Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
LỜI MỞ DẦU
Trong lịch sử, tư tưởng Nhà nước “lấy dân làm gốc” đã sớm xuất hiện ở
những nhà lãnh đạo, những nhà chính trị lớn. Nhưng đến Hồ Chí Minh, tư tưởng về
Nhà nước của dân, do dân và vì dân được phát triển sâu sắc, phong phú về nội dung,
với chất lượng mới, trở thành một quan điểm khoa học, nhân đạo về bản chất nhà
nước mới - Nhà nước của dân, do dân, vì dân .
Nếu như nước “ lấy dân làm gốc ” là tư tưởng chính trị truyền thống thì đến
Hồ Chí Minh, tư tưởng ấy được diễn đạt trong một mệnh đề chủ động hết sức giản
dị, tự nhiên: "Dân là gốc nước" đúng như mấy câu thơ của Người:
“Gốc có vững thì cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”
Hơn ai hết, người đã sống trong cảnh nước mất nhà tan, từng chứng kiến cảnh
nhân dân ta bị áp bức, bóc lột nặng nề dưới chế độ hà khắc, bất chấp luật pháp của
bọn thực dân Pháp và phong kiến Nam triều. Người quyết chí ra đi tìm đường cứu
nước, không sợ hy sinh, không ngại khó khăn, gian khổ với mục đích cao nhất là
giải phóng đồng bào. Khi bôn ba nơi hải ngoại, nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm
của các nước phương Tây, ý tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền đã xuất hiện ở
Hồ Chí Minh.
Sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn, khoa học, cách mạng và nhân
văn, Người đã tổ chức và lãnh đạo toàn dân đứng lên xóa bỏ chính quyền bóc lột
của thực dân - phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là quan điểm tư tưởng
nhất quán của chủ tịch hồ chí minh là kim chỉ nam định hướng cho toàn bộ quá
trình tổ chức, xây dựng và hoạt động của nhà nước ta. Tư tưởng hồ chí minh về xây
dựng nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân là bước phát triển mới và sự
vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mac - Lênin kết hợp chủ nghĩa yêu nước , truyền
thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây.
CBHDKH : TH.S
mới: “… phát ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,… ra sức tổ chức
kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng” đã gợi ý cho Người về một
kiểu nhà nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai mà Người đã nêu ra
trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930.
- Từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà
nước đại biểu cho khối đại đoàn kết của toàn thể quốc dân là một bước chuyển sáng
suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh được nét đặc thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp với
sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.
2. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
Chỉ một ngày sau khi giành được chính quyền ở Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nhắc
lại ý kiến của Lênin với các học trò của mình, rằng : “giành chính quyền đã khó, giữ
chính quyền còn khó hơn”.
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 2
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
Người tiên tri, tiên lượng cái khó của chính quyền mới trên nhiều phương diện.
Đó là thù trong giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt. Dưới chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế
độ thực dân không kém phần chuyên chế, người dân bị đầu độc nhiều thói xấu như
lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác; nước ta không có Hiến pháp,
nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Đặc biệt là những khó khăn của
đội ngũ cán bộ, công chức do hạn chế về tài năng, sự hiểu biết và điều hành, quản lý
một xã hội mới - xã hội do dân làm chủ.
Khi trình bày những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Sau tám mươi năm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính
sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật
hành chính. Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại. Chúng ta vừa làm vừa
học. Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta
có can đảm sữa chữa khuyết điểm”.
Trang 3
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
A. Nước ta bị Tây áp bức hơn 80 năm và bốn, năm năm bị Nhật áp bức.
Dân ta đói rét, khổ sở, không thể nói xiết. Ngày nay nhớ lại, còn rất đau lòng.
Nhờ dân ta đoàn kết một lòng và Chính phủ lãnh đạo khôn khéo, mà chúng ta bẻ
gẫy xiềng xích nô lệ, tranh được độc lập tự do.
Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính
phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn
kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc
lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.
B. Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh
phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không
thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải
theo đúng phương châm.
Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các
làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không
phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.
