Lịch sử ra đời và các tư tưởng chủ đạo của lý thuyết Marketing - 1 - Pdf 21

Chương i : những lý luận chung về marketing.
I. Sự ra đời và phát triển của Marketing:
Đặc trưng lớn nhất của hàng hoá là nó được sản xuất ra để bán. Do đó bán hàng là
một trong những khâu quan trọng nhất của tái sản xuất hàng hoá và cũng là khâu quan
trọng nhất của kinh doanh. Bán hàng là một trong những khâu cuối cùng của kinh
doanh. So với các khâu khác trong quá trình tái sản xuất, khâu bán hàng có một số đặc
trưng như: thể hiện tập trung mâu thuẫn của người mua và người bán, thế mạnh của
doanh nghiệp và của sản phẩm được thể hiện rõ nhất. Đồng thời các mặt yếu cũng
được tập trung ở đây: cạnh tranh quan hệ sản xuất và tiêu dùng quan hệ tiền hàng cũng
qua khâu này mà gặp nhau sản xuất hàng hoá càng phát triển, nhu cầu buôn bán càng
lớn, các đặc trưng và các mâu thuẫn này càng được thể hiện rõ nét hơn. Các mâu thuẫn
đó tồn tại khách quan trong quá trình kinh doanh và gắn liền với khâu bán hàng. Dù là
những doanh nghiệp nhỏ hay các doanh nghiệp lớn đã hoạt động trên thương trường,
họ muốn tồn tại thì không thể lẩn tránh được những mâu thuẫn đó. Giải quyết các mâu
thuẫn này được thực hiện ở khâu bán hàng. Tuỳ theo những điều kiện cụ thể của sự
phát triển hàng hoá và của các mâu thuẫn gắn với nó mà các nhà kinh doanh phải tìm
ra các giải pháp khác nhau để giải quyết các mâu thuẫn trên. Đó chính là cơ sở, là
nguồn gốc của sự ra đời Marketing. Sẽ không là khoa học nếu cho rằng sự ra đời của
Marketing là do yêu cầu giải quyết mâu thuẫn khủng hoảng thừa của TBCN. Đây chỉ
là yếu tố bức bách buộc các nhà khoa học cũng như các nhà kinh doanh phải phát triển
lí luận Marketing cho phù hợp với những điều kiện mới.
Thuật ngữ Marketing có nguồn gốc từ tiếng Anh (Marketing là thị trường, là cái chợ)
được quốc tế hoá sử dụng trực tiếp mà không dịch ngữ. Từ những năm đầu thế kỉ 20,
các nhà kinh doanh nội ngoại thương của Nhật, Anh, Mỹ, Trung Quốc đã có những
chủ trương khẩu hiệu: hãy bán hàng mà khách cần, khách hàng không mua hãy vui vẻ
nhận lại Với các chủ trương này, các nhà kinh doanh thương nghiệp đã bán hàng
nhanh hơn, khối lượng bán lớn hơn và lợi nhuận thu cũng nhiều hơn. Các nhà kinh
doanh nhận thức được là không có thị trường, không có người tiêu thụ thì không thể
tiến hành sản xuất và không thể có lợi nhuận, không thể có sự giàu sang. Giai cấp tư
sản coi trọng thị trường, chú trọng nhiều hơn đến người tiêu dùng. Nhờ nhận thức này
thì Markering bao hàm một ý nghĩa rộng lớn và mở rộng lĩnh vực, phạm vi, đối tượng

đến người tiêu thụ.”
- Định nghĩa của Uỷ Ban hiệp hội Marketing Mỹ:
“Marketing là việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng
chuyển vận hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.”
