Đề tài: quản lý nợ nước ngoài pot - Pdf 21

MỞ ĐẦU
Các bạn có thể thấy Việt Nam của chúng ta trong những năm qua liên
tục đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đó không chỉ dựa vào yếu tố nội
sinh, mà còn có sự tác động của yếu tố bên ngoài. Để đạt được tốc độ tăng
trưởng cao trong điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn chế, lạm phát
trong nước cao, các nước đang phát triển thường thu hút các nguồn vốn
nước ngoài bằng nhiều cách khác nhau, trong đó vay nợ là một phương thức
phổ biến. Chính nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài đã giúp Việt Nam của
chúng ta khắc phục phần nào đươc tình trạng kinh tế chậm phát triển và
chuyển sang phát triển một cách bền vững.
Các khoản vay nợ nước ngoài với mục tiêu là phải được sử dụng một
cách có hiệu quả nhất để đáp ứng các nhu cầu yêu cầu của nhà đầu tư, như
phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, phát triển kinh doanh thương mại, ngoài ra
cùng với nó là phải tạo được nguồn vốn trả nợ, mà vẫn đảm bảo phát triển
kinh tế bền vững. Tuy nhiên, cũng có không ít quốc gia không những không
cải thiện được một cách đáng kể tình hình kinh tế mà còn lâm vào tình trạng
nợ nần, khủng hoảng nợ khiến nền kinh tế suy thoái trầm trọng. Nguyên
nhân của những thất bại trong việc vay nợ nước ngoài có rất nhiều, tuy nhiên
trong đó quan trọng nhất phải kể đến sự buông lỏng quản lý nợ nước ngoài,
quản lí nguồn vốn vay. Chính vì vậy chính sách quản lí nợ nước ngoài là
một bộ phận thiết yếu đặc biệt quan trọng trong chính tài chính của Việt
Nam.
Vấn đề quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu từ năm
1993 khi nước ta chính thức thiết lập lại quan hệ hợp tác đa phương với các
tổ chức tín dụng lớn trên thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền
tệ Thế giới (IMF) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Từ đó cùng với
những nỗ lực của chúng ta trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thì các
cam kết hỗ trợ vốn ODA của các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản
Hàn Quốc… và các tổ chức tín dụng quốc tế khác dành cho nước ta ngày
càng tăng dần về số lượng vốn vay, số khoản vay, tính đa dạng của hình thức
vay và trả nợ, vì thế việc theo dõi và quản lý nợ nước ngoài hiện nay là một

- Nhu cầu để đầu tư công nghiệp, vốn để phát triển
- Do khả năng quản lý của các nước kém phát triển còn thấp nên có 2 sự lựa
chọn: thứ nhất là phát hành tiền, tuy nhiên, cách này không được phổ biến
do có thể gây ra lạm phát và ảnh hưởng tới nền kinh tế của quốc gia đó; thứ
hai là đi vay nước ngoài
- Do những thảm họa như song thần, lũ lụt … thì nguồn vay nợ nước ngoài
sẽ giúp các nước này khắc phục được những hậu quả trước mắt
2.2 Đối với các nước phát triển
Không chỉ có nước kém phát triển mới phải vay nợ nước ngoài, mà các
nước phát triển cũng đi vay nợ nước ngoài. Chúng ta có thể kể đển Mỹ là
một nước phát triển ở trình độ bậc nhất trên thể giới, là nước xuất khẩu vốn
số 1 thế giới, tuy nhiên, Mỹ cũng là một con nợ lớn của thế giới.
Các nước này thường vay nợ nước ngoài là để:
- Khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Định hướng chính sách phát triển
2.3 Mối quan hệ lợi ích giữa các nước
- Nước kém phát triển có thu nhập thấp, nguồn vốn khan hiếm nhưng tồn tại
nhiều cơ hội đầu tư trong nước, có tiềm năng thu lợi nhuận cao. Ngoài ra, do
tỷ lệ vốn so với nhân công thấp làm cho hiệu quả tư bản sẽ cao
- Các nước phát triển có thu nhập cao, thị trường vốn phát triển, trong khi đó
tỷ lệ vốn so với nhân công lại quá cao làm cho hiệu quả biên của tư bản
thấp, dẫn đến hạn chế các cơ cấu đầu tư trong nước có khả năng sinh lời cao.
- Thấy được lợi ích từ việc đầu tư cho vay nợ, các nước phát triển tăng dần
khoản nợ cho các nước kém phát triển vì họ cho rằng có thể được tận dụng
được nguồn nguyên liệu từ các nước kém phát triển để hỗ trợ tái thiết và
tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển.
3. Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
Tổng nợ nước ngoài so với GDP
Tổng nợ nước ngoài so với tổng kim ngạch xuất khẩu
Trả nợ hàng năm