C. Tôi vẫn biết trong các bạn có nhiều người làm theo đúng chương trình của
Chính phủ, và rất được lòng nhân dân. Song cũng có nhiều người phạm những lầm
lỗi rất nặng nề. Những lầm lỗi chính là:
1. Trái phép - Những kẻ Việt gian phản quốc, chứng cớ rõ ràng thì phải
trừng trị đã đành, không ai trách được. Nhưng cũng có lúc vì tư thù tư oán mà bắt
bớ và tịch thu làm cho dân oán thán
2. Cậy thế - Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng
túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân
“Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4”
Với chủ đề : “Quyền làm chủ của Nhân dân”. Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể
nhân dân chung tay xây dựng một nhà nước pháp quyền, trong sạch, vững mạnh,
phấn đấu vì mục tiêu : “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.
Nhân dân là người chủ của đất nước. Nhân dân lập ra bộ máy nhà nước thay
mặt mình xây dựng pháp luật và quản lý đất nước thực hiện quyền làm chủ và bảo
vệ lợi ích của nhân dân. Do vậy, Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, của dân, do
dân và vì dân.
« Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. »
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 5
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
PHẦN 2 : NỘI DUNG
1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN QUA THƯ BÁC HỒ GỬI CHO
UBND CÁC KỲ, TỈNH, HUYỆN VÀ LÀNG NGÀY 17/10/1945.
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà Nước Pháp Quyền :
1.1.1. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử:
- Thời cổ đại Hy lạp đã xác lập thiết chế nhà nước dân chủ nhân dân
mang tính pháp quyền. Tổ chức bộ máy nhà nước lúc bấy giờ gồm: Đại hội nhân
dân; Hội dồng bốn trăm (Ở Aten lúc bấy giờ tồn tại bốn bộ tộc, mỗi bộ tộc củ 100
đại biểu vào Hội đồng) và Toà án nhân dân do dân bầu ra theo nguyên tắc nhiều
đẳng cấp.
- Praton (Năm 427-374 TCN) coi hoạt động xét xử là để bảo vệ pháp luật và cho
rằng nhà nước sẽ ngừng hoạt động nếu Toà án không được tổ chức một cách thoả
Trang 6
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
- Ngoài ra còn nhiều nhà tư tưởng nhà nước pháp quyền khác như:
Roussou (1712 -1778), Kant (1724 -1804), Heeghen (1770-1831) và tiếp đó là nhà
tư tưởng nhà nước pháp quyền vĩ đại Mác, Awnghen.
- Tại hội nghị quốc tế họp tại Benin (9/1991) với sự tham gia của 40
quốc gia đã đưa ra một quan niệm chung về nhà nước pháp quyền như sau:
“Nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó nhà nước và cá
nhân phải tuân thủ pháp luật, mọi quyền và nghĩa vụ của tất cả, của mỗi người được
pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các quy trình và quy phạm pháp luật được bảo đảm
thực hiện bằng một hệ thống toà án độc lập. Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn
trọng giá trị nhất của con người và đảm bảo cho công dân có khả năng, điều kiện,
chống lại sự tuỳ tiện của cơ quan nhà nước bằng việc lập ra cơ chế kiểm tra tính hợp
hiến và hợp pháp của pháp luật cũng như các hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhà
nước pháp quyền phải đảm bảo cho công dân không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài
Hiến pháp, và pháp luật đã quy định. Trong hệ thống pháp luật thì Hiến pháp giữ vị
trí tối cao và nó phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo quyền tự do và quyền công
dân”
1.1.2. Nhà nước pháp quyền trong tư tưởng Hồ Chí Minh :
• Nhà nước pháp quyền là gì ?
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp được hiểu
và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có thể hiểu nhà nước pháp
quyền theo cách đơn giản, đó là một nhà nước quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp
luật và nhà nước hoạt động tuân theo pháp luật.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước phục tùng pháp luật mà chủ thể phục tùng
pháp luật trước hết là các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước.
Xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền, yêu cầu mọi người sống và làm
việc tuân thủ pháp luật là nội dung chủ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước.
Người nói: “ Pháp lụât của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do,
các vị đại diện của dân, do dân cử ra, chỉ là thừa uỷ quyền của dân, chỉ là "công bộc"
của dân theo ý nghĩa đúng đắn của từ này.
Nhưng có những "vị đại diện" đã lầm lẫn sự uỷ quyền đó với quyền lực cá
nhân, sinh ra lộng quyền, cửa quyền… Chính cơn khát quyền lực ấy đã sinh ra biết
bao chuyện đau lòng mà Bác Hồ từng phê phán: "Cậy thế mình ở trong ban này ban
nọ, rồi ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ
đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế
với dân".