- Định nghĩa của Philip Kotler (Mỹ)- Chủ tịch hiệp hội Marketing thế giới:
“Marketing là sự phân tích, tổ chức, kế hoạch hoá và kiểm tra những khả năng thu hút
khách hàng của một công ty cũng như chính sách và hoạt động với hoạt động với quan
điểm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của nhóm khách hàng đã lựa chọn Hoạt động
của Marketing là một quá trình hoạt động được coi như phương tiện đẩy nhanh quá
trình lưu thông hàng hoá. Hoạt động của Marketing bắt đầu từ khi sản phẩm được sản
xuất ra và kết thúc khi nó bán trực tiếp cho người tiêu dùng.”
-Định nghĩa của Brifish Institue of Marketing (Anh):
“Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt
động linh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu
cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa hàng hoá đó đến người tiêu thụ cuối
cùng, nằm đẩm bảo cho công ty thu được lợi nhuận như đã dự kiến.”
- Định nghĩa của John H.Crighton (Autralia):
“Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đúng kênh hay luồng hàng, đúng thời
gian và đúng địa điểm.”
- Định nghĩa của V.J.Stanton:
“Marketing là một hệ thống tổng thể của những hoạt động kinh doanh được biểu hiện
bằng kế hoạch, giá cả, khuyếch trương và phân phối những hàng hoá dịch vụ nhằm
thỏa mãn những nhu cầu mong muốn của khách hàng hiện tại và tiềm năng.”
- Định nghĩa của Peter Drucker – nhà kinh tế học cận đại Mỹ:
“Marketing là toàn bộ những công việc kinh doanh nhìn theo quan điểm của người tiêu
thụ.”
Từ những định nghĩa nêu trên chúng ta thấy cách hiểu về Marketing hết sức phong phú
và đa dạng. Hại định nghĩa đầu phù hợp với Markeitng truyền thống còn các định
nghĩa sau thì phù hợp với Marketing hiện đại. Mỗi định nghĩa chỉ đúng xét theo quan
điểm về mặt thời gian, đúng tại thời điểm này. Do đó cho đến nay người ta vẫn thống

vững vàng để tồn tại và phát triển. Do đó muốn tìm hiểu thi trường thì ta sẽ tiến hành
nghiên cứu qua lý luận của Marketing.
Tuỳ theo góc độ xem xét và phạm vi nghiên cứu người ta có thể phân biệt các chức
năng của Marketing:
1.Xét trên phạm vi tổng quát thì Marketing có 2 chức năng:
1.1.Chức năng chính trị, tư tưởng:
Marketing theo sự đánh giá của giới học giả kinh tế TBCN là một “thành quả kinh tế
có tính quyết định của họ” Nó có nhiệm vụ chữa cho xã hội tư bản khỏi những căn
bệnh hiểm nghèo là khủng hoảng, lạm phát thất nghiệp Họ cho rằng Marketing là vũ
khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống khủng hoảng, là bằng chứng cho thấy CNTB
cũng có khả năng biến đổi nhất định như chuyển hoá thành “một xã hội tiêu thụ” một
xã hội sung sướng Họ hy vọng rằng Marketing sẽ tạo ra một không khí thân mật và
tin tưởng cho người tiêu dùng.
1.2. Chức năng kinh tế:
Hoạt động Marketing có mục tiêu đầu tiên đối với doanh nghiệp là đem lợi nhuận về
cho họ. Do đó chức năng kinh tế là chức năng quan trọng nhất của Marketing. Chức
năng này được thể hiện thông qua việc bán hàng ra thị trường và Marketing sẽ là công
cụ cho việc sinh lãi. Chức năng kinh tế đòi hỏi doanh nghiệp phải:
- Nghiên cứu, phân tích nhu cầu thị trường, từ đó dự đoán triển vọng của khách hàng.
- Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích như trên thì sẽ lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm.
- Có kế hoạch tài chính để đáp ứng việc lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Thông qua chức năng kinh tế của Marketing thì người ta sẽ hạn chế bớt những dao
động không ổn định và tự phát của thị trường. Qua đó người ta có thể cản phá những
khả năng xấu có thể xảy ra những rủi ro trong kinh doanh cho doanh nghiệp.
