Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế - TÀI TRỢ XUẤT KHẨU CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THỰC THI CAM KẾT CỦA WTO VỀ BỎ TÀI TRỢ XUẤT KHẨU - Pdf 21

Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 1
TÀI TRỢ XUẤT KHẨU
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THỰC THI CAM KẾT CỦA WTO VỀ
BỎ TÀI TRỢ XUẤT KHẨU
1/ Khái niệm về tài trợ và tài trợ xuất
khẩu
- Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) có hai bộ tiêu chuẩn về trợ cấp.
Một bộ áp dụng cho nông sản, được đề
cập trong Hiệp định Nông nghiệp. Một bộ
áp dụng cho sản phẩm phi nông nghiệp,
được quy định trong Hiệp định về Trợ cấp
và Biện pháp đối kháng (SCM). Đối với
nông sản, cho tới trước Hội nghị Hồng
Kông 12-2005, WTO không cấm hình
thức trợ cấp nào cả, kể cả trợ cấp xuất
khẩu. Tuy nhiên, trước sức ép của các
thành viên cũ, các thành viên mới gia
nhập WTO từ năm 1995, kể cả Trung
Quốc và Campuchia, đều phải cam kết
loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản.
- Với sản phẩm phi nông nghiệp, trợ
cấp được chia thành ba nhóm lớn. Nhóm
đèn đỏ là trợ cấp bị cấm sử dụng, bao
gồm trợ cấp xuất khẩu (lấy xuất khẩu làm
tiêu chí để cho hưởng trợ cấp). Theo
SCM, trợ cấp xuất khẩu không chỉ là trợ
cấp dựa trên kết quả xuất khẩu mà còn

Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 2
kinh tế chuyển đổi được xóa bỏ dần trợ cấp
bị cấm trong vòng bảy năm, kể từ 1-1-
1995. Tuy nhiên, bất kể quy định của Hiệp
định SCM, các thành viên gia nhập WTO
từ năm 1995 đều không được hưởng bất kỳ
ngoại lệ gì, trừ một vài trường hợp hãn
hữu, quy mô trợ cấp nhỏ, thời gian xin
chuyển đổi ngắn (thí dụ, Jordan được duy
trì chỉ hai chương trình trợ cấp xuất khẩu
trong vòng hai năm). Thực tế này và việc
ép các nước mới gia nhập phải bãi bỏ trợ
cấp xuất khẩu nông sản là những ví dụ
điển hình của cái gọi là “tiêu chuẩn kép”
trong đàm phán gia nhập WTO mà các tổ
chức như Oxfam và Action Aid đã đề cập.
- Muốn hiểu về trợ cấp xuất khẩu, trước
hết phải biết thế nào là trợ cấp. Theo Điều
1.1 của HĐ SCM, trợ cấp phải là một
khoản hỗ trợ tài chính của chính phủ cho
tư nhân, và khoản hỗ trợ đó phải mang lại
món nợ cho bên được nhận hỗ trợ. Bên
cạnh đó, khoản hỗ trợ phải mang tính chất
khu biệt, có nghĩa là cấp cho những doanh
nghiệp nhất định nào đó. Hỗ trợ tài chính
bao gồm: (a) Cơ chế của chính phủ mang
lại các khoản tiền trực tiếp (như cho vay),
hoặc có thể mang lại các khoản tiền trực

trợ cấp thì đó đã được coi là thời điểm
nhận trợ cấp, ngay cả khi trên thực tế
doanh nghiệp chưa nhận được xu nào.
- Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cụ thể
hơn trợ cấp xuất khẩu. Đây là dạng trợ cấp
bị cấm trong WTO, vì thế nó còn được gọi
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 3
là trợ cấp "đèn đỏ". Trợ cấp xuất khẩu là
dạng trợ cấp phụ thuộc vào hoạt động xuất
khẩu, tức là doanh nghiệp muốn nhận trợ
cấp này thì phải sử dụng nó cho mục đích
xuất khẩu (Điều 3.1 HĐ SCM). Phụ lục I
của HĐ SCM cũng cung cấp danh sách
tham khảo những trợ cấp nào thì bị liệt vào
trợ cấp xuất khẩu.
- Trợ cấp xuất khẩu có thể là chính
thức (de jure), cũng có thể là trên thực tế
(de facto). Trong vụ Canada -Automotive
Industry, Ban phúc thẩm giải thích rằng,
một cách chính thức, "phụ thuộc vào hoạt
động xuất khẩu" có nghĩa là "điều kiện để
nhận trợ cấp được thể hiện thành câu chữ
trong văn bản liên quan; hoặc điều kiện đó
được thể hiện rõ, dù gián tiếp, trong chính
sách liên quan". Vì thế, trong vụ này, Ban
phúc thẩm phán rằng, việc miễn một loati
thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp liên


