hội nhập vào nền kinh tế các nớc trong khu vực, hình thành các dạng liên
kết kinh tế quốc tế luôn đa lại cho Việt Nam những thuận lợi và những khó khăn, những
lợi ích kinh tế khác nhau. Vì vậy, chúng ta cần tính toán cân nhắc, lựa chọn để đa ra những
quyết định thích hợp trong quá trình hội nhập nhằm đạt đợc hiệu quả kinh tế cao.
000002. Quá trình hình thành và phát triển của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA ).
000002.1. Quá trình hình thành và phát triển.
Ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của hiệp hội các nớc
Đông nam á ASEAN. Sự kiện trọng đại này đánh dấu một thành công to lớn của chính
sách đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam, đánh đấu một bớc phát triển mới trong quá
trình hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế.
Với 7 thành viên và với số dân 430 triệu ngời, diện tích 3,5 triệu km
2
, thu nhập bình
quân đầu ngời là 1680 USD. ASEAN là cửu ngõ của Đông Nam á, là nơi hội tụ các giao lu
kinh tế quốc tế và đang trở thành khu vực phát triển năng động nhất của châu á cũng nh
trên toàn thế giới.
Kể từ ngày 1/1/1993 các nớc ASEAN cùng nhau thoả thuận cùng nhau xây dựng khối
mậu dịch tự do ASEAN- AFTA một thị trờng chung rộng lớn trong long Đông nam á. Đặc
biệt là chơng trình u đãi thuế quan hữu hiệu chung( CEPT ), thực hiện giảm thuế quan và
ASEAN phải có sự thống nhất để đi đến những biện pháp thúc đẩy nhanh chóng buôn bán
nội bộ và tự do hoá quan hệ thơng mại giữa khu vực với các khối liên minh kinh tế khác.
000002.2. Sự ra đời và những mục tiêu chính của AFTA.
AFTA(ASEAN Free Trade Area) là diễn đàn hợp tác kinh tế quan trọng và đáng chú ý
nhất của ASEAN, đợc thành lập tại hội nghị thợng đỉnh ASEAN lần thứ 4 tại Singapore
theo sáng kiến của ThaiLand, Tháng 2 năm 1992. Khu vực mậu dịch tự do AFTA chỉ gồm
có những thành viên của hiệp hội các nớc Đông nam á (ASEAN), 7 thành viên của AFTA
là : Singapore, ThaiLand, Philipine, Malaysia, Indonesia, Brunei, Việt Nam. Khu vực mậu
dịch tự do AFTA lớn hơn khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA ) và liên minh châu
Âu(EU) về số dân và diện tích nhng thấp hơn về thu nhập bình quân đầu ngời từ 10-15 lần.
Khu vực mậu dịch tự do AFTA là nơi thu hút sự chú ý của các liên minh kinh tế thế giới,
các công ty, các tập đoàn đa quốc gia cũng nh cả cộng đồng quốc tế, AFTA sẽ là khối mậu
dịch "hạt nhân" của diễn đàn hợp tác kinh tế châu á thái bình dơng ( APEC), AFTA có một
vị trí quan trọng với những mục tiêu sau đây
- Thực hiện tự do hoá Thơng Mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan và
phi thuế quan trong nội bộ khu vực.
- Thu hút đầu t trực tiếp từ nớc ngoài vào ASEAN bằng cách tạo dựng ASEAN thành một
thị trờng thống nhấtvà hấp dẫn các nhà đầu t quốc tế.
- Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt
là phát triển trong xu thế tự do hoá thơng mại toàn cầu.
Thông qua việc thành lập AFTA các nớc ASEAN muốn tạo ra một thị trờng mà trong đó :
+ Một hàng rào thuế quan đợc xoá bỏ.
+ Thuế suất đánh vào các mặt hàng xuất nhập khẩu chỉ từ 0-5%.
+ Phơng thức để tiến hành giảm thuế là chơng trình CEPT.