2.Xét theo vai trò của Marketing trong quản lý kinh tế thì có 4 chức năng:
2.1. Làm cho sản phẩm thích ứng với nhu cầu thị trường:
Mỗi người tiêu dùng đều có những cá tính, thị hiếu khác nhau những khả năng tiêu thụ
khác nhau. Do đó để sản phẩm hấp dẫn người mua thì có thể phải mới hoặc phải do
đặc tính sử dụng của nó luôn được cải tiến, nâng cao. Và với mỗi sản phẩm thì người

trung dân cư sẽ cần có những cửa hàng đại lý để bán sản phẩm của họ. Còn ở những
nơi dân cư thưa thớt thì sẽ cần những cửa hàng bán lẻ, có vậy việc tiêu thụ sản phẩm
của công ty mới đạt được kết quả cao.
2.3. Chức năng tiêu thụ hàng hoá:
Doanh nghiệp muốn sản phẩm của mình được tiêu thụ nhanh để có thể đảm bảo quá
trình tái sản xuất thì doanh nghiệp phải giải quyết vấn đề: chính sách giá, cơ cấu giá,
thành phần giá để vẫn có lãi. Muốn vậy doanh nghiệp phải kiểm soát giá: khi nào cần
bán giá cao, khi nào bán giá thấp so với những đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra chính
trong những lúc kiểm soát giá thì cũng chỉ ra cho doanh nghiệp những nghiệp vụ và
nghệ thuật bán hàng để có lợi nhuận. Và chính những chính sách giá cả có ảnh hưởng
lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Ví dụ: Trong xây dựng cơ bản hiện nay các doanh nghiệp đã và đang thực hiện đấu
thầu các công trình xây dựng giá bỏ thầu với nhiều phương án giá khác nhau. Đến khi
thắng thầu thì họ lại xây dựng giá thi công công trình.
2.4. Chức năng yểm trợ:
Doanh nghiệp phải tạo ra ấn tượng của người tiêu dùng đối với sản phẩm của mình,
tạo nên lòng ham thích để từ đó kích thích họ mua sản phẩm của mình. Do đó với chức
năng yểm trợ thì Marketing sẽ là quảng cáo, khuyếch trương, tuyên truyền cho những
cái ưu việt của sản phẩm mình nên chức năng trên rất quan trọng trong toàn bộ hoạt
động Marketing của doanh nghiệp. Thuộc chức năng này thì Marketing bao gồm các
hoạt động:
- Quảng cáo: thu hút, thuyết phục người tiêu dùng.
- Xúc tiến bán hàng: thu hút sự chú ý và làm hấp dẫn người tiêu dùng hơn ở nơi bán
hoặc nơi tiêu thụ.
- Dịch vụ hỗ trợ sản phẩm: cung cấp thêm người tiêu dùng, sách hướng dẫn sử dụng,
sửa chữa, hội trợ triển lãm.
Ví dụ: một công ty điện tử điện lạnh X vừa tung ra thị trường một loại máy giặt mới.
Công ty vừa quảng cáo trên tivi vừa có những áp phích treo trên khắp đường phố. Nếu
mua loại máy giặt mới đó sẽ được tặng 1 gói bột giặt và được bảo hành trong vòng 2
năm. Đây là một hình thức bán hàng sử dụng nhiều đến các hoạt động Marketing.

- Marketing quốc tế.
2.3. Căn cứ vào thời gian và mức độ hoàn thiện lí luận:
- Marketing truyền thống.
- Marketing hiên đại.
3. Marketing Mix:
3.1. Khái niệm:
Marketing – Mix là sự phối hợp hay sắp xếp những thành phần của Marketing sao cho
phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
Các thành phần của Marketing bao gồm: chính sách sản phẩm, chính sách giá cả,
chính sách phân phối, chính sách giao tiếp và khuyếch trương. Nếu sự phối hợp nhịp
nhàng giữa các thành phần mà trôi chảy thì công việc kinh doanh sẽ thành đạt. Cũng
giống như một hoạ sĩ vẽ tranh, những thành phần của Marketing là những màu vẽ.