2/ Vai trò và hậu quả của tài trợ
- Trợ cấp xuất khẩu được quy định
trong các điều XVI và VI của Hiệp định
GATT 1994 (gọi tắt là GATT 1994), và
Hiệp định của WTO về trợ cấp và các biện
pháp đối kháng 1995 (gọi tắt là HĐ SCM).
Ngoài ra, Hiệp định về nông nghiệp (HĐ
NN) cũng nói đến dạng trợ cấp này.
- Ngoài ra, còn có "luật án lệ" (case
law) do các bạn hội thẩm (panel) và Ban
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 4
phúc thẩm (Appellate Body) của WTO
phát triển qua thực tiễn phán xét các tranh
chấp giữa các quốc gia thành viên. Chúng
ta sẽ thấy vai trò của "luật án lệ" này trong
khi xem xét các quy định thành văn của
WTO, cụ thể trong bài này là các quy định
về trợ cấp xuất khẩu.
- Các tranh chấp về trợ cấp xuất khẩu
có thể giải quyết theo hai kênh: đa phương
và song phương. Đa phương trong cơ chế
giải quyết tranh chấp của WTO và song
phương khi tự quốc gia đó tiến hành điều
tra và áp dụng các biện pháp thuế đối
kháng.


thông qua báo cáo cuối cùng của ban hội
thẩm trong vòng 30 ngày kể từ khi nó được
công bố. Trong trường hợp kháng án, Ban
phúc thẩm sẽ xem xét lại những vấn đề về
luật (không xem xét những vấn đề về sự
việc). Ban phúc thẩm phải công bố báo cáo
cuối cùng trong vòng 60 ngày kể từ khi
nhận đơn kháng án, nhưng nếu trong vòng
30 ngày vẫn chưa thể công bố báo cáo,
Ban này phải giải thích nguyên nhân. Quy
trình này ngắn hơn một nửa so với các quy
trình giải quyết tranh chấp khác.
Nếu Ban hội thẩm hoặc Ban phúc
thẩm cho rằng có trợ cấp xuất khẩu, quốc
gia bị đơn phải huỷ bỏ ngay trợ cấp trong
thời hạn do DSB quy định. Trong thời hạn
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 5
đó, nếu trợ cấp xuất khẩu vẫn không bị huỷ
bỏ, quốc gia nguyên đơn có quyền áp dụng
biện pháp trả đũa (countermeasures) thích
đáng. Theo Điều 22.4, Hiệp định về giải
quyết tranh chấp trong WTO, các biện
pháp trả đũa tính theo mức độ thiết hại.
Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều trường
hợp trọng tài phán quyết rằng biện pháp trả
đũa được tính theo mức độ trợ cấp, ví dụ
trong vụ Brazil-Aircraft.

bộ ít nhất được 60 ngày, áp dụng các biện
pháp đối kháng tạm thời không quá 4
tháng; (b) Nếu nước xuất khẩu tự nguyện
huỷ bỏ hoặc hạn chế trợ cấp, hoặc xem xét
lại giá nhập khẩu khiến cho cơ quan có
thẩm quyền đồng ý rằng thiệt hại sẽ không
còn xảy ra, thì cuộc điều tra sẽ được tạm
dừng hoặc chấm dứt mà không áp dụng
các biện pháp tạm thời hoặc thuế đối
kháng; (c) Nếu cho rằng cả 3 điều kiện nói
trên đều đã được xác minh, nước nhập
khẩu có thể áp thuế đối kháng.
Mức thuế đối kháng không được vượt quá
mức trợ cấp. Thậm chí, nếu mức thiệt hại
nhỏ hơn mức trợ cấp thì áp mức thuế
tương ứng với thiệt hại. Thuế đối kháng
phải được áp dụng trên nguyên tắc không
phân biệt đối xử và không hối tố. Sau một
thời gian nhất dịnh (muộn nhất là 5 năm)
sau khi áp dụng hoặc sau lần xem xét lại
mới nhất, thuế đối kháng phải chấm dứt.
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 6
Tuy nhiên, nếu cơ quan có thẩm quyền xác
minh được rằng nếu chấm dứt áp thuế đối
kháng sẽ dẫn đến việc phục hồi trợ cấp và
xảy ra thiệt hại, thuế đối kháng sẽ không
được huỷ bỏ. Nếu không hài lòng với phán

chuyên viên của Bộ Thương mại và có thể
là Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp sẽ thay mặt
chính phủ trực tiếp hầu kiện ở WTO.
Như đã thấy, cơ chế giải quyết tranh
chấp trong WTO chịu ảnh hưởng lớn từ
luật án lệ của hệ thống Anh - Mỹ. Cách
giải thích luật ở đấy rất giống với cách
thẩm phán Mỹ hoặc Anh giải thích luật: họ
không chỉ vận dụng các điều khoản được
trực tiếp quy định trong các Hiệp định của
WTO, mà còn viện dẫn đến cả những
nguồn khác như luật tập quán quốc tế, lịch
sử của hiệp định, ý đồ của nhà soạn thảo.
Ngay cả khi viện dẫn câu cú của luật, họ
cũng có thể giải thích khá rộng, có khi
ngược với ý đồ ban đầu của văn bản. Biết
và hiểu được tư duy này để: thứ nhất,
không bị ngã ngửa khi nghe lập luật và
phán quyết; thứ hai, để sống chung với nó,
lựa theo nó để lập luận tốt nhất cho mình.
Cùng một mức độ về chứng cứ, con người,
cứ ai lập luận thuyết phục hơn thì họ nghe.
Thứ ba, khi cần tìm hiểu luật của WTO,
không thể bỏ qua các bản báo cáo của các
ban hội thẩm và Ban phúc thẩm. Các bản
báo cáo này là một nguồn không thể thiếu
của luật WTO, vì vậy, nếu cứ quen như ở
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế


liên quan đến việc chuyển tiền trực tiếp (ví
dụ các khoản cho vay không, cho vay và
hỗ trợ cổ phiếu), bảo đảm chuyển tiền hoặc
chuyển nợ trực tiếp (như bảo lãnh thuế).
2/Chính phủ miễn hoặc hoãn thu các khoản
thuế đến hạn (ví dụ các biện pháp khuyến
khích tài chính như tín dụng, thuế).
3/Chính phủ cung cấp hàng hoá hoặc dịch
vụ ngoài cơ sở hạ tầng chung hay mua
hàng hoá. 4/Chính phủ tài trợ cho một cơ
chế cấp vốn. Tuy vậy, không phải mọi hoạt
động trợ cấp đều bị WTO loại bỏ. Theo
Hiệp định SCM có thể phân ra các loại trợ
cấp như sau: 1/Trợ cấp bị cấm vận hoàn
toàn (hay có thể gọi là “trợ cấp đèn đỏ”)
bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp
khuyến khích sử dụng hàng nội so với
hàng nhập khẩu. 2/ Trợ cấp không bị cấm
nhưng có thể là đối tượng của các biện
pháp đối kháng (gọi là ềtrợ cấp đèn
vàngể). 3/Trợ cấp không bị cấm và cũng
không là đối tượng của các biện pháp đối
kháng (gọi là “trợ cấp đèn xanh”).
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ
trợ xuất khẩu của Quỹ Hỗ trợ Phát triển là
một hình thức trợ cấp xuất khẩu. Vấn đề
đặt ra ở đây là khi gia nhập WTO, tín dụng
hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy trì được
hay không và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến
đổi gì? Hiện nay SCM hầu như không còn

trì trợ cấp phù hợp nhất. Quan trọng là
hình thức trợ cấp này nên thuộc loại “đèn
xanh” và cũng có thể là “đèn vàng”, nhưng
có thể được bỏ qua không sử dụng các biện
pháp đối kháng hay biện pháp đối kháng
sử dụng có thể chấp nhận được.
- Trong vòng 5-10 năm tới tín dụng hỗ
trợ xuất khẩu phải thực sự tạo điều kiện
thuận lợi để thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ các
doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đối với
những ngành hàng ưu thế (như nông sản,
thuỷ sản, hạt tiêu, hạt điều, gạo, hàng thủ
công mỹ nghệ, hàng mây tre lá ) hay
những thị trường thế mạnh (thị trường
Đông Âu truyền thống, thị trường Trung
Quốc, Nhật Bản, EU, Mỹ ) đủ sức trụ
vũng và cạnh tranh được trên thị trường
quốc tế. Tiến tới dù không còn sự hỗ trợ
này của Chính phủ thì các doanh nghiệp,
các ngành hàng trên sẽ lại có được sự giúp
sức của Hiệp hội ngành nghề, làng nghề
hay Hiệp hội doanh nghiệp lúc đó là đủ
tầm hỗ trợ. Vì thế ngay từ bây giờ song
song với việc hỗ trợ xuất khẩu thì Chính
phủ cũng cần quan tâm tới việc hỗ trợ hình
thành và phát triển các hiệp hội làng nghề
hoặc hiệp hội doanh nghiệp rất cần đối với
doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai.
- Vì vậy, tính từ thời điểm này thì tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu chỉ còn được tối đa

- Cùng với lộ trình cắt giảm dần dần
hoạt động hỗ trợ xuất khẩu trong đó có tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu thì Chính phủ và
Quỹ Hỗ trợ phát triển cũng nên nghiên cứu
xem xét mở rộng sang các hoạt động tín
dụng ưu đãi cho các hoạt động “đèn xanh”
trên mà đặc biệt là hoạt động nghiên cứu
và phát triển (R&D) hay hoạt động bảo vệ
môi trường làm định hướng phát triển cho
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt
Nam trong hội nhập.

* Trợ cấp bị cấm: là các khoản trợ cấp
yêu cầu người nhận phải đáp ứng được
những mục tiêu xuất khẩu nhất định, hoặc
phải sử dụng hàng trong nước thay cho
hàng nhập khẩu. Chúng bị cấm vì chúng
được xây dựng nhằm làm biến dạng
thưưong mại quốc tế, và do đó có khả năng
tác động tiêu cực đến trao đổi thương mại
của các thành viên khác. Những trợ cấp
này phải bị dỡ bỏ dần theo một thời gian
biểu quy định. Chúng có thể bị đưa ra cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO nếu
không tuân theo thời gian biểu dỡ bỏ đó.
Nếu cơ chế giải quyết tranh chấp kết luận
rằng một khoản trợ cấp thuộc nhóm bị
cấm, khoản trợ cấp đó phải được dỡ bỏ
ngay lập tức. Nếu không được dỡ bỏ, nước
nguyên đơn có thể có những biện pháp

khẩu được trợ cấp, thuế chống trợ cấp có
thể được áp dụng đối với hàng nhập khẩu
- Hiệp định công nhận rằng trợ cấp có
thể đóng một vai trò quan trọng ở các nước
phát triển cũng như trong việc chuyển đổi
từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang các
nền kinh tế thị trường.