Với một nhãn quan văn hóa chính trị sáng suốt, Hồ Chí Minh thấu suốt sự
nghiệp kiến thiết cần phải có nhân tài. Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi
của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công
cuộc xây dựng nước nhà. Chính phủ mới cần phải có những người có đức có tài để
quản lý đất nước. Chế độ dân chủ cộng hòa phải khác hẳn về chất so với chế độ vua
quan, thực dân đế quốc. Một trong những cái khác căn bản là quyền làm chủ, quyền
dân chủ và quyền bầu cử của nhân dân để nhân dân lựa chọn ra những người thật sự
có đức có tài để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Một ngày trước khi tổ chức
Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
Hồ Chí Minh có lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Người nói: “Ngày mai, là một
ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ… Ngày mai là một ngày đầu tiên
trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của
mình… Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay
mặt cho mình, và gánh vác việc nước Ngày mai, mỗi người nên vui vẻ hưởng
quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.
Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5-
1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng
mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu.
Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.
Sau khi nước nhà được độc lập, nỗi quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là dân
được hưởng tự do, hạnh phúc. Hạt nhân trong di sản của Người là chữ “DÂN”: “Đối
với dân, ta đừng làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”. Dân muốn có
Để khắc phục những khó khăn và hạn chế đó, Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu
việc củng cố sự đoàn kết toàn dân, mà một trong những biện pháp quan trọng hàng
đầu vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài là chính sách dùng người, “đem
những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc”, tìm người
tài đức, chiêu hiền đãi sĩ, cầu người hiền tài. Theo Người, “việc dùng nhân tài, ta
không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền
lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ
quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai
có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy”.
1.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước vì dân :
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ
chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới có thể là nhà nước vì dân được. Đó là
nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi,
thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Trong nhà nước đó, cán bộ từ Chủ tịch trở
xuống đều là công bộc của dân. Vì vậy:
"Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 9
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh"…
Nhiều nhà nước của giai cấp thống trị khi còn ở giai đoạn tích cực và tiến bộ
cũng chủ trương thân dân, thậm chí cũng tuyên bố là nhà nước "vì dân", nhưng đó
chỉ là một thiện chí hay một chiêu bài, bởi vì cái cơ bản là nếu chính quyền đó
không của nhân dân và không do nhân dân làm chủ mà do các ông quan làm chủ thì
không bao giờ nó có thể vì dân được. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Chế độ ta là chế
độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các
cán bộ từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và
ngành nào đều phải là đầy tớ trung thành của nhân dân".
thần dân chủ mới, khoa học, rất cấp tiến nên không thể “đè đầu bóp cổ”, hay dùng
những thủ đoạn không chính đáng như làm tiền bằng cách bán ngôi thứ. Người viết:
“Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ tức là gây cho dân chúng có óc hiếu danh, trong
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 10
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
khi cần phải trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết thực, góp sức vào công
cuộc giữ gìn và xây dựng đất nước… Bán ngôi thứ làm cho óc người ta đen tối
thêm! Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa Cách làm tiền đó có hại cho
sự tiến hóa của dân, cần phải bỏ ngay đi, cũng như cần phải phủi đi hết những hủ tục
khác như làm rượu ăn mừng được bầu vào Ủy ban”
Cùng với việc phê phán việc mua chức bán quyền, đồng thời Hồ Chí Minh
cũng chỉ ra những lỗi lầm khác rất nặng nề như “cậy mình ở trong ban này ban nọ,
rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến
dân. Quên rằng dân bầu ra mình là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế
với dân Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng
dùng xe hơi của công. Thử hỏi những phao phí đó ai phải chịu?”.
2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN CÓ HIỆU LỰC PHÁP LÝ MẠNH MẼ.
2.1. Xây dựng một Nhà nước hợp pháp, hợp hiến.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ,
trước hết phải là một nhà nước hợp pháp , hợp hiến.
Sau khi giành được chính quyền trong cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay
mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng
bào và với thế giới về sự khai sinh của Nhà nước Việt Nam mới, qua đó biểu dương
lực lượng và ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm giũ vững nền tự do, độc
lập của mình.
Ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
nền pháp lý ở Đông Dương, phải bãi bỏ chế độ cai trị bằng các sắc lệnh và thay thế
bằng các đạo luật. Trong Việt Nam yêu cầu ca, Người khẳng định vai trò của pháp
luật bằng câu:
"Trăm điều phải có thần linh pháp quyền".
Là người sáng lập Nhà nước dân chủ mới Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp. Ở cương vị
Chủ tịch nước, Người đã hai lần đứng đầu Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp 1946 và
Hiến pháp 1959, đã ký Lệnh công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh và nhiều văn bản
dưới luật khác…
Một mặt, chăm lo hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật của nước ta, mặt
khác, Người hết sức chăm lo đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo ra cơ chế bảo đảm
cho pháp luật được thi hành, cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành đó trong các cơ
quan nhà nước và trong nhân dân.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: lúc dân biết và dám phê bình người
lãnh đạo, lúc đó dân đã biết nắm quyền của dân, tức là đã đến mức dân chủ hoá khá
cao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nêu gương trong việc khuyến khích nhân dân
phê bình, giám sát công việc của Chính phủ, đồng thời không ngừng nhắc nhở cán
bộ các cấp, các ngành phải gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, trước hết là các
cán bộ thuộc ngành hành pháp và tư pháp.
Để tiến tới một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thấy rõ phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ
cán bộ, viên chức có trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành
chính và nhất là phải có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một tiêu chuẩn
cơ bản của người cầm cân nảy mực cho công lý.
2.3. Tích cực Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước có
đủ đức, đủ tài.
Để tiến tới một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh mẽ, Bác Hồ cho rằng,
phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ viên chức nhà
nước có trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và
người “cung cúc tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc
dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành
độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho
dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”. Người nhấn mạnh “những khuyết điểm trên,
nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động”. Vì
vậy, “chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng
ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi. Chúng ta phải lấy lòng chí công vô tư”. Hồ
Chí Minh nghĩ tới những kế sách xây dựng một nhà nước thật sự trong sạch, vững
mạnh, được lòng dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà chính trị lão luyện và sáng suốt đã thâu hái
được những kinh nghiệm lịch sử quý báu trong văn hoá trị nước của loài người và đã
vận dụng nó một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo. Trong suốt 24 năm ở cương vị đứng
đầu Nhà nước, Bác Hồ là một sự mẫu mực của sự kết hợp đạo đức và pháp luật,
Người luôn luôn chú trọng giáo dục đạo đức nhưng cũng không ngừng nâng cao vai
trò, sức mạnh của luật pháp.
Trước hết, chính trị Hồ Chí Minh là một nền chính trị đạo đức; và đạo đức cao
nhất, theo Người là: "Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu
tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc".
Suốt đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh gương mẫu chấp hành kỷ cương, phép
nước, đồng thời cũng suốt đời kiên trì giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên, nhất
là những người có chức có quyền.
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 13
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
Bác Hồ rất đề cao phép nước, "nhân trị" đi đôi với "pháp trị". Người hết lòng
thương yêu, dạy bảo cán bộ. Những kẻ nào lạm dụng tình thương của Người, làm hại
đến tính mệnh và tài sản của nhân dân, làm mất thanh danh, uy tín của Đảng và Nhà
nước, thì dù họ có là cách mạng kỳ cựu, là bộ trưởng, thứ trưởng, là gì đi nữa, vẫn
cũng được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước.
4.1. Về bản chất giai cấp công nhân của nhà nước.
Nhà nước là thành tố cơ bản nhất của hệ thống chính trị. Nó luôn mang bản
chất giai cấp.
Khi nói nhà nước dân chủ mới của nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân,
không có nghĩa đó là nhà nước phi giai cấp hay siêu giai cấp. Bản chất giai cấp công
nhân của nhà nước ta được biểu hiện trước hết ở chỗ:
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 14
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
Do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Cách mạng Việt Nam từ sau 1930
đến nay là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, dù còn hoạt động bí mật hau đã ra
công khai, dù chưa có chính quyền hay sau khi đã giành được chính quyền, lúc nào
Đảng ta cũng giữ vai trò lãnh đạo của mình đối với cách mạng Việt Nam, trong đó
có Nhà nước.