Tóm lại, AFTA ra đời đã trở thành một bộ phận hợp thành của xu thế tự do hoá thơng
mại rộng lớn hơn ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dơng và toàn cầu. Do đó, tạo lập AFTA
cho ASEAN cũng chính là tạo lập khu vực mở, một sự thích ứng mới cho sự phát triển của
ASEAN trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hoá. AFTA sẽ làm tăng khối lợng buôn bán
trong nội bộ ASEAN cũng nh giữa các nớc ASEAN với các nớc ngoài khu vực. Theo
nghiên cứu của một nhóm chuyên gia do ASC chỉ định thì AFTA có thể sẽ làm cho tổng
3- Danh mục hàng nông sản cha qua chế biến. Nhạy cảm (UAPS)
4- Danh mục loại trừ hoàn thành ( EL ).
Theo CEPT, tiến trình cắt giảm đợc quy định cụ thể cho các sản phẩm trong từng danh
mục trừ các sản phẩm thuộc danh mục loại trừ hoàn toàn là những sản phẩm không thuộc
diện cắt giảm thuế quan( gồm các sản phẩm có ảnh hởng tới an ninh, quốc phòng và an
toàn xã hội chiếm dới 5% tổng số mã thuế của ASEAN ).
Tiến trình cắt giảm bình thờng của các sản phẩm thuộc danh mục cắt giảm các thuế suất
trên 20% sẽ đợc giảm xuống còn 20% vào 1/1/1998 và tiếp tục giảm xuống 0-5% vào
1/1/2003. Các sản phẩm có thuế suất dới 20% sẽ đợc giảm xuống 0-5% vào 1/1/2000. Đối
với tiến trình nhanh, các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ giảm 0-5% vào 1/1/2000, các
sản phẩm có thuế suất dới 20% sẽ đợc giảm xuống 0-5% vào 1/1/1998. Các sản phẩm
nông sản cha qua chế biến thuộc danh mục cắt giảm ngay sẽ bắt đầu đợc cắt giảm từ
1/1/1996 đến 1/1/2003 sẽ có mức thuế suất 0-5%. Các sản phẩm trong danh mục loại trừ
tạm thời cũng đợc chuyển sang danh mục cắt giảm ( mỗi năm 20% sản phẩm). Để giảm
thuế trong vòng 5 năm từ 1/1/1996 đến 1/1/2000. thời hạn chuyển sang danh mục cắt giảm
đối với các sản phẩm nông sản cha chế biến thuộc danh mục TEL là từ 1/1/1998 đến
1/1/2003 mỗi năm 20%.
Tuy nhiên, mỗi nớc có thể giảm thuế trong những thời gian khác nhau. Nhng thời
điểm hoàn thành thuế là 1/1/2003.
Các sản phẩm nông sản cha qua chế biến thuộc danh mục nhạy cảm sẽ đợc xenm
xét riêng và bắt đầu cắt giảm từ 1/1/2001 hoặc chậm nhất là 1/1/2003 với mức thuế cuối
cùng là 0-5% trừ một số mặt hàng nông sản đợc coi là nhạy cảm cao cha thống nhất đợc
giữa các nớc ASEAN.
Tuy nhiên sau một số năm thực hiện CEPT, các nớc thành viên ASEAN đã đề
xuất ra một lịch trình giảm thuế linh hoạt, nghĩa là các nớc không nhất thiết phải tuân thủ
theo hai kênh đồng tuyến với các quy trình rạch ròi cho các thuế suất cần cắt giảm qua
từng thời kỳ mà có thể tuỳ theo đặc điểm cơ cấu thuế của nớc mình để xây dựng lịch trình
cắt giảm thuế thích hợp, miễn sao giảm nhanh thuế quan xuống còn 0-5% trớc năm 2003,
sớm hơn càng tốt. Hiện nay, Hội đồng AFTA đã chấp nhận đề xuất đó nh một sáng kiến
nhằm đáp ứng các yêu cầu về việc tạo dựng một khu vực tự do hoá thơng mại ASEAN
Xingapo Đã đạt 100% 100%
Thái Lan
Đến 2002 sẽ đạt
94,8%
47,87%
Nguồn : Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á 2/2002.