xu hướng “đắt” lên sẽ chứa đựng những xung lực lạm phát mạnh. Những
xung lực này càng mạnh hơn nếu vốn vay không được quản lý tốt và sử
dụng có hiệu quả, buộc con nợ phải tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới,
với những điều kiện có thể ngặt nghèo hơn - chiếc bẫy nợ sập lại, con nợ rơi
vào vòng xoáy mới: Nợ - vay nợ mới - tăng nợ - tăng vay… Vòng xoáy này
sẽ dẫn con nợ đến sự vỡ nợ hoặc vòng xoáy lạm phát: Nợ - tăng nghĩa vụ nợ
- tăng thâm hụt ngân sách - tăng lạm phát. Lúc này dịch vụ nợ sẽ ngốn hết
những khoản chi ngân sách cho phát triển và ổn định xã hội, làm căng thẳng
thêm trạng thái khát vốn và hỗn loạn xã hội. Hơn nữa, việc “thắt lưng buộc
bụng” trả nợ khiến nước nợ phải hạn chế nhập và tăng xuất, trong đó có
hàng tiêu dùng mà trong nước còn thiếu hụt, do đó làm tăng mất cân đối
hàng tiền, tăng giá, tăng lạm phát.
Nợ nước ngoài có thể làm sụp đổ cả một chính phủ, nhất là ở những nơi
tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm là phổ biến của giới cầm quyền, đi
kèm với việc thiếu những giải pháp xử lý mềm dẻo khôn ngoan với nợ (đàm
phán gia hạn nợ, đổi nợ thành đầu tư, đổi cơ cấu và điều kiện nợ, xin xoá nợ
từng phần…). Do vậy, sự chủ động và tỉnh táo khống chế nợ ở mức độ an
toàn, theo những dự án đầu tư cụ thể, được luận chứng kinh tế - kỹ thuật đầy
đủ, và chấp nhận sự kiểm tra, giám sát của chủ nợ để tránh hao hụt do tham
nhũng hay sử dụng nợ sai mục đích là những nguyên tắc hàng đầu cần được
tuân thủ trong quá trình vay nợ nước ngoài.
II. THỰC TRẠNG QUẢN LÍ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA
VIỆT NAM
1. Các hình thức vay nợ n ước ngoài chủ yếu của Việt Nam
Hiện nay nợ nước ngoài của Việt Nam xuất phát từ 3 nguồn chủ yếu như
sau:
- Nợ nguồn vốn ODA.
- Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương.
- Phát hành trái phiếu quốc tế.
1.1 Nợ ODA

năm tài khóa 2011 sẽ giảm từ mức 572,7 tỷ yên hiện tại xuống còn 522,6 tỷ
yên (khoảng 6,4 tỉ USD), tức chưa đến 10%. Mức cắt giảm này chỉ bằng
phân nửa so với dự kiến cắt giảm 20% ban đầu. Hơn nữa, việc cắt giảm
được tuyên bố là chỉ áp dụng cho năm tài khóa 2011. Việc cắt giảm này ít
nhiều cũng có phần ảnh hưởng tới Việt Nam.
1.2 Vay thương mại
Bảo lãnh của chính phủ đối với các khoản vay nước ngoài của các doanh
ng
hiệp và các tổ chức tín dụng:
Bảo lãnh của Chính Phủ đối với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng
khi vay nước ngoài được thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ vốn cho các doanh
nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp vay nợ
có bảo lãnh gồm các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (doanh
nghiệp có vốn đầu tư trưc tiếp nước ngoài FDI) và các doanh nghiệp nhà
nước có quy mô lớn trong các nghành bưu chính viễn thông, dầu khí, điện
lực, hàng không , dệt
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong giai đoạn 2005 -
2010, khối lượng vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp được Chính phủ bảo
lãnh có xu hướng tăng qua hằng năm. Nếu như năm 2005 chỉ khoảng 0,9 tỷ
USD, thì con số này đã tăng gấp 4 lần trong năm 2010, đạt 3,986 tỷ USD,
đồng thời tỷ lệ nợ nước ngoài trong tổng dự nợ của Chính phủ cũng tăng lên
mức 14,27% , gấp 2 lần con số 6,4% của năm 2005.
Đáng chú ý, tỷ trọng dư nợ nước ngoài của doanh nghiệp được Chính phủ
bảo lãnh cũng có xu hướng tăng, từ 6,4% năm 2005, đã tăng lên 13,3% năm
2008 và 14,27% trong năm 2009.
Vay và trả nợ nước ngoài của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
Bên cạnh khoản vay trực tiếp của chính quền trung ương, các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương khi muốn gia tăng nguồn vốn đầu tư phát triển
cũng tiến hành hoạt động vay nợ dưới hai hình thức, phát hành trái phiếu
chính quyền địa phương và vay nước ngoài. Trên thực tế, vốn vay nước