Đảng lãnh đạo Nhà nước theo phương thức nào? Đảng lãnh đạo bằng những
chủ trương, đường lối lớn, thông qua tổ chức của mình trong Quốc hội, Chính phủ
và các ngành, các cấp của Nhà nước. Đảng phấn đấu để thể chế hoá quan điểm,
đường lối, nghị quyết của mình, biến nó thành pháp luật, chính sách, kế hoạch của
Nhà nước. Đảng không bao biện, làm thay công việc của Nhà nước.
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta còn thể hiện ở tính định hướng
đưa đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội "bằng cách phát triển và cải tạo nền
kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa họcvà kỹ thuật tiên
tiến".
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta còn được thể hiện ở nguyên tắc tổ
chức cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
"Nhà nước ta phát huy dân chủ cao độ… Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới
trí, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước do Hồ Chí Minh đứng đầu đã hoàn thành
được sứ mệnh vẻ vang là lãnh đạo cả dân tộc tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng
chiến vĩ đại trong lịch sử, bảo vệ được độc lập, thống nhất Tổ quốc và bắt tay vào
xây dựng đất nước theo còn đường của chủ nghĩa xã hội.
5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN,
CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH:
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Trong Nhà nước đó, dân chủ đi đôi với kỷ cương trật tự,
được thể chế hoá thành pháp luật, trong khuôn khổ của pháp luật. Nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân và vì dân biểu hiện trực tiếp sức mạnh của hệ thống
chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đó là một nhà nước đại diện cho
quyền lực chân chính của nhân dân; một tổ chức nhà nước dựa trên nền dân chủ, vì
dân chủ và do đó bằng pháp luật và vì công lý. Để làm được những điều đó cần phải
giải quyết tốt một số nội dung chủ yếu sau đây:
5.1. Đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân.
Để đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân, nhất thiết phải
giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y
tế… tất cả các yếu tố đó phải tiến hành đồng thời, nhưng phải ưu tiên cho những vấn
đề kinh tế, chăm lo tốt hơn đến cuộc sống hạnh phúc và mọi nhu cầu phong phú, đa
dạng của con người. Tất cả những điều đó phải dựa trên cơ sở của sự phát triển kinh
tế, nhất là khi đất nước còn nghèo như hiện nay. Bởi vậy, nếu thoát ly sự tăng trưởng
kinh tế, đặt ra những yêu cầu quá cao đối với các lĩnh vực văn hoá – xã hội là không
thực tế. Nhưng cũng sẽ là sai lầm, nếu chỉ coi trọng phát triển kinh tế, lợi ích về văn
hoá – xã hội của nhân dân. Thực tiễn những năm qua cho thấy nếu không chú trọng
xây dựng và phát triển giáo dục, văn hoá, y tế, phúc lợi công cộng, để cho những
mặt này yếu kém và xuống cấp thì chẳng những ảnh hưởng xấu tới việc chăm lo bồi
dưỡng, phát huy nhân tố con người, mà còn kìm hãm nguồn lực thúc đẩy kinh tế
phát triển.
Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử cho nên nhân dân là nguồn gốc của quyền
lực. Trong xã hộI XHCN, quyền lực Nhà nước được bắt nguồn từ nhân dân, của
Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao
nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do
dân cử ra.” Muốn đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân, phải
chiến thắng được nghèo nàn và lạc hậu, phát triển kinh tế, văn hoá, cải thiện đời
sống nhân dân, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ làm cho dân giàu,
nước mạnh và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
5.2. Giải quyết mối quan hệ công dân – Nhà nước là mối quan hệ chính trị
cơ bản để xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Cơ sở để giải quyết mối quan hệ công dân – Nhà nước trong Nhà nước pháp
quyền XHCN là vấn đề quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người được pháp luật ghi
nhận và bảo vệ. Trong đó Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao
nhất là con người; Nhà nước đề ra pháp luật, đồng thời phải tuân thủ pháp luật và
bảo đảm cho công dân được chống lại chính sự tuỳ tiện của Nhà nước. Điều đó có
nghĩa là “Nhà nước phải tạo ra cho công dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi
hỏi cái ngoài hoặc trên những điều kiện quy định trong Hiến pháp và pháp luật”. Mặt
khác, con người là mục tiêu và giá trị cao nhất. Do đó, Nhà nước phải đảm bảo cho
công dân sự an toàn pháp lý, được hưởng các quyền và tự do cơ bản đó vi phạm, kể
cả từ phía các cơ quan Nhà nước và những người có chức vụ. Chính vì vậy, một mặt
Nhà nước đề ra pháp luật; mặt khác, chính Nhà nước, các cơ quan Nhà nước, những