ã Cơ chế trao đổi nhợng bộ của CEPT
Khi vận dụng CEPT, chúng ta không đợc quên điều kiện bổ sung cho cơ chế
giảm thuế theo CEPT. Đó là các u đãi theo CEPT giữa các quốc gia ASEAN sẽ đợc trao đổi
trên nguyên tắc có đi có lại. Muốn đợc hởng nhợng bộ về thuế quan khi xuất khẩu hàng hoá
trong khối, một sản phẩm cần có các điều kiện sau:
+ Sản phẩm đó phải nằm trong Danh mục giảm thuế của cả nớc xuất khẩu và nớc nhập
khẩu và phải có mức thuế quan nhập khẩu nhỏ hơn hoặc bằng 20%.
+ Sản phẩm đó phải có trong chơng trình giảm thuế quan đợc Hội đồng AFTA thông qua.
+ Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN, tức là phải thoả mãn yêu cầu
hàm lợng suất xứ từ các nớc thành viên ASEAN ít nhất là 40%.
Công thức tính hàm lợng ASEAN nh sau:
Giá trị nguyên vật liệu, Giá trị nguyên vật liệu,
bộ phận các sản phẩm bộ phận, các sản phẩm
là đầu vào nhập khẩu + là đầu vào không xác
từ các nớc không phải định đợc xuất xứ
là thành viên ASEAN
x 100% < 60%
Giá FOB
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận các sản phẩm là đầu vào nhập khẩu từ các nớc không
phải là thành viên ASEAN tính theo gía CIF tại thời điểm nhập khẩu.
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận các sản phẩm là đầu vào không xác định đợc xuất xứ tính
theo giá bắt đầu trớc khi đa vào chế biến trên lãnh thổ của nớc xuất khẩu là thành viên của
ASEAN.
Nếu một sản phẩm có đủ cả ba điều kiện trên sẽ đợc hởng mọi u đãi mà quốc gia nhập
CEPT thì các mặt hàng này sẽ đợc giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5%. Nh vậy, luồng hàng
nhập khẩu đợc mở rộng nhanh chóng, ASEAN ảnh hởng rất lớn thành phẩm của các cơ sở sản
xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các nớc ASEAN .
- Do cơ cấu danh mục hàng hoá tham gia CEPT bao gồm cả nông sản thô và nông sản chế
biến, nếu Việt Nam tăng cờng sản xuất hàng nông sản thì sự cắt giảm thuế sẽ trở thành yếu tố
kích thích cho các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng này để xuất khẩu sang các nớc trong khu
vực và ngoài khu vực.
- Một trong những quy định về sản phẩm đợc hởng quy chế hệ thống u đãi thuế quan phổ
cập (GSP) của Mỹ là “ trị giá nguyên vật liệu cho phép nhập để sản xuất hàng hoá đó phải dới
65% toàn bộ giá trị của sản phẩm đó khi vào lãnh thổ hải quan của Mỹ” và “trị giá một sản
phẩm đợc chế tạo ở hai hoặc trên hai nớc là hội viên của một Hiệp hội kinh tế, Liên minh thuế
quan khu vc mậu dịch tự do thì đợc coi sản phẩm của một nớc”. Vì vậy, việc Việt Nam gia
nhập AFTA tạo điều kiện cho Việt Nam có thể nhập nguyên liệu của các nớc ASEAN khác
để sản xuất mà sản phẩm đó vẫn đợc hởng GSP.
* Thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Tham gia vào AFTA, Việt Nam có điều kiện thu hút đợc nhiều vốn đầu t từ những nớc
thừa vốn và đa dạng có sự dịch chuyển mạnh sang các ngành có hàm lợng kỹ thuật cao, sử
dụng ít nhân công nh: Singapo, Malaysia, Thái Lan. Việt Nam cũng có điều kiện để tiếp thu
công nghệ và đào tạo kỹ thuật cao ở các ngành cần nhiều lao động mà các nớc đó đang cần
chuyển giao, tranh thủ nguồn vốn và những tiến bộ khoa học kỹ thuật của các nớc trong khu
vực để khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất nớc, xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đó cũng là cách “đi tắt, đón đầu” phù hợp
của chúng ta.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tham gia AFTA sẽ tạo sức ép và động lực để các doanh nghiệp Việt Nam đổi mới cơ
cấu tổ chức, cách thức sản xuất, phơng pháp quản lý để nâng cao chất lợng, hạ giá thành sản
phẩm tăng sức cạch tranh nền kinh tế từ đó có cơ hội để phát triển công nghiệp, nông nghiệp,
thơng mại và dịch vụ tạo nên cơ cấu kinh tế thích hợp. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam sang ASEAN hiện nay, tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến mới chỉ đạt 18%, nông
sản thực phẩm 48%, nhiên liệu 34%. Trong đó trọng tâm u đãi của chơng trình CEPT lại là
Việt Nam thờng cao hơn rất nhiều so với giá cả hàng hoá của các nớc khác là thành viên
của ASEAN. Vấn đề trớc mắt là ta phải chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu những
hàng hoá nằm trong danh mục cắt giảm thuế CEPT thì các doanh nghiệp Việt Nam mới có
điều kiện phát triển, có lợi về giá cả khi xuất khẩu sang ASEAN.