4/ Những điểm chính (hiệp định) của
WTO về chống tài trợ trong lĩnh vực
công nghiệp, nông nghiệp
- Một trong những nội dung mà cả Quỹ
Hỗ trợ phát triển, các tổ chức tín dụng ưu
đãi của Nhà nước đến các doanh nghiệp
xu t khẩu quan tâm tìm hiểu để có những
bước chuyển biến phù hợp với tiến trình
Việt Nam gia nhập WTO là: Hiệp định về
trợ cấp và các biện pháp đối kháng -
Agreement on Subsidies and
Countenrvailing Measures (SCM). SCM là
một trong rất nhiều Hiệp định của WTO
mà mục đích chung của các Hiệp định này
là ngăn cấm hoặc hạn chế các ảnh hưởng
xấu tới hoạt động thương mại giữa các
nước thành viên WTO, nhằm tạo ra một
sân chơi chung bình đẳng cho mọi thành
viên của Tổ chức này.
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ
trợ xuất khẩu của Quỹ Hỗ trợ Phát triển là
một hình thức trợ cấp xuất khẩu. Vấn đề

Xanh lá cây là do ngân sách chính phủ chi
trả và không mang tính chất hỗ trợ giá trợ
cấp khuyến khích sử dụng hàng nội so với
hàng nhập khẩu.
* Hộp Xanh lơ: gồm các khoản chi
trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước mà gắn
với sản xuất và thuộc các chương trình thu
hẹp sản xuất nông nghiệp. Các nước không
phải cam kết cắt giảm các biện pháp này.
* Hộp Hổ phách: gồm các biện
pháp hỗ trợ bị coi là gây bóp méo sản xuất
và thương mại, vì thế các nước phải cam
kết cắt giảm theo một lộ trình nhất định.
Các biện pháp được xếp vào Hộp Hổ
phách có thể là hỗ trợ giá, trợ cấp gắn với
sản xuất, tức là tất cả biện pháp hỗ trợ
trong nước mà không nằm trong Hộp Xanh
lá cây và Xanh lơ. Theo qui định của hiệp
định nông nghiệp, tổng mức hỗ trợ gộp
cho phép đối với nước đang phát triển là
10% giá trị sản lượng của sản phẩm nếu là
hỗ trợ cho sản phẩm cụ thê, và là 10% giá
trị sản xuất nông nghiệp cả nước nếu là hỗ
trợ không

5/ Vài nét về cam kết của Việt Nam về
việc gia nhập WTO về tài trợ xuất khẩu,
nêu lộ trình bỏ tài trợ xuất khẩu
- Việt Nam cũng đã cam kết xóa bỏ trợ
cấp xuất khẩu nông sản kể từ ngày gia

được duy trì.
- Với sản phẩm phi nông nghiệp, trong
suốt 12 năm đàm phán, Việt Nam đã kiên
trì thuyết phục các thành viên WTO cho
Việt Nam hưởng ngoại lệ của Hiệp định về
Trợ cấp và Biện pháp đối kháng (SCM)
nhưng do đàm phán gia nhập là đàm phán
một chiều, các nước mới gia nhập trước đó
đều không đòi được ngoại lệ nên cuối cùng
Việt Nam đã cam kết như sau:

+ Bãi bỏ trợ cấp thay thế nhập khẩu
(như thuế ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa) và
các loại trợ cấp xuất khẩu dưới hình thức
cấp phát trực tiếp từ ngân sách nhà nước
(như bù lỗ cho hoạt động xuất khẩu,
thưởng theo kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ
lãi suất cho hợp đồng xuất khẩu…) kể từ
khi gia nhập WTO.
+ Với trợ cấp xuất khẩu “gián tiếp”
(chủ yếu dưới dạng ưu đãi đầu tư dành cho
sản xuất hàng xuất khẩu), sẽ không cấp
thêm kể từ khi gia nhập WTO. Tuy nhiên,
với các dự án đầu tư trong và ngoài nước
đã được hưởng ưu đãi loại này từ trước
ngày gia nhập WTO, ta được một thời gian
quá độ là năm năm để bãi bỏ hoàn toàn.
Riêng với ngành dệt - may, tất cả các loại
trợ cấp bị cấm theo Hiệp định SCM, dù là
trực tiếp hay gián tiếp, đều được bãi bỏ