Trái phiếu quốc tế của chính phủ đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của
các nhà đầu tư nước ngoài trên khắp thế giới. Trong số 255 nhà đầu tư mua
trái phiếu có 51% là các quỹ đầu tư tài chính, ngân hàng là 25%, các công
ty bảo hiểm là 17% và 7% là các tổ chức đầu tư khác. Số trái phiếu này được
phát hành rộng rãi ở Châu Á (nắm giữ 38%), Châu Âu (32%) và Châu Mỹ
(30%).
Trên là những hình thức vay nợ tiêu biểu của Việt Nam. Nợ nước ngoài
của Chính Phủ gia tăng qua các năm, phần nào đáp ứng nhu cầu hỗ trợ vốn
cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế-xã hội.
2. Tình hình thực trạng quản lí nguồn vốn và quản lí nợ n ước
ngoài ở Việt Nam
2.1 Các công cụ, cơ chế và chế tài quản lí nợ nước ngoài của Việt Nam
a. Cơ cấu phân công trách nhiệm về quản lý nợ nước ngoài
- Các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nợ nước ngoài gồm có:
+ Bộ Kế hoạch và Đầu tư
+ Bộ Tài chính
+ Ngân hàng nhà nước VN
+ Bộ tư pháp
Trách nhiệm của các cơ quan trong việc quản lý nợ nước ngoài:
Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối của Chính phủ thực hiện việc quản lý
Nhà nước về vay, trả nợ nước ngoài, có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Kế hoạch
Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt chương trình quản lý nợ trung hạn, kế hoạch hàng năm về vay và trả
nợ nước ngoài của Chính phủ, của các tổ chức thuộc khu vực công và tổng
hạn mức vay thương mại nước ngoài của quốc gia.
Bộ Tài chính cũng có trách nhiệm tổ chức đàm phán, ký kết các Điều
ước quốc tế về vay và bảo lãnh vay vốn nước ngoài của Chính phủ theo ủy
quyền hoặc phân công của Thủ tướng Chính phủ, quản lý tài chính đối với
các khoản vay nước ngoài của Chính phủ. Đại diện chính thức cho người
vay đối với các khoản vay nước ngoài của Nhà nước, Chính phủ tại thoả

với cân đối kinh tế vĩ mô.
Đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý nợ nước ngoài, gạt bỏ sự
chồng chéo trong phân công và phân nhiệm.
Tìm kiếm khả năng giảm được nợ hơn nữa thông qua việc chủ động cơ
cấu lại nợ, chuyển đổi lại nợ. Thu hút các luồng tài chính không mang tính
chất nợ như Đầu tư trực tiếp nước ngoài…
Khi phát hành trái phiếu, cần xem xét đến khả năng trả nợ để tránh rủi ro.
Đặc biệt các doanh nghiệp nhà nước vay lại nguồn vốn này, cần rà soát lại
nhu cầu của doanh nghiệp này, phải có kế hoạch khai thác và sử dụng nguồn
vốn hiệu quả. =>Cần có cơ chế giám sát mang tính thị trường đối với doanh
nghiệp nhà nước vay vốn từ nguồn vốn phát hành trái phiếu quốc tế của
Chính phủ để đảm bảo khả năng trả nợ.
2.2 Thực trạng sử dụng và hoàn trả nợ nước ngoài của Việt Nam
a.Về sử dụng nợ nước ngoài của chính phủ:
• Vay nợ nước ngoài của Chính Phủ, đặc biệt là vốn ODA được ưu tiên
sử dụng để phát triển hạ tầng kinh tế và xã hội, tập trung vào các lĩnh
vực sau:
• Phát triển hệ thống giao thông (đường bộ, đường thuỷ, đường sắt và
đường hàng không)
• Phát triển hệ thống nguồn và lưới điện
• Phát triển nông nghiệp và nông thôn gắn với xoá đói giảm nghèo
• Cấp thoát nước và vệ sinh môi trường
• Y tế, dân số và kế hoạch hoá gia đình
• Giáo dục, đào tạo và dạy nghề
• Khoa học - công nghệ - môi trường
• Tăng cường năng lực, phát triển thể chế và quản lý nhà nước
b.Về hoàn trả nợ nước ngoài của chính phủ:
Dự kiến nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ nước ngoài của Chính
phủ, tính cả gốc và lãi, sẽ vượt 1 tỷ USD trong năm 2009; tăng trong các
năm tiếp theo mà đỉnh điểm lên đến trên 2 tỷ USD vào năm 2016, trước khi

nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên
1,9%/năm trong năm 2009 và năm nay đạt tới 2,1%/năm.
Thêm vào đó, hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam còn thấp. Lợi
suất lên đến hơn 7% đối với khoản 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ ngoại tệ
được phát hành ra thị trường quốc tế vào đầu năm nay lý giải phần nào nhận
định này.
2.3 Nguyên nhân và một số tồn tại trong quản lí nợ nước ngoài
A. Một số tồn tại và bất cập trong công tác quản lí nợ nước ngoài
của Việt Nam
a.Tồn tại trong quản lý vĩ mô
Về mặt kinh tế vĩ mô, nền tài chính chưa hoàn toàn thoát khỏi tình trạng
ức chế, thể hiện ở việc tín dụng vẫn chủ yếu “rót” vào các doanh nghiệp nhà
nước theo các điều kiện ưu đãi, trong khi các doanh nghiệp tư nhân chỉ được
tiếp cận một cách hạn chế; lãi suất thực bị giữ ở mức quá thấp. Nền tài khoá
thâm hụt thường xuyên và phần nào phụ thuộc vào phần thu từ dầu mỏ. Cơ
chế cấp bảo lãnh và cho vay lại nguồn vốn ODA của Chính phủ nói chung
vẫn có xu hướng tập trung tín dụng ưu đãi vào các doanh nghiệp nhà nước,
trong khi chưa có những dấu hiệu đáng kể cho thầy rằng hiệu quả của các dự
án tài trợ đã được thẩm định một cách nghiêm ngặt, với chất lượng cao và do
các dơ quan thẩm định thích đáng. Việc phân bổ các nguồn tín dụng ưu đãi
như vậy có khả năng gây tác động cản trở quá trình cải cách doanh nghiệp
nhà nước theo hướng nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Thêm
vào đó, việc ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước như vậy vi phạm các quy
định của WTO mà nay nước ta đã là thành viên đầy đủ, do vậy chính sách
này cần được cân nhắc lại một cách kỹ lưỡng. Một tác động tiêu cực nữa của
chính sách này, đó là hạn chế khả năng tiếp cận với nguồn vốn vay nước
ngoài của các doanh nghiệp tư nhân nói chung, qua đó làm hạn chế tiềm
năng phát triển.
b . Tồn tại trong khung thể chế quản lý nợ nước ngoài
Mặc dù đã có nhiều biện pháp cải cách và hoàn thiện, song khung thể