- Để hội nhập về kinh tế và mậu dịch với ASEAN, một thách thức không nhỏ đặt ra cho
Việt Nam là xây dựng một chính sách quản lý nhà nớc thích hợp nhằm đảm bảo tự do hoá
thơng mại nhng không làm mất đi chức năng quản lý nhà nớc về thơng mại, xoá bỏ những
thủ tục hành chính rờm rà, quan niêu,không hiệu quả, cần có sự nghiên cứu các hiệp định,
chơng trình hợp tác trong ASEAN tận dụng những cơ hội tốt để có những giải pháp cụ thể
phù hợp với tình hình và chủ trơng phát triển kinh tế trong nớc …
- tham gia afta, Việt Nam sẽ ảnh hởng đến nguồn thu ngân sách nhng thực sự không ảnh
hởng lớn, trong danh mục cắt giảm thuế có tới 57% mặt hàng hiện có mức thuế từ 0-5%,
trong đó hơn một nửa là thuế suất 0%. Điều đó có nghĩa là trên thực tế hầu nh chúng ta đã
hoàn tất việc cắt giảm rồi, số mặt hàng có miền thuế đến 20% chỉ chiếm tỷ trọng 17á21%
Tóm lại, nhìn tổng thể vào sự đóng góp vào ngân sách nhà nớc thì AFTA sẽ tạo nên sự
hẫng hụt trong ngân sách nhà nớc. Việt Nam tham gia AFTA-CEPT chúng ta cần ý thức
rõ những thuận lợi, cơ hội và những khó khăn thách thứcđể đề ra những quyết sách thích
hợp với đờng lối đổi mới của đất nớc, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và khu vực.
CHƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN
LỘ TRÌNH AFTA-CEPT
000004. Quá trình thực hiện cam kết của Việt Nam với AFTA-CEPT .
000004.1. Các hoạt động chuẩn bị để thực hiện CEPT/ AFTA của Việt Nam.
Hiệp định CEPT đợc các nớc thành viên thoả thuận và ký kết từ năm 1992, song việc
thực hiện thực sự chỉ bắt đầu từ tháng 01/01/1994. Nh vậy, các nớc ASEAN có khoảng thời
gian là 2 năm để chuẩn bị tất cả các vấn đề có liên quan.Còn đối với Việt Nam, công việc
nghiên cứu chuẩn bị cho việc gia nhập thực hiện Hiệp định CEPT thực sự đợc bắt đầu từ giữa
năm 1995. Thời gian chuẩn bị nh vậy là rất bị động, nhất là nếu liên hệ với thời gian chúng ta
phải bắt đầu từ việc tổ chức các Bộ ngành có liên quan nghiên cứu, xây dựng các Danh mục
dựng đã đợc Chính phủ thông qua và ban hành kèm Nghị định số 15/1998/ NĐ-CP.
- Đầu năm 1998, Bộ Tài chính công bố 1.717 mặt hàng tham gia CEPT năm 1998, đồng
thời chuẩn bị Danh mục thuế năm 1999, xem xét để giảm bớt một số mặt hàng trong Danh
mục loại trừ tạm thời.
- Năm 2000, Bộ Tài chính đã công bố lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể của Việt
Nam để thực hiện CEPT/AFTA cho giai đoạn năm 2001-2006.