Trang 13
* Tác động tới doanh nghiệp:
+ Việc bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và
trợ cấp nội địa hóa chắc chắn sẽ ảnh hưởng
tới một số doanh nghiệp. Để đánh giá mức
độ ảnh hưởng, cần xem xét các khía cạnh
như đối tượng và quy mô được hưởng trợ
cấp, hiệu quả thực tế của trợ cấp, mối quan
hệ giữa trợ cấp với nâng cao hiệu quả, sức
cạnh tranh và khả năng của Nhà nước
trong việc chuyển đổi từ trợ cấp thuộc diện
phải bãi bỏ sang các hình thức trợ cấp khác
được WTO cho phép.
+ Về quy mô, không có nhiều số
liệu để phân tích. Tuy nhiên, với ngân sách
còn hạn chế như hiện nay (và trong nhiều
năm tới), có thể khẳng định con số là rất
khiêm tốn. Chế độ thưởng theo kim ngạch
xuất khẩu được áp dụng từ 1998 nhưng
mãi tới 2004, tổng tiền thưởng mới đạt
29,4 tỉ đồng, tương đương gần 2 triệu đô la
Mỹ (báo Tuổi Trẻ ngày 25-7-2006). Số
doanh nghiệp được thưởng là 349. Thật
khó để nói rằng hàng vạn doanh nghiệp
xuất khẩu của ta, với kim ngạch xuất khẩu
trên 30 tỉ đô la Mỹ/năm, lại “gặp khó khăn
nghiêm trọng” khi Nhà nước bãi bỏ hình
thức trợ cấp này.
+ Đối tượng được hưởng trợ cấp
xuất khẩu cũng là việc cần bàn. Có ý kiến

10%.
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 14 Trong công nghiệp, xóa bỏ từ thời
điểm gia nhập các khoản trợ cấp bị cấm
như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế
hàng nhập khẩu; những khoản trợ cấp chi
trực tiếp từ ngân sách nhà nước. Các khoản
trợ cấp bị cấm dưới hình thức ưu đãi đầu
tư cho xuất khẩu và thay thế hàng nhập
khẩu sẽ phải bỏ sau 5 năm từ thời điểm gia
nhập đối với các dự án đã đi vào hoạt
động. Tuy nhiên các ưu đãi này không
được áp dụng với các dự án mới thành lập
từ sau khi gia nhập. Riêng các khoản trợ
cấp bị cấm đang áp dụng với ngành dệt
may sẽ phải bỏ ngay từ thời điểm gia nhập.

- Những trợ cấp khác mà WTO không
cấm thì chúng ta vẫn được sử dụng. Một số
thông tin gần đây có đăng gia nhập WTO
chúng ta sẽ bỏ hết trợ cấp, điều đó không
phải. Chúng ta chỉ bỏ những trợ cấp bị
cấm, còn những trợ cấp không cấm thì vẫn
được duy trì và thực hiện. Còn đối với trợ
cấp trong các lĩnh vực khác liên quan dệt

nhập WTO, toàn bộ dệt may không bị hạn
ngạch nữa. Ðây là cơ hội cho các doanh
nghiệp Việt Nam. Chúng ta cũng phải bỏ
một số quy định cấm: nhập khẩu thuốc lá
điếu, ô-tô đã qua sử dụng, linh kiện liên
quan máy tính. Trên thực tế, cấm nhập ô-tô
đã qua sử dụng đã bỏ rồi, vấn đề hiện nay
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 15
là thuế, làm thế nào bảo đảm quyền lợi
người tiêu dùng. Bộ Tài chính đang tiếp
tục làm để xử lý vấn đề thuế, vì đây cũng
là một trong những vấn đề đáng quan tâm.
Chúng ta một mặt cần bảo vệ lợi ích của
người sản xuất, đồng thời cũng cần bảo vệ
lợi ích của người tiêu dùng. Phải cân đối
hai lợi ích này, chứ không thể chỉ chú ý
đến lợi ích của người sản xuất, mà không
chú ý đến lợi ích của người tiêu dùng.
- Hai là, nền kinh tế của chúng ta có
thời kỳ chuyển đổi, nên có lộ trình giảm
thuế, lộ trình chuyển đổi thị trường. Lộ
trình giảm thuế lấy mức thuế hiện hành bắt
đầu giảm trong vòng 3-5 năm sẽ xuống
mức 14%. Tất nhiên, từng mặt hàng có
mức cắt giảm khác nhau: xe máy phân
khối lớn theo lộ trình chúng ta cắt xuống
còn 45% (hiện nay 60%); ô-tô tùy loại

đầu có đầu tư thép cao cấp), điều kiện kinh
tế của Việt Nam bây giờ đã khác xa so với
cách đây 15 năm.
- Ðối với nông nghiệp, các nước thành
viên cũ, mức thuế nông nghiệp khoảng
22%. Nhưng xu hướng các nước mới gia
nhập phải giảm thuế nhiều hơn để gia
nhập. Vì các nước cho rằng, các nước đã
gia nhập phải mất vài chục năm đấu tranh
từ GATT để có thành quả như bây giờ.
Các nước mới gia nhập nhiều hay ít đều
phải đóng góp qua việc cắt giảm thị
trường, cắt giảm thuế.
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 16
- Nhưng, tổng thuế với nông nghiệp,
Việt Nam có lợi thế là có nhiều mặt hàng
nông nghiệp xuất khẩu. Ðã xuất khẩu được
thì cạnh tranh được với thế giới. Chúng ta
lo mặt hàng thịt bò, thịt lợn. Chúng ta thấy,
thịt bò, thịt lợn là các mặt hàng từ chăn
nuôi đơn lẻ, chưa có theo hình thức trang
trại. Cho nên, trong đàm phán rất khó
khăn. Các nước xuất khẩu thịt bò lớn: Hoa
Kỳ, Canada, Australia, New Zealand đều
yêu cầu giảm thuế tới 0-5%. Chúng ta trả
lời: Bò Việt Nam phần lớn là bò cóc, mỗi
hộ nuôi 5-10 con, năng suất thấp, sức cạnh