Người hoạ sĩ sẽ vẽ một bức tranh đẹp thì đó là kết quả của sự phối màu tuyệt vời. Hay
một nhà kinh doanh giỏi thì sẽ biết phối hợp bốn thành phần trên thật hợp lý để kinh
doanh có l•i.
3.2. Các đặc tính biểu hiện của Marketing - Mix:
Marketing – Mix là biểu hiện cụ thể nhất về sự linh hoạt của một doanh nghiệp. Đó là
sự linh hoạt trước sự thay đổi ngắn hạn nhằm phù hợp với nhu cầu mới.
Với cùng một loại sản phẩm thì từng doanh nghiệp sẽ có những chính sách Marketing
– Mix khác nhau: chính sách sản phẩm, giá Doanh nghiệp sẽ dựa vào chu kỳ sống
sản phẩm để đưa ra chính sách Marketing Mix cho phù hợp: đầu tiên doanh nghiệp sẽ
chú trọng tới quảng cáo, sau đó là nơi cung cấp cuối cùng vào chất lượng.
Ví như một sản phẩm dầu gội mới đưa ra thị trường thì trước tiên doanh nghiệp sẽ chú
trọng đến quảng cáo. Sau khi sản phẩm được tiêu thụ với khối lượng lớn thì chi phí
cho quảng cáo sẽ giảm đi. Thay vào đó là chính sách phân phối và cuối cùng đến chính
sách sản phẩm khi đó việc bán hàng sẽ có hiệu quả hơn.
Nội dung của Marketing phụ thuộc vào tính chất của hàng hoá, dịch vụ (máy móc,
thiết bị hay hàng tiêu dùng ) tuỳ thuộc vào vị trí của doanh nghiệp trên một thị trường
cụ thể.
Như ở thị trường Hà Nội thì thị hiếu nghiêng về hãng bia Hà Nội còn trong miền Nam

hàng ngày càng sử dụng phổ biến các công cụ lập giá với chi phí giá cả cá biệt của
hàng hoá song song với việc tăng cường quảng cáo và kích thích tiêu thụ. Do vậy
doanh nghiệp rất cần những thông tin xem sự phản ứng của người tiêu dùng như thế
nào đối với các biện pháp Marketing đã đưa ra của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp đòi hỏi các thông tin ngày càng nhiều để phục vụ cho việc kế hoạch
hoá, điều chỉnh các mục tiêu Những thông tin nay bao gồm các thông tin về quá khứ,
hiện tại và tương lai về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Tình hình đó bắt
buộc các doanh nghiệp phải có hệ thống thông tin Marketing.
2. Khái niệm hệ thống thông tin Marketing:
Hệ thống tông tin Marketing là hệ thống hoạt động thường xuyên liên tục của sự tương
tác giữa con người, thiết bị và các phương tiện tính toán dùng để thu thập, phân loại,
phân tích đánh giá và truyền đi những thông tin chính xác, kịp thời, cần thiết để người
phụ trách lĩnh vực Marketing sử dụng chúng với mục tiêu lập, tổ chức thực hiện, điều
chỉnh kế hoach Marketing và kiểm tra việc áp dụng các biện pháp Marketing.