000004.3. Về lịch trình cắt giảm thuế tổng thể.
Phù hợp với quy định của ASEAN, căn cứ vào tình hình đặc thù của Việt Nam, Việt Nam
nhìn chung không áp dụng tiến trình cắt giảm nhanh. Tuy nhiên đối với những sản phẩm
hiện đang có thuế suất trong khoảng từ 0-5% tức là đã thoả mãn mục tiêu của CEPT, ta có
thể xếp vào loại thực hiện tiến trình cắt giảm nhanh.
Trong 2 năm 1996-1997, Việt Nam sẽ không thực hiện cắt giảm mà chỉ đa các sản phẩm
đạt mục tiêu của CEPT ( có thuế suất 5% trở xuống) vào thực hiện hiệp định. Đối với
những sản phẩm có thuế suất cao hơn 5% trong danh mục cắt giảm thuế quan hớng thực
hiện bớc cắt giảm đầu tiên thực tế chỉ bắt đầu từ 1998 để đảm bảo cho nguồn thu và hỗ trợ
một phần cho sản xuất trong nớc.
Trong 2 năm 1996-1997, Việt Nam thực hiện bớc 2 của cải cách thuế, trong đó đối với
chính sách thuế áp dụng cho hàng nhập khẩu, Việt Nam sẽ thực hiện việc phân tích 2 loại
thuế là thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hiện cũng đánh trên hàng nhập khẩu ra
khỏi thuế nhập khẩu hiện nay, trớc khi tiến hành việc cắt giảm thuế nhập khẩu thực sự từ
1998 . Do đó, mức thuế nhập khẩu phải giảm trên phần thuế nhập khẩu còn lại sẽ là thấp
so với mức phải giảm nếu không có sự phân tích hai loại thuế trên.
Có thể nói Việt Nam thực hiện rất ngiêm túc và rất thậm trọng việc giảm thuế quan, để
tránh ảnh hởng tới nguồn thu ngân sách và làm giảm đợc giá hàng nhập khẩu góp phần cải
thiện điều kiện kinh doanh và tiêu dùng trong nớc còn các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đợc
hởng mức thuế u đãi khi xuất khẩu hàng hoá sang các nớc ASEAN.
Các Danh mục hàng hoá thực hiện CEPT của Việt Nam đợc xây dựng tuân theo nguyên tắc
chỉ đạo của Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội và công bố với các nớc ASEAN ngày 10/12/1995 tại
phiên họp lần thứ 8 của Hội đồng AFTA cụ thể nh sau:
Bảng 3: Danh mục hàng hoá trong khuôn khổ CEPT của Việt Nam năm 1995
hàng, hạn ngạch, giấy phép, các tiêu chuẩn kỹ thuật. Những hạn chế về số lợng và hạn
ngạch đợc thể hiện trong quy định của Chính phủ về các mặt hàng xuất nhập khẩu. Trong
đó những mặt hàng cấm xuất nhập khẩu là những mặt hàng để bảo đảm an ninh xã hội, sức
khoẻ con ngời, bảo vệ nguồn tài nguyên quý hiểm và môi trờng. Các mặt hàng có liên đến
cân đối của nền kinh tế quốc dân Chính phủ sẽ quy định khối lợng đợc phép nhập và phân
bổ hạn mức nhập khẩu nh: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng tiêu dùng không đợc vợt
quá 20% giá trị xuất hàng năm. Ngoài ra, Chính phủ cũng đa ra những nhóm hàng thuộc
diện quản lý theo bộ chuyên ngành và những nhóm hàng quản lý bằng hạn ngạch. Cho đến
nay, Việt Nam chỉ áp dụng hạn ngạch đối với 2 nhóm hàng là gạo và dệt may xuất khẩu
vào EU và Canada do đó năm 2001 sẽ là năm tất cả các hàng vào phi thuế quan phải đợc
loại bỏ đối với các sản phẩm trong Danh mục này của Việt Nam.
Vào đầu mỗi năm Việt Nam ban hành một thông t hớng dẫn vào các hạn chế định
hớng sẽ đợc áp dụng. Tuy nhiên, Việt Nam đã sẵn sàng đệ trình một Danh mục chính thức
về các hạn chế định lợng cho ban th ký ASEAN. Các hạn chế định lợng cần đợc loại bỏ
ngay với một số các hàng hoá trong Danh mục giảm thuế ngay của Việt Nam đã đệ trình
cho ASEAN vào năm 1995 để các mặt hàng này đợc hợp pháp hoá hởng các u đãi theo
CEPT.