biển, hàng không, là điều kiện cho phát
triển thương mại sau này. Việt Nam có
điều kiện thuận lợi nữa là chúng ta ổn định
về chính trị nhất trong khu vực. Ðây là
điều các nhà đầu tư nước ngoài rất quan
tâm. Có thể nói, thương mại Việt Nam
những năm qua tăng liên tục nhưng tổng
kim ngạch xuất, nhập khẩu chưa phải là
lớn lắm. Thí dụ, năm 2005 kim ngạch cả
xuất, nhập khẩu mới đạt hơn 60 tỷ USD.
Nếu riêng xuất khẩu mới khoảng hơn 30 tỷ
USD, chúng ta phải phấn đấu nhiều hơn
nữa. Ðàm phán các nước thống nhất như
vậy, nhưng nhìn vào tương lai, nhiều nước
đòi hỏi được đàm phán. Khi chúng ta đàm
phán với Trung Quốc, chúng ta tưởng giữa
Việt Nam - Trung Quốc đã có Hiệp định tự
do thương mại trong ASEAN, nên không
cần đàm phán nữa, nhưng với Trung Quốc
vẫn phải đàm phán 10 phiên, rất nhiều
phiên căng thẳng, đàm phán suốt đêm,
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 17
nhiều vấn đề căng: mở du lịch, ngân hàng
phụ, mở vận tải đường bộ, nhưng sau đó,
chúng ta thấy khi đàm phán phải dựa vào
quy định của WTO. Chúng ta thấy về vấn
đề đường bộ, trong WTO chưa phát triển,

hội Hoa Kỳ thông qua PNTR. Việt Nam
mới được hưởng thuế phổ thông, chưa
được hưởng thuế ưu đãi GST. Hoa Kỳ
dành cho 72-74 nước được hưởng GST
không có Việt Nam, cho nên, gia nhập
WTO là cơ hội cho chúng ta trong một số
vấn đề mà chúng tôi nêu.
- Kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ có
người nói chưa hài lòng, có người nói
được nhiều, có người nói được ít. Chúng
tôi thống nhất đây là đàm phán mà hai bên
đều giành thắng lợi. Trên thực chất, các
nhà đàm phán luôn như thể no bụng đói
con mắt, thường đòi những điều kiện cam
kết rất cao, nhưng nhà doanh nghiệp không
cần cái đó. Nhà doanh nghiệp miễn có lợi
là làm. Cam kết có cao mấy mà không có
lợi thì vẫn không vào. Ðó là sự khác nhau
giữa nhà đàm phán và doanh nghiệp. Thí
dụ đòi mở ngân hàng như thế chúng ta đã
cho chi nhánh 100% vốn, nhưng ngân
hàng Mỹ vì chiến lược phát triển của họ
nên rút, không ở Việt Nam. Giữa cam kết
của nhà đàm phán với doanh nghiệp có
khoảng cách. Nếu chúng ta kết thúc đàm
phán với Hoa Kỳ mà giành được PNTR,
quỹ OPEC, quỹ hỗ trợ ngân hàng
EXIMBANK mới hoạt động mạnh. Khi đó
quan hệ đầu tư của các nhà đầu tư lớn, xuất
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu

phép nhưng chưa áp dụng là hỗ trợ điều
chỉnh cơ cấu DN, các khoản thanh toán
trực tiếp cho người sản xuất (như chương
trình bảo hiểm thu nhập); chi cho các
chương trình bảo vệ môi trường để hỗ trợ
việc sản xuất ở các vùng có điều kiện bất
lợi và các chính sách trong hộp xanh lơ
(các nước đang phát triển không phải cam
kết từ bỏ các hình thức chi trả trực tiếp nếu
việc từ bỏ các khoản này dẫn đến thu hẹp
việc sản xuất trên một diện tích đất đai cố
định hoặc số lượng gia cầm cố định). Về
xuất khẩu, VN có thể xây dựng các chương
trình hỗ trợ chi phí tiếp thị, trợ cấp chi phí
vận chuyển hàng hóa xuất khẩu trong
phạm vi nội địa và quốc tế
- Việt Nam phải điều chỉnh chính sách
trợ cấp theo hướng song song việc cắt bỏ
các biện pháp bị cấm, cần chuyển sang các
biện pháp phù hợp với qui định của WTO
như bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường,
thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng kém
phát triển hơn. Cơ bản thì dù trợ cấp bằng
hình thức nào, điều quan trọng đối với
những nước đang chuyển đổi như VN là
phải xây dựng các chính sách thương mại
đồng bộ với nhau sao cho vừa phù hợp với
luật chơi quốc tế vừa đảm bảo mục tiêu
phát triển bền vững.
- Trong vài năm qua, Chính phủ VN

khẩu đối với thành tích xuất khẩu và
thưởng vượt kim ngạch xuất khẩu.
- Việc khen thưởng xuất khẩu được Bộ
Thương mại tiến hành từ năm 1998, số
doanh nghiệp và số tiền khen thưởng đều
tăng nhanh qua mỗi năm theo sự tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu chung cả
nước. Năm Số doanh
nghiệp
Số tiền
thưởng (tỷ)
1998 66 4,685
1999 106 6,210
2000 158 10,595
2001 196 12,744
2002 222 16,368
2003 232 19,532
2004 349 29,408