3. Các bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin Marketing:
3.1. Hệ thống báo cáo nội bộ:
ở bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có sự thuyết trình bên trong thông qua hệ thống
báo cáo nội bộ, phản ánh các chỉ tiêu về lượng tiêu thụ thường xuyên, tổng chi phí,
khối lượng vật tư dự trữ, sự chu chuyển tiền mặt Ngày nay đang trong thời đại vi
tính hoá thì những nhà quản lý có thể nhận biết được nhiều thông tin trong một thời
gian ngắn. Điều này sẽ là yếu tố cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
3.2.Hệ thống thu thập thông tin từ bên ngoài:
Hệ thống này phục vụ đắc lực cho những người lãnh đạo về các sự kiện diễn ra trên
thương trường. Thông tin này có thể thu thập từ sách báo, ấn phẩm chuyên ngành,
thông tin đại chúng, truy cập Internet, nói chuyện với khách hàng, với các nhà cung
cấp, tổ chức tài chính Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay thì các doanh
nghiệp phải tìm nhiều cách, áp dụng nhiều phương pháp để có được những thông tin
bên ngoài một cách thường xuyên, kịp thời và chính xác.
3.3. Hệ thống nghiên cứu Marketing:
Nghiên cứu Marketing là việc xác định một cách có hệ thống những tài liệu cần thiết

triển của doanh nghiệp. Nó nghiên cứu thị trường để tìm ra sản phẩm mới, tìm hiểu đối
thủ cạnh tranh, các hoạt động yểm trợ để cuối cùng nhằm đạt được mục tiêu của
doanh nghiệp đó là lợi nhuận. Do đó để tổ chức có hiệu quả các hoạt động Marketing
thì các nhà quản lý phải hình dung ra tất cả các hoạt động đó, sắp xếp chúng vào các
bộ phận chức năng để đảm bảo phối hợp bộ phận này với các bộ phận khác để tạo nên
sự hoạt động tổng thể cho toàn doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức của Marketing trong doanh nghiệp:
Theo sơ đồ tổ chức Marketing này ta thấy có sự tập trung cao, các phân tích viên được
bố trí ở 1 bộ phận Marketing cụ thể, việc tiếp xúc khách hàng thông qua 1 đầu mối.
Theo sơ đồ tổ chức Marketing này ta thấy các phân tích viên nằm trong 1 bộ phận
Marketing nhưng việc tiếp xúc với khách hàng được tách đều.
Theo sơ đồ tổ chức Marketing này ta thấy các phân tích viên nằm rải rác ở các bộ
phận, không có sự tập trung vào 1 bộ phận Marketing.
Khi tổ chức hoạt động của Marketing trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng cần
chú ý đến những tài nguyên cho Marketing. Đây là điều không thể thiếu và nó ảnh
hưởng đến kết quả hoạt dộng của bộ phận Marketing trong doanh nghiệp. Đó là:
- Tạo lập ngân sách hay chính là quĩ dành cho Marketing.
- Nhân lực.
VII. Khái quát về Marketing trong xây dựng:
Hoạt động Marketing trong xây dựng hay trong các doanh nghiệp xây dựng hiện nay
vẫn là những vấn đề khá mới mẻ và khó khăn. Do hoạt động xây dựng có nhiều đặc
điểm mang tính đặc thù riêng so với công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cho nên việc
áp dụng Marketing căn bản vào lĩnh vực sản xuất xây lắp trên cơ sở không thể tách rời
những đặc điểm về sản phẩm và quá trình sản xuất ra sản phẩm xây dựng là việc hoàn
toàn đúng đắn. Chính điều đó đã tạo nên những điểm khác biệt so với Marketing hàng
hoá tiêu dùng của Marketing trong xây dựng:
- Marketing xây dựng chịu sự điều tiết mạnh hơn của đường lối, chính sách xây dựng
kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước. Việc cạnh tranh trong xây dựng luôn diễn ra
nhưng phải cạnh tranh lành mạnh, hài hoà các lợi ích và chú ý đến lợi ích quốc gia.