Còn về các hàng rào phi thuế quan khác, việc thực hiện cam kết bãi bỏ theo CEPT sẽ
rất khó về tính bảo thủ, thiếu lành mạnh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, một bản thảo
Danh sách các hàng rào phi thuế liên quan.Trong đó nhiều nhóm mặt hàng quan trọng với
lịch trình cắt giảm mang tính chất bảo hộ có vẻ đã làm chậm đi tiến trình thực hiện cam
kết xoá bỏ hàng rào phi thuế quan theo CEPT. Các hàng rào về tiêu chuẩn kỹ thuật về
đảm bảo vệ sinh môi trờng và sức khoẻ hiện nay vẫn đang đợc tiếp tục áp dụng cho các
hàng hoá trong Danh mục giảm ngay.
Việt Nam đã cam kết đệ trình sớm danh mục các hạn chế về số lợng(QRS) và các biện
pháp phi thuế quan khác(NTBS) xong do các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam đơn
giản chủ yếu là các biện pháp nh : giấy phép hay hạn ngạch trong khi đó các biện pháp phi
thuế quan mà các nớc ASEAN khác đang áp dụng lại rất đa dạng đặc biệt là các biện pháp
về tổ chức kỹ thuật và chất lợng là những biên pháp phức tạp và tinh vi mà ở Việt Nam
hiện nay cha áp dụng, cho nên để đáp ứng đợc yêu cầu bảo hộ hợp lý sản xuất trong nớc,
các quốc gia cần thống nhất hệ thống tính giá hải quan. Hiện nay có 3 phơng pháp tính giá
hải quan đợc các nớc ASEAN áp dụng: gồm chính sách giá theo giá các giao dịch GATT
(GATT Transactions Value - GTV) ,theo quy định giá Brussels (BDV), theo giá tiêu dùng
trong nớc (HCV).
Các quốc giá ASEAN đã đồng ý thực hiện việc định giá theo GVT vào năm 1997 và
Việt Nam năm 2000.
Trong khi đó, hiện nayViệt Nam đang áp dụng đồng thời phơng pháp tính BDV,
GTV và cả hệ thống giá tham khảo (bảng giá tối thiếu để tính thuế) cho một số nhóm hàng
nhất định hệ thống giá tham khảo là giá tối thiểu sử dụng để tính trị giá thuế. Việc chuyển
sang hệ thống GTV là rất khó khăn đối với Việt Nam vì sự tồn tại các hoạt động gian lận
thơng mại quốc tế. Tuy nhiên, nhận thức đợc tầm quan trọng của việc thống nhất cách tính
giá hải quan, Việt Nam đã xây dựng kế hoạch áp dụng GTV. Hiện nay, Tổng cục Hải quan
cũng đang trong quá trình nghiên cứu và đào tạo các nhân viên của mình về Hiệp định
định giá GATT (GVT)
* Thống nhất thủ tục hải quan
Các quốc gia ASEAN gồm cả Việt Nam đã đồng ý áp dụng mẫu tờ khai hàng hoá
ASEAN chung và bộ thủ tục hải quan chung dựa trên các tập quán quốc tế tốt nhất.
Ở nớc ta do sự thiếu đồng nhất và việc sử dụng bảng giá tham khảo trong định giá hải
quan đã làm cho việc thống nhất các thủ tục hải quan trở nên rất khó khăn. Việt Nam vẫn
cha áp dụng tờ khai hải quan chung ASEAN vì thiếu hệ thống mã số hoàn chỉnh trên toàn
quốc và hệ thống quản lý thiếu hoàn thiện. Do vậy, để áp dụng mẫu này, Việt Nam đã và
đang cải thiện hệ thống đánh mã số, đào tạo cán bộ hải quan và hệ thống mới và cải thiện
hoạt động quản lý.