Được biết, trong quá trình đàm
phán song phương với các đối tác, trợ cấp
trong đó có trợ cấp xuất khẩu thường là
vấn đề nóng nhất trên bàn đàm phán. Thậm
chí, trong quá trình đàm phán với một số
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế


- Đây là một kết quả của sự nhân
nhượng giữa các khối nước phát triển và
đang phát triển vốn đã bất đồng sâu sắc với
nhau về các vấn đề then chốt như thời
điểm xóa bỏ hoàn toàn việc trợ giá nông
nghiệp của các nước phát triển, việc mở
cửa thị trường cho hàng công nghiệp và
các lĩnh vực dịch vụ ở các nước đang phát
triển, giúp cho cuộc thương lượng toàn cầu
về tự do hóa thương mại tránh khỏi sự thất
bại hoàn toàn.
- Mốc 2013 là đề xuất chính của Liên
minh châu Âu (EU), trước sức ép của
Braxin và những nước đang phát triển
khác, muốn khu vực này xóa bỏ trợ cấp
muộn nhất là năm 2010. Bản dự thảo cũng
đặt ra 30/4/2006 là thời hạn mới để các
thành viên đề ra các biện pháp cắt giảm
thuế và trợ cấp nông nghiệp, công nghiệp -
một bước quan trọng để vạch ra một hiệp
ước tự do thương mại toàn cầu vào cuối
năm sau, một thỏa thuận có quy mô lớn
hơn xóa bỏ những rào cản thương mại giữa
các khu vực kinh tế khác nhau .
- Các nước phát triển cũng đã chấp
nhận không đánh thuế và áp dụng hạn
ngạch xuất khẩu (Côta xuất khẩu) đối với
ít nhất 97% các loại hàng hóa xuất khẩu
đến từ các nước nghèo nhất trên thế giới
(LDC).

khéo xử lý về mức độ và thời gian áp
dụng, trợ cấp có thể gây tâm lý trông đợi
và sức ỳ đáng sợ, chưa kể những lệch lạc
mà một chuyên gia tư vấn nước ngoài đã
chỉ ra “ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
như hiện nay phần nào khuyến khích các
nhà đầu tư “chia” doanh nghiệp hay dự án
đầu tư của mình thành từng phần nhỏ, hơn
là đầu tư mở rộng hoặc đổi mới công nghệ
nhằm nâng cao quy mô và sức cạnh tranh.
Giảm mức độ ưu đãi về thuế sẽ giúp họ
cạnh tranh tốt hơn”. Bên cạnh đó, kết quả
điều tra của Dự án nâng cao năng lực cạnh
tranh Việt Nam (VNCI, 2005) cho thấy hạ
tầng và nguồn nhân lực là những yếu tố
quan trọng tác động đến quyết định đầu tư
của doanh nhân. Ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp chỉ đứng hàng thứ bảy trong
tổng số 14 yếu tố ảnh hưởng tới quyết định
đầu tư. Đây là kết quả rất đáng suy ngẫm.
- Cuối cùng, gia nhập WTO, Việt Nam
chỉ bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội
địa hóa, các loại trợ cấp “đèn vàng”, “đèn
xanh” (xem thêm bài Quy định của WTO
về trợ cấp) vẫn được duy trì và không ai
cấm Nhà nước chuyển số tiền trợ cấp xuất
khẩu và trợ cấp nội địa hóa trước đây sang
phát triển thủy lợi, kiện toàn giao thông
nông thôn, nâng cao chất lượng giống,
phát triển công nghệ sau thu hoạch, xây

chuyên gia của dự án, hiện nay hầu hết
chính sách hỗ trợ trong nước đều thuộc
Hộp Xanh lá cây và hộp phát triển nên có
thể tiếp tục duy trì song song với việc
chuyển dần một số biện pháp thuộc Hộp
Hổ phách sang hai loại trên. Tổng mức hỗ
trợ gộp (AMS) hiện nay chiếm 3,4%, thấp
hơn nhiều so với mức tối thiểu được phép
theo qui định WTO là 10% giá trị sản
lượng. Một ngoại lệ là ngành mía đường
hiện có mức hỗ trợ rất cao (mỗi sản phẩm
có mức AMS lên tới 98,7%) nên ngành
này đang và sẽ chịu ảnh hưởng đáng kể khi
buộc phải cắt giảm mạnh trợ cấp

- Tuy nhiên, rất nhiều các chính
sách không bị cấm lại chưa được sử dụng
như trợ cấp điều chỉnh cơ cấu thông qua
chương trình rút các nguồn lực khỏi sản
xuất nông nghiệp, chi trả trực tiếp cho
người sản xuất thay vì cho người xuất
khẩu. Bên cạnh đó, chúng ta vẫn chưa có
những hỗ trợ riêng cho thu nhập như
chương trình bảo hiểm thu nhập và mạng
lưới an sinh thu nhập cho nông dân Về
xuất khẩu nông sản, chúng ta chưa tận
dụng được trợ cấp chi phí tiếp thị, chi phí
chuyên chở trong nước và quốc tế, quĩ xúc
tiến xuất khẩu cho vay tín dụng để xuất
khẩu.