đang tồn tại. Tương tự với sự tồn tại song song của các quy định về quản lý
nguồn vốn ODA và các quy định về quản lý nợ nước ngoài nói chung mà
trong đó là phần lớn là nợ ODA là sự theo dõi và làm đầu mối song song của
hai ngành cho cùng một chủ thể quản lý. Kết quả là còn khá nhiều sự chồng
chéo về chức năng, nhiệm vụ của hai bộ kinh tế chủ chốt này, đặc biệt là
trong các lĩnh vực lập kế hoạch tập trung, chính sách, thu thập thông tin,
giám sát và đánh giá hiệu quả vốn vay nước ngoài. Việc này gây lãng phí
nguồn lực không cần thiết và phức tạp trong quản lý nợ.
d . Tồn tại trong cơ chế quản lý nợ nước ngoài
Phân công trách nhiệm quản lý nợ còn nhiều điểm bất hợp lý. Việt Nam
hiện nay chưa có một cơ quan chuyên biệt về quản lý nợ. Nhiệm vụ quản lý
nợ được giao cho nhiều cơ quan khác nhau tuỳ theo chuyên môn chức năng
của họ như Bộ Tài chính (Bộ TC), Bộ Kế hoạch - Đầu tư (Bộ KH & ĐT),
Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Quỹ Hỗ trợ Phát triển - nay là Ngân hàng
Phát triển Việt Nam. Tuy nhiên sự phân công trách nhiệm còn phân tán và
còn nhiều điểm bất hợp lý. Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành chưa được
quy định rõ ràng.
e . Tồn tại trong quản lý cấp tác nghiệp
Cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài hiện còn đang trong quá trình hình
thành. Mặc dù Chính phủ đã có Quy chế về thu thập, tổng hợp, báo cáo và
công bố thông tin về nợ nước ngoài (ban hành năm 2006), song việc xây
dựng một cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài và quy trình thu thập thông tin,
phân tích, tổng hợp và báo cáo còn đòi hỏi thời gian. Để đảm bảo hoàn thành
được công tác này, đòi hỏi phải đầu tư nhiều vào việc nâng cao năng lực cán
bộ, nguồn lực tổ chức, xây dựng phương tiện và các quy trình thực hiện.
Cảnh báo và quản lý rủi ro còn hạn chế: Cũng theo Quy chế Quản lý vay và
Trả nợ nước ngoài (2005), Ngân hàng Nhà nước sẽ phải thiết lập được hệ
thống cảnh báo sớm về rủi ro từ nợ của khu vực doanh nghiệp. Cho đến nay,
quy định này mới chỉ là mong muốn của Chính phủ. Sự cần thiết phải đánh
giá rủi ro tự việc vay nợ thương mại sẽ tăng lên nhanh chóng khi Việt Nam

không tính toán hiệu quả kinh tế, tính bền vững của dự án cũng như khả
năng trả nợ.
b. Thiếu hụt kinh nghiệm quản lý nợ
Cho đến nay, vay nợ thương mại nước ngoài của Việt Nam cũng còn rất
ít ỏi, do vậy kinh nghiệm quản lý và kiểm soát nợ thương mại còn khá hạn
chế. Nhiều phương pháp phân tích, các chỉ số, các mô hình nợ, quy trình thu
thập số liệu và báo cáo, hệ thống tổ chức… đều là mới. Quá trình học hỏi,
tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm cũng như xây dựng thể chế và cơ chế
quản lý đòi hỏi thời gian và kinh nghiệm. Một số biểu hiện kém thích ứng
với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong cách thức quản lý nợ nước
ngoài ở Việt Nam có thể nói là tất yếu.
c. Nhiều văn bản cùng điều chỉnh một đối tượng quản lý
Phân tích về tồn tại trong khuôn khổ tổ chức quản lý nợ cho thấy việc
phân công trách nhiệm quản lý còn nhiều trùng lặp và mâu thuẫn trong các
văn bản pháp quy cũng như trong thực tiễn thực hành các quy định. Nguyên
nhân của các sự việc trên là do có nhiều văn bản cùng điều chỉnh một đối
tượng quản lý. Một nguyên nhân sâu xa hơn nằm trong phân chia quyền lực
của các cơ quan Chính phủ, trong đó có những “tồn tại lịch sử” rất khó thay
đổi nếu không có những quyết định chính trị mạnh mẽ ở cấp trên.
d. Thiếu hụt đối ngũ cán bộ chuyên môn
Sự thiếu hụt về đội ngũ cán bộ chuyên môn là một trong những nguyên
nhân đáng kể dẫn đến những hạn chế của hệ thống quản lý nợ quốc gia.
Trước đây ngành giáo dục Việt Nam chưa đào tạo chuyên ngành quản lý nợ
nước ngoài và các chuyên ngành tài chính quốc tế dù đã được tổ chức đào
tạo nhưng trên thực tế chưa đủ cập nhật về kiến thức và kỹ năng quản lý nợ
nước ngoài. Đội ngũ cán bộ của các cơ quan quản lý nợ nước ngoài chủ yếu
vừa làm vừa học. Các khoá đào tạo và tập huấn ngắn hạn chủ yếu do các dự
án ODA cung cấp, không thể đủ để giúp hình thành một lực lượng chuyên
gia đảm bảo thu thập thông tin, phân tích và dự báo cũng như tổ chức các
hoạt động nghiệp vụ một cách thích đáng.