người có chức vụ đều có nghĩa vụ bắt buộc phải tuân thủ triệt để pháp luật, không có
một tổ chức Nhà nước hoặc công chức nào được đặt mình đứng ngoài pháp luật,
đứng trên pháp luật. Mọi người và mọi tổ chức hợp pháp đều bình đẳng trước pháp
luật. Cùng với nguyên tắc này, Nhà nước ta tiến tới thực hiện nguyên tắc không cấm,
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 17
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
tất nhiên phải trong khuôn khổ của nền đạo đức XHCN và tôn trọng lợi ích của xã
hội và của người khác. Nguyên tắc này bảo đảm một mặt chống lại biểu hiện lộng
đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân. Là người đầy tớ, cán
bộ phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, lo trước thiên hạ,
vui sau thiên hạ… Là người lãnh đạo thì phảI có trí tuệ hơn người, minh mẫn, sáng
suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi và trọng dụng những người hiền tài, đức độ. Bởi
vậy, người thay mặt và người đại diện cho dân phải là người có đức, có tài, phải vừa
“hiền” lại vừa “minh”.
5.3. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và
vì dân phải dựa trên truyền thống, đặc điểm dân tộc, nhất là truyền thống
chính trị của đất nước.
Ngay từ khi Nhà nước Văn Lang được hình thành và qua hầu hết các triều đại
phong kiến trước đây, trong không ít trường hợp chính quyền Nhà nước đã đóng vai
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 18
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
trò tổ chức toàn thể dân tộc chống giặc ngoại xâm. Khi đó, Nhà nước đại diện cho
quyền lợi cơ bản sống còn của cả dân tộc là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia. Trong quan hệ với phong kiến Trung Hoa trước đây, Nhà nước Đại Việt về
hình thức thì mềm dẻo, khôn khéo, nhưng mục tiêu bảo vệ độc lập tự chủ của quốc
gia thì hết sức kiên định.
Trong hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc tổ chức bộ máy Nhà nước và chế độ quan chức
của các triều đại nước ta tuy chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo, nhưng
chúng vẫn được cải biên cho phù hợp với đặc điểm chính trị - xã hội Việt Nam và
chịu ảnh hưởng của văn hoá bản địa từng tồn tại trước nó và cùng với nó. Suốt cả 10
thế kỷ ấy, ông cha ta đã đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hoá, giành độc lập
dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; đồng thời cũng biết tiếp thu có chọn lọc
những thành tựu chính trị - văn hoá của phong kiến phương Bắc để xây dựng Nhà
nước độc lập tự chủ theo hình thức Nhà nước Trung ương tập quyền. Sự tiếp thu đó
là một tất yếu lịch sử.
SVTH : NHÓM 1
Trang 19
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
Tư tưởng về xây dựng quyền lực Nhà nước trong quan hệ xã hội của các công
dân thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa quyền lực với pháp luật. Trong đó pháp
luật là cơ sở để duy trì quyền lực Nhà nước, bản thân Nhà nước vừa là công cụ tổ
chức của giai cấp, lại vừa là hình thức thực hiện quyền lực công khai. Vì vậy, Nhà
nước chỉ có thể biểu hiện ý chí phổ biến và quyền lực công khai của mình đối với xã
hội, với mọi công dân thông qua pháp luật. Xây dựng quyền lực Nhà nước trong
quan hệ xã hội của các công dân là xây dựng một hệ thống pháp luật trên nền dân
chủ thực sự, xuất phát từ nhân dân và vì nhân dân. Pháp luật phải định hướng mọi
công dân và tổ chức xã hội vươn tới cái chân, thiện, mỹ, vươn tới tự do đích thực
của con người. Để đạt được mục đích đó, pháp luật phải khách quan, công bằng,
bình đẳng và dân chủ, lấy quyền con người, giải phóng con người làm trung tâm để
xây dựng quyền lực Nhà nước. Quyền lực Nhà nước phải thuộc về nhân dân, phải
thể hiện ý chí của nhân dân, là sự phản ánh khách quan các nhu cầu xã hội, thúc đẩy
tiến bộ xã hội. Mặt khác, khi đặt ra các thiết chế của mình trong khuôn khổ pháp
luật, hoặc thiết lập cơ chế để kiểm tra tính hợp pháp, hợp hiến của các đạo luật, các
cơ quan quyền lực Nhà nước cũng phải làm sao cho hệ thống pháp luật được xây
dựng trên sự tự do và các quyền công dân được bảo đảm. Pháp luật XHCN thể hiện
ý chí chung của xã hội, được bảo đảm bằng sức mạnh cộng đồng. Nhà nước tôn
trọng pháp luật như một giá trị xã hội chung; đồng thời quyền lực Nhà nước là cơ sở,
là tiến đề quan trọng nhất để bảo đảm cho pháp luật có được bản chất pháp lý của
nó. Hệ thống pháp luật của Nhà nước luôn là chỗ dựa cho việc tổ chức và hoạt động
của quyền lực làm giá đỡ cho việc xác định các mục tiêu của quyền lực Nhà nước là
vì con người, vì xã hội của các công dân. Vì vậy, mọi thiết chế quyền lực Nhà nước
phảI thực sự bảo đảm tính công bằng, bình đẳng và dân chủ của xã hội công dân.