* Tham gia xây dựng hệ thống luồng xanh hải quan
Việt Nam bắt đầu tham gia hệ thống luồng xanh hải quan vào ngày 01/01/1996 nh
các quốc gia ASEAN khác. Mục tiêu hiện nay của Việt Nam là xem xét và rà soát lại việc
thực hiện để tìm những cách thức cải thiện hệ thống. Theo nguồn tin Chính phủ, trong năm
1996 chỉ có 100 giấy chứng nhận xuất xứ đợc ban hành để tham gia hệ thống này. Nguyên
nhân chủ yếu là do khoản lợi chênh lệch giữa thuế suất thông thờng và thuế suất CEPT rất
nhỏ (ở Việt Nam hiện nay hai thuế suất này hầu nh bằng nhau), không đủ để khuyến khích
nghèo, thúc đẩy quá trình chuyển sang kinh tế thi trờng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù
hợp với biến đổi của thị trờng thế giới.
Bảng: Kim ngạch xuất khẩu qua các năm.
Năm Xuất khẩu ( triệu USD) Tốc độ tăng (%)
1991 2087,1 -13,2
1992 2580,7 23,7
1993 2985,2 15,7
1994 4054,3 35,8
1995 5448,9 34,4
1996 7255,9 33,2
1997 9185,0 26,6
1998 9360,3 1,9
1999 11541,4 23,3
2000 14482,7 25,5
2001 15027,0 3,8
2002 16705,8 11,2
2003 19880,0 19,0
Nguồn : Số liệu bộ Thơng Mại
Bảng: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu theo nhóm hàng(%).
Năm 1995 2000 2001 2002 2003
Hàng công nghiệp và khoáng sản 25,3 37,2 34,9 31,2 30,9
Hàng công nghiệp và tiểu thủ CN 28,5 33,9 35,7 38,3 40,0
Hàng nông, lâm sản 34,8 18,8 17,3 18,4 17,9
Hàng thuỷ sản 11,4 10,2 12,1 12,1 11,2
000005.2. Tình hình xuất khẩu theo mặt hàng.
- Giai đoạn trớc 1989 : Việt Nam cha có dầu thô và gạo để xuất khẩu nên tổng kim ngạch
xuất khẩu cả nớc cha bao giờ vợt quá 1 tỷ USD. Trong cơ cấu xuất khẩu chung hàng nông-
lâm-hải sản có xu hớng giảm dần, hàng công nghiệp nặng và khoáng sản có xu hớng tăng
dần, hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp không thay đôi. Bắt đầu từ năm 1989,
kim ngạch xuất khẩu của ta đạt trên 1 tỷ USD do các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã
997
1
998
1
999
2
000
2
001
2
002
2
003
Dầu
thô(nghìn tấn)
8
750,0
9
638,0
1
2145,0
1
4881,
9
1
5423,
5
1
6731,
6
78,0
1
031,.0
1
387,1
1
471,7
1
578,4
18
67,0
2
225,0
Thuỷ
sản(triệu
USD)
6
97,0
7
82,0
8
58,0
9
73,6
1
478,5
1
816,4
2
023,0
7
33,9
9
31,0
7
19,0
7
00,0
Điện tử
máy tính
(triệu USD)
5
85
7
88,6
6
95,6
5
05,0
6
86,0
Thời báo kinh tế Việt Nam 2003-2004
Bảng: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu theo nhóm hàng(%)
Mặt hàng chủ lực 2000 2001 2002 2003
Dầu thô 24,2 20,8 19,6 19,0
Dệt may 13,1 13,1 16,5 18,3
Giày dép 10,2 10,6 11,2 11,2
Thuỷ sản 10,2 12,1 12,1 11,2
Gạo 4,6 4,1 4,3 3,6
Điện tử, máy tính 5,4 4,7 2,9 3,5
ngạch xuất khẩu cả nớc hơn hẳn con số 3,1% năm 1995. Triển vọng ở thị trờng này rất lớn
nhất là khi Việt Nam đã ký hiệp định Thơng Mại với Mỹ và đợc hởng quy chế quan hệ
Thơng Mại bình thờng. Xuất khẩu sang thị trờng châu Đại Dơng cũng đợc tăng lên khá
nhanh, tỷ trọng của thị trờng này từ chỗ chỉ chiếm 0,2% năm 1991 lêm 8,89% năm 2000.
Bảng:Những bạn hàng lớn của Việt Nam 10 tháng năm 2003.