- Các doanh nghiệp xây dựng cũng phải tiến hành hoạt động Marketing một cách

loại hàng hoá nào đó. Thị trường còn bao gồm các yếu tố không gian và thời gian và
thị btrường là trung tâm của các hoạt động kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì các doanh nghiệp phải tự sản xuất kinh
doanh, tự vận động và phát triển nhưng vẫn nằm trong sự quản lý theo chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Muốn giành được vị thế nhất định trong
thị trường thì các doanh nghiệp cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thị trường để từ đó đưa
ra định hướng hoạt động cho doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp phải tìm hiểu và biết
rõ các yếu tố cấu thành thị trường để từ đó thấy được những tác động của nó lên hoạt
động của doanh nghiệp. Kể từ khi sinh ra và cho đến nay thì thị trường cũng có các
yếu tố cấu thành chủ yếu sau:
- Người mua: là những cá nhân, tổ chức kinh tế-xã hội tham gia vào thị trường nhằm
đạt được những mục đích, mụa tiêu đã định trước. Người mua luôn mong muốn mua
được những hàng hoá có chất lượng tốt, phong phú về chủng loại, giá cả hợp lý
Trong xây dựng cơ bản thì người mua là những chủ đầu tư (mua công trình xây dựng)
có thể là những doanh nghiệp xây dựng (mua nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị ).
- Người bán: là những cá nhân, tổ chức kinh tế- xã hội bán những sản phẩm hàng hoá
và dịch vụ mà thị trường có nhu cầu. Họ mong muốn sẽ bán được nhiều hàng hoá,
giành nhiều hợp đồng kinh tế, giá bán cao để thu được lợi nhuận. Hơn nữa, họ còn
muốn mình càng chuyên sâu, càng chiếm lĩnh thị trường càng tốt. Trong xây dựng cơ
bản thì người bán có thể là doanh nghiệp xây dựng, các nhà cung cấp nguyên vật liệu,
máy móc, thiết bị
- Vật bán: là những vật mà người bán có và người mua có nhu cầu tiêu dùng và sử
dụng.
- Môi trường: xét trong quan hệ kinh tế là những nhân tố khác tồn tại bên ngoài hệ
thống thị trường, nó có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến những hành vi trao
đổidiễn ra trong hệ thống thị trường.
Với các yếu tố cấu thành chủ yếu của thị trường như ở trên thì các doanh nghiệp chính
là những người mua (mua tư liệu sản xuất) vừa là người bán (bán sản phẩm). Để có thể
hiểu được thị trường, nghiên cứu nó một cách khoa học nhất thì vấn đề đặt ra là cần
phải xem xét những vai trò và chức năng chủ yếucủa thị trường.

gồm 4 chức năng sau:
2.1. Chức năng thừa nhận:
Sản phẩm hàng hoá được sản xuất ra không phải là để cho người sản xuất tiêu dùng
mà họ sản xuất ra để bán. Khi hàng hoá được bán ra cho người tiêu dùng thì chính
hành động mua bán này đã được thông qua chức năng thừa nhận của thị trường. Thị
trường thừa nhận cũng chính là người mua chấp nhận, điều này có nghĩa là về cơ bản
quá trình tái sản xuất xã hội của hàng hoá đa hoàn thành. Bởi vì bản thân việc tiêu tiêu
dùng sản phẩm và các chi phí tiêu dùng đã khẳng định thị trường khi hàng hoá được
bán.
Thị trường thừa nhận: tổng khối lượng hàng hoá đưa ra thị trường, cơ cấu cung cầu,
quan hệ cung cầu đói với từng hàng hoá, thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của hàng
hoá, chuyển giá trị sử dụng và giá trị cá biệt thành giá trị giá trị sử dụng và giá trị xã
hội
Một cách tổng quát thì chức năng thừa nhận của thị trường được thể hiện trên 2 mặt:
- Sự chấp nhận hàng hoá hay dịch vụ của người mua trên thị trường (chấp nhận sản
phẩm của người bán).
- Sự chấp nhận sản xuất và cung ứng hàng hoá hay dịch vụ của người bán trên thị
trường (mong muốn mua hàng của người mua).