mục cần phân bổ thì sẽ không được xem xét cấp vốn như thế nguồn vốn sẽ
được sử dụng đúng mục đích hơn.
- Cần phải xác định rõ về nhận thức rằng nguồn vốn ODA là một bộ phận
của NSNN, là một bộ phận của nguồn tài chính quốc gai và tạo gánh nặng
nợ cho người dân không chỉ trong hiện tại mà còn trong tương lai. Nói như
thế để tránh nhưng quan điểm nhìn nhận còn chưa đúng về nguồn vốn tài trợ
ODA. Vì trong nguồn vốn ODA có 1 phần là viện trợ khônh hoàn lại, song
phần này chỉ chiếm khoảng 20-30% phần còn lại là vốn đi vay. Do thời hạn
vay dai,lãi suất thấp, áp lực trả nợ chỉ phát sinh sau 1 thời gian dài sau này
nên dễ tạo ra sự chủ quan trong việc sử dụng vốn tạo hiệu quả vì vẫn còn tồn
tại suy nghĩ trong 1 bộ phận là vốn này là nhà nước cho nên nhiều khi còn sử
dụng 1 cách lãng phí gây thất thoát tài sản. Ngoài ra nhận thức sai lệch đó
cũng do cơ quan đàm phán trực tiếp với các nhà tài trợ thường là các bộ,
nghành trong chính phủ nên chủ đầu tư chưa thấy hết được tác động của
những điều kiện khó khăn ràng buộc lên khoản vốn vay. Vì thế xác định cho
người có liên quan về nghĩa vụ và trách nhiệm là 1 công việc cấp thiết để
tránh gây ra hậu quả xấu.
- Có một khung pháp lí rõ ràng sở dĩ dung từ khung pháp lí ở đây bởi trên
thực tế một dự án đầu tư gặp phải vấn đề chồng chéo trong thủ tục chuẩn bị
và triển khai đầu tư, điều đó thể hiện ở chỗ nhiều dự án phải thực hiện cùng
1 lúc 2 hệ thống thủ tục. Một thủ tục để giải quyết vấn đề nội bộ trong nước,
một thủ tục với nhà tài trợ do chỉ có khoảng 4% lượng vốn ODA áp dụng
các quy định về đấu thầu và 3% sử dụng hệ thống quản lí tài chính công của
VN còn lại là theo cách thức của nhà tài trợ. Chính điều này đã làm kéo dài
thời gian thực hiện dự án, gia tăng chi phí (bao gồm các chi phí chuẩn bị dự
án, tăng chi phí đầu tư do lạm phát mỗi năm lại gia tăng bởi thời gian kéo
dài) không những thế nó dẫn tới tình trạng tỉ lệ giải ngân thấp và dự án kéo
dài sẽ làm giảm tính hiệu quả khi đi vào vận hành khai thác. Để khắc phục
tình trạng này thì nhà nước cần phải chấp nhận dự án nhà tài trợ nào được
phép áp dụng và hướng dẫn của nhà tài trợ đó. Nhưng dù đã cố gắng nhiều

trách nhiệm cho nhau giữa các cấp khi dự án gặp khó khăn hay không hoàn
thành. Vì vậy Chính phủ cần phải xây dựng một hệ thống tiêu chí hợp lí
phân cấp quản lí vốn ODA dựa trên qui mô, trách nhiệm trả nợ, năng lực
quản lí vốn ODA của địa phương, lĩnh vực đầu tư của dự án,…
- Nâng cao năng lực của đội ngũ quản lí, nhìn chung năng lực của cán bộ
quản lí là chưa đạt được yêu càu. Năng lực của đội ngũ này ở các bộ nghành
còn tương đối tốt do được chuyên môn hóa được đào tạo bồi dưỡng và có
điều kiện tiếp xúc với thông tin cần thiết một cách thường xuyên. Nhưng đội
ngũ này ở cấp địa phương và cơ sở chưa đáp ứng nhu cầu do không được
đào tạo bài bản có chăng chỉ là thực hiện các dự án nhỏ lẻ và thỉnh thoảng
nên kinh nghiệm chưa có, điều này là rất nguy hiểm do trình độ còn thiếu và
yếu nên dễ dàng làm thất thoát nguồn vốn hoặc phân bổ sai mục đích không
phục vụ yêu cầu phát triển của địa phương nên cần phải tập huấn kĩ năng
thường xuyên, tạo mầm thế hệ quản lí mới có trình độ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status