Tên nớc và vùng
lãnh thổ
Xuất khẩu Nhập khẩu
Xuất siêu(+)
nhập siêu(-)
Mỹ 3401,5 1030,0 +2371,5
Nhật 2354,3 2495,0 -140,7
CHND Trung
Hoa
1331,5 2496,1 -1164,6
Australia 1159,5 221,9 +937,6
Singapore 860,1 2335,2 -1475,1
Đức 674,9 479,7 +195,2
Đài Loan 607,6 2317,5 -1709,9
Anh 604,9 177,9 +427,0
Indonesia 413,7 459,9 -46,2
Hà lan 398,7 302,6 +96,1
Nguồn số liệu bộ Thơng Mại-Thời báo kinh tế Việt Nam .
000005.4. Những tác động khi tham gia AFTA tới xuất khẩu của Việt Nam
Cũng giống nh các nớc thành viên khác, AFTA sẽ mở ra nhiều cơ hội mới, nhng đồng
thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế Việt
Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi từ kinh tế tập chung quan niêu bao cấp kém hiệu quả
sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN, hầu hết các ngành công nghiệp còn non
yếu xuất khẩu chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô và thuế nhập khẩu còn là một nguồn thu
quan trọng của ngân sách. Việt Nam bắt đầu tham gia AFTA từ 1/1/1996 bằng việc đa ra
Do quy mô sản xuất còn nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấ,a công tác quản
lý kém hiệu quả.
- Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng dầu thô, nông lâm
hải sản cha qua chế biến hoặc mới sơ chế, dệt may, giầy dép và các sản phẩm hàng thủ
công mỹ nghệ, một số khoáng sản thô…Những mặt hàng này cũng tơng tự nh những mặt
hàng xuất khẩu của ASEAN nên ta không có nhiều lợi thế khi xuất khẩu những mặt hàng
này trong điều kiện hội nhập AFTA- CEPT
- CEPT dành u đãi chủ yếu cho hàng chế biến trong khi đó tỷ trọng hàng chế biến trong
xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 18% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong những mặt
hàng Việt Nam có khả năng xuất khẩu thì nhiều mặt hàng cha đợc các nớc ASEAN khác
đa vào danh mục cắt giảm thuế quan tuy có một số mặt hàng nông sản mới đợc bổ xung
vào thực hiện CEPT. Xong tỷ trọng của nó trong xuất khẩu của Việt Nam lại rất nhỏ.
- 2/3 doanh số buôn bán của Việt Nam của ASEAN là với Singapore. Trong khi đó thuế
suất nhập khẩu của nớc này gần nh bằng 0 trớc khi thực hiện AFTA và rất nhiều mặt hàng
xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore đợc tái xuất đi các nớc phát triển khác.
- Các bạn hàng khác nh Inđônêsia, ThaiLand, Philipine hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ
yếu là nông sản cha chế biến. Những nớc này cũng xuất khẩu hàng nông sản rất mạnh và
nhiều mặt hàng nông sản cha chế biến đợc các nớc này xếp trong danh mục hàng nông sản
nhạy cảm để cha phải thực hiện cắt giảm thuế, nh vậy Việt Nam cha đợc hởng nhiều u đãi
lắm khi tham gia vào AFTA.
000006. Đánh giá chung về tình hình xuất khẩu của Việt Nam từ khi tham gia
AFTA-CEPT đến nay.
000006.1. Những kết quả đạt đợc.
Nhìn chung, tình hình xuất khẩu của Việt Nam từ khi tham gia AFTA-CEPT đến
nay đã đạt đợc những thành tựu đáng kể, đến nay sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của Việt
Nam đã có mặt trên thị trờng của hơn 150 nớc thuộc khắp các châu lục. Trong những năm
qua Việt Nam đã ký thêm đợc 60 hiệp định Thơng Mại với các nớc, năm 2000 kim ngạch
xuất khẩu tăng gấp 6 lần so với năm 1990 và đến năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt gần
20 tỷ USD. Giai đoạn 1991-2000 kim ngạch xuất khẩu tính trên đầu ngời năm 2000 đạt
180USD/Ngời/năm là mức của một quốc gia có ngoại thơng tơng đối phát triển, năm 2003