Thị trường không phải chỉ thừa nhận thụ động các kết quả của quá trình tái sản xuất,
quá trình mua bán mà thông qua sự hoạt động của các qui luật kinh tế trên thị trường
mà thị trường còn kiểm tra, kiểm nghiệm quá trình tái sản xuất, quá trình mua bán
trước đó.
2.2. Chức năng thực hiện:
Sau khi hàng hoá được sản xuất ra trên thị trường sẽ diễn ra những hoạt động mua bán
giữa khách hàng và người sản xuất. Do đó hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất,
bao trùm cả thị trường. Hoạt động này được tiến hành giữa bên mua và bên bán với
đặc trưng là sản phẩm phải được thực hiện theo ý đồ, mong muốn của bên mua. Bên
mua thực hiện mua sản phẩm khi bên bán đã hoàn thành sản phẩm.
- Thị trường thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá.
- Thị trường thực hiện tổng cung và tổng cầu hàng hoá.

chức năng còn lại mới phát huy tác dụng.
II. Thị trường xây dựng:
Thị trường xây dựng là nơi gặp gỡ giữa sự chào hàng về khả năng và kết quả xây dựng
công trình giao thông của các doanh nghiệp xây dựng (người bán sản phẩm xây dựng )
và nhu cầu xây dựng của các chủ đầu tư công trình (người mua sản phẩm xây dựng)
nhằm đi đến kí kết hợp đồng xây dựng giữa người mua và người bán.
Theo quan điểm của Marketing thì thị trường xây dựng là tập hợp những khách hàng
hiện có và tiềm năng của doanh nghiệp xây dựng, đó là các chủ đầu tư có nhu cầu hoặc
mong muốn cụ thể về xây dựng công trình sẵn sàng và có khả năng tham gia vào việc
trao đổi để thoả mãn nhu cầu hoặc mong muốn đó.
1. Đặc điểm thị trường xây dựng :
Hoạt động thi công xây lắp công trình xây dựng của doanh nghiệp xây dựng là hoạt
động sản xuất hàng hoá đặc biệt vì thế các hoạt động diễn ra trên thị trường xây dựng
cũng có các đặc điểm chung của thị trường hàng hoá khác. Song nó còn nhiều đặc
điểm riêng đó là đặc điểm đấu thầu xây dựng, thương thảo kí kết hợp đồng xây dựng
giữa doanh nghiệp trúng thầu với chủ đầu tư (do các sản phẩm xây dựng được sản
xuất theo đơn đặt hàng). Do đó thị trường xây dựng có một số đặc điểm sau:
- Trên thị trường xây dựng các chủ thể kinh doanh, chính là các doanh nghiệp xây
dựng, phải có tính tự chủ cao, tự bù đắp chi phí, tự do liên doanh liên kết với các
doanh nghiệp khác, tự do kinh doanh theo các luật định.
- Trên thị trường xây dựng, người mua nói chung không thể chọn những sản phẩm
khác để mua vì sản phẩm xây dựng là hàng hoá đặc biệt, có tính đơn chiếc, giá cả cao
và gắn liền với địa điểm sử dụng.
- Trên thị trường xây dựng, chủ đầu tư tự chọn người nhận thầu. Hợp đồng xây dựng
thì đa dạngvề hình thức, nội dung và giá cả. Kí kết hợp đồng xây dựng chính làbiểu
hiện của sự gặp nhau giữa cung và cầu, và là kết quả của sự thương lượng, thoả thuận
giữa một bên là chủ đầu tư và một bên là các doanh nghiệp nhận thầu xây dựng.
- Trên thị trường xây dựng thì cạnh tranh có thể được coi là đặc điểm quan trọng của
thị trường. Cùng với việc cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp xây dựng đó là
việc tạo uy tín cho doanh nghiệp. Muốn vậy thì doanh nghiệp phải không ngừng nâng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status