Bảo đảm trên nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
Xây dựng quyền lực Nhà nước trong quan hệ với xã hội của các công dân là để
chọn một giải pháp hợp lý nhất thì không thể tạo được sự thống nhất thật sự. Nhưng
không có tập trung để chuyển sự thống nhất từ quan niệm, nhận thức sang hành
động, thì không bao giờ dân chủ trở thành một giá trị hiện thực, một kết quả thực tế
được “vật chất hoá” mà con người có thể kiểm nghiệm, cảm nhận được một cách
trực tiếp như cơm ăn, nước uống hàng ngày.
Tập trung dân chủ trong Nhà nước pháp quyền XHCN là sự cần thiết hợp lý để
cho dân chủ tránh được những thói xấu tệ hại của thứ dân chủ bất chấp pháp luật, kỷ
cương, vượt quá hành động pháp lý để rơi vào tự do, hỗn loạn, phá phách, vô chính
phủ. Nó bảo đảm cho các cơ quan quyền lực không thể trở nên nhu nhược, bất lực
mà có thực quyền. Nó kết hợp tính tôn trọng dân chủ, tôn trọng các quyết định của
tập trung với tinh thần trách nhiệm của các tổ chức và các cá nhân có quyền lực.
Điểm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý Nhà nước theo
tinh thần của Nhà nước pháp quyền là đề cao tinh thần tôn trọng pháp luật, hoạt
động hợp hiến, hợp pháp, thực hiện sự bình đẳng của mọi tổ chức và cá nhân trước
pháp luật, xác lập rành mạch quy chế, chức trách, bổn phận công chức trước Nhà
nước và xã hội. Đó là cơ sở để khẳng định rằng: “sự kết hợp đúng đắn tập trung và
dân chủ là yếu tố quyết định sức mạnh và hiệu lực của bộ máy Nhà nước ta”.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền XHCN là
nhằm đảm bảo cho Nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, thực sự là Nhà
nước của dân, do dân, vì dân. Hoạt động của Đảng thể hiện bản chất cách mạng và
khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự lãnh đạo của
Đảng tạo điều kiện phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị,
giúp Nhà nước hoàn thành thuận lợi mọi nhiệm vụ của mình. Đảng lãnh đạo Nhà
nước được thể hiện bằng những phương thức khác nhau. Một là, Đảng lãnh đạo Nhà
nước để nó thể chế hoá đúng đắn lập trường, các quan điểm chính trị cơ bản của
mình. Hai là, Đảng định hướng hoạt động của Nhà nước vào việc tổ chức thực hiện
có hiệu quả những nghị quyết đã được thể chế hoá đó. Ba là, Đảng lãnh đạo công tác
cán bộ ngay trong lĩnh vực Nhà nước…
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phải đổi mới và chỉnh
đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Vai trò lãnh đạo
Tư tưởng Nhà nước pháp quyền tư sản trong thời kỳ đầu cũng đã gắn liền với ý
tưởng về tự do, công bằng, bình đẳng, bác ái… ngọn cờ tư tưởng giải phóng đó đã
tạo nên những động lực xã hội hết sức mạnh mẽ cho sự giải phóng xã hội, giải
phóng giai cấp mà dù muốn hay không vẫn còn giữ nguyên giá trị. Việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân cũng vì những mục
đích đó.