nhất, thậm chí là thiệt hại từ việc thực hiện
các cam kết WTO. Bà Hương khuyến nghị
cần tận dụng những chính sách được phép
như chính sách hỗ trợ vùng miền, hệ thống
an sinh xã hội, bảo hiểm giá để giảm
“sốc” cho nông dân khi gặp biến động về
mùa màng, giá cả.
- Để những chính sách mới có lợi
cho nông dân và nông nghiệp, ông
Cordella cho rằng cần các biện pháp
hướng về mở rộng tiếp cận thị trường, cải
thiện hệ thống tiếp thị và quan trọng hơn
cả là hệ thống thông tin thị trường.
- Theo ông, khi người nông dân chỉ
biết quan tâm đến phát triển sản phẩm và
phó thác khâu phân phối, tiếp thị cho
người môi giới, trung gian thì việc cần làm
đối với cơ quan quản lý là phải cung cấp
thông tin thị trường càng nhiều càng tốt.
Ông nói: “Làm sao để hai đối tượng này
chia sẻ các giá trị chung từ giá bán lẻ, làm
sao để giảm bớt lợi ích quá đáng của người
trung gian và tăng lợi ích cho nông dân.”.
- Riêng việc bãi bỏ trợ cấp xuất
khẩu và trợ cấp nội địa hóa, Bộ trưởng
Trương Đình Tuyển khẳng định chắc chắn
sẽ ảnh hưởng tới một số doanh nghiệp.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng dự kiến
không lớn. Bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu nông
sản có thể tác động đến nông nghiệp

nghiệp của Việt Nam vẫn là nền sản xuất
nhỏ, phân tán, năng suất và chất lượng
thấp trong khi bình quân đất nông nghiệp
theo đầu người quá ít, giá trị sản xuất nông
nghiệp trên 1 ha canh tác trung bình ở mức
30 triệu đồng.
- Và trong tổng thể, khi hàng rào
bảo hộ bị thu hẹp, sản xuất trong nước sẽ
phải đối diện với mức độ cạnh tranh lớn
hơn từ bên ngoài. Không loại trừ khả năng
sẽ có biến động ở một số ngành, nhất là
những ngành mà tính linh hoạt trong
chuyển đổi không cao.
- Về tác động của việc mở cửa thị
trường dịch vụ, theo báo cáo của Bộ
Thương mại trước Quốc hội, mức độ cam
kết về cơ bản là tương đương với BTA và
phù hợp với hiện trạng trong nước nên sẽ
không gây ra tác động quá lớn.
- Những ngành phải chịu sức ép
nhiều nhất sẽ là kinh doanh chứng khoán,
ngân hàng, phân phối và hỗ trợ vận tải
biển. Tuy nhiên, Bộ trưởng Tuyển tin
tưởng rằng “chúng ta có một thời gian
chuyển đổi để chuẩn bị và cũng có một số
công cụ để kiểm soát. Nếu có sự chuẩn bị
tốt và vận dụng linh hoạt các công cụ mà
ta bảo lưu được trong Biểu cam kết dịch
vụ, tác động của việc mở cửa thị trường là
có thể kiểm soát được”.

bù sẽ không còn. Đổi lại, sự chủ động về
nguồn hàng sẽ giúp các doanh nghiệp xăng
dầu trong nước chiếm ưu thế tại thị trường
bán lẻ trong nước.
- Ở Trung Quốc, sau 2 tập đoàn
SHELL và BP, TOTAL cũng đã ngấp nghé
thâm nhập vào. Dù vậy, các công ty xăng
dầu nội địa Trung Quốc vẫn không bị “bể”
mà còn phát triển mạnh hơn nhờ chuẩn bị
tốt, cũng như tranh thủ sự hỗ trợ linh hoạt
của chính phủ. Nguồn tin từ Bộ Thương
mại cho hay, tập đoàn SHELL cũng đã gõ
cửa thị trường xăng dầu VN và chắc chắn
nhiều tập đoàn khác cũng đang nhòm ngó.
Rõ ràng, từ nay đến năm 2009, nếu các
chính sách quản lý-điều hành cũng như
năng lực nội tại của các doanh nghiệp xăng
dầu trong nước không được cải thiện
nhanh và có chất lượng, nguy cơ thất thế
trước các tập đoàn xăng dầu lớn là có thể
nhìn thấy trước!
- Việt Nam khi đàm phán đa
phương, chúng tôi lại phải đàm phán cả
vấn đề nông nghiệp. Nông nghiệp Việt
Nam canh tác lạc hậu, nhưng lại xuất khẩu
được nhiều. Ðây là một xu hướng mà tất cả
các nước vừa qua đều phải bỏ trợ cấp xuất
khẩu khi gia nhập đối với hàng nông sản.
Chúng ta cũng phải chấp nhận xu hướng
này. Nhưng, 10% đối với hộp xanh (trợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status