Vượt lên trên các nhà tư tưởng tư sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –
Lênin không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tư tưởng về sự cần thiết của Nhà nước pháp
quyền mà còn hành động cách mạng để thực hiện hoá tư tưởng đó trong xã hội. Chủ
nghĩa xã hội làm nền tảng kinh tế dựa trên chế độ sở hữu XHCN là biểu hiện cho
việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân; đồng thời nó cũng là sự biểu
hiện thực tế của tự do, bình đẳng bác ái… của con người.
C. Mác viết: “Tự do là biến Nhà nước từ cơ quan đứng trên xã hội, thành cơ
quan hoàn toàn phục tùng xã hội, vào thời đại chúng ta, tự do ở mức độ cao hơn
hay thấp hơn của các hình thức Nhà nước được xác định bởi mức độ chúng hạn chế
tự do của Nhà nước”. V. I. Lênin tiếp thu tư tưởng của C. Mác về Nhà nước pháp
luật và phát triển nó trong điều kiện thực tiễn mới phải kế thừa di sản mà loài người
đã tích luỹ được; dưới chủ nghĩa xã hội để điều tiết sản xuất và phân phối sản phẩm
cần phải dùng pháp quyền mà tính tư sản, do đó cần “Một Nhà nước tư sản không có
giai cấp tư sản”. Tiếp tục tư tưởng đó của Lênin, các nhà tư tưởng sau này khi bàn
đến nội dung, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN đã khẳng định: “Không thể
nêu một nguyên tắc nào của quan điểm Nhà nước pháp quyền XHCN mà chưa được
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 22
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
xây dựng từ lâu hoặc không có những điều tương tự trong các Nhà nước thuộc các
hệ thống xã hội khác nhau”. Từ quan điểm đó, các nhà chính trị pháp lý và triết học
Mác – Lênin về Nhà nước pháp quyền đều nhấn mạnh đến các đặc trưng cơ bản của
chìa khóa vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn”. Mọi chủ trương, đường
lối, thuộc tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đều được Người
xem xét và giải quyết từ địa vị người làm chủ và quyền làm chủ của nhân dân.
Phát huy dân chủ phải kết hợp chặt chẽ với tăng cường pháp chế, thực hiện
quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật. Nhà nước ta phải tiếp tục thể chế hóa
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 23
Tư tưởng HCM về XD Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân qua thư gửi UBND các kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng ngày
17/10/1945.
bằng pháp luật các quyền dân chủ của người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã
hội, đặc biệt là trong hoạt động kinh tế. Đồng thời, phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh
phòng và chống vi phạm pháp luật, đảm bảo cho mỗi công dân đều được bình đẳng
trước pháp luật, đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xét xử nghiêm
minh, đúng người đúng tội, không phân biệt người đó là ai, để đem lại niềm tin cho
nhân dân và tính nghiêm minh của nhà nước ta.
2. Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng một
nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh.
Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính là một quá trình, phải tiến hành đồng
bộ trên nhiều mặt. Căn bệnh này nặng nề, phức tạp, có căn nguyên xã hội – lịch sử,
nên không thể chữa trị trong một thời gian ngắn.
Cần phải làm cho đội ngũ cán bộ, viên chức quán triệt nhận thức: Nhà nước là
một tổ chức công quyền thể hiện quyền lực của nhân dân, nhân viên nhà nước là
công bộc của nhân dân. Nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân phải:
- Đề cao trách nhiệm giải quyết khiếu kiện của nhân dân sao cho
nhanh chóng, đơn giản, đúng pháp luật,không để nhân dân phải tốn quá nhiều thời
giờ, công sức đi lại, do tình trạng đùn đẩy, “kính chuyển” vòng vo.
- Cải cách thủ tục hành chính, ban hành và hoàn thiện chế độ
công cụ.
- Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh,
dân và vì dân vẫn mãi mãi có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Ngày nay,
trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta nhất
định thực hiện thắng lợi tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, phấn đấu xây dựng
một Nhà nước Việt Nam XHCN là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
CBHDKH : TH.S
SVTH : NHÓM 1
Trang 25