Luận văn: CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ IMF, WB: LỊCH SỬ RA ĐỜI; CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ; VAI TRÒ CỦA IMF, WB ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN. - Pdf 15


Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Kinh tế - Luật
LÝ THUY

T TÀI CHÍNH TI

N T
ỆGVHD: H


TH


H

NG MINH

LỚP : K10504
SV : NGUYỄN THANH MAI
MSSV : K105041607
ĐỀ TÀI:
CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ IMF, WB: LỊCH SỬ RA ĐỜI;
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ; VAI TRÒ CỦA IMF, WB ĐỐI
VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.

THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 3 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tổ chức tài chính - tín dụng. Các tổ chức tài chính - tín dụng
quốc tế ra đời là một yêu cầu khách quan trên cơ sở quan hệ ngoại thương và thanh toán quốc
tế; không chỉ là yêu cầu khách quan về mặt kinh tế mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển
các mối quan hệ về chính trị, ngoại giao và các quan hệ khác giữa các nước.
Trong quá trình phát triển của mỗi đất nước, nhu cầu ổn định cán cân thanh toán quốc tế, nhu
cầu về vốn để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội… là rất cấp bách, nhất là đối với
các nước đang phát triển. Nếu chỉ dựa vào tiềm lực sẵn có của đất nước thì không thể giải
quyết được những vấn đề này. Vì vậy, muốn đưa đất nước phát triển trên tầm quốc tế chỉ có
một cách duy nhất là hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, việc gia nhập các tổ chức tài chính –
tín dụng quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát
triển. Do đó, các quốc gia đều có xu hướng gia nhập các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế
với mục đích đẩy nhanh tốc độ phát triển của mình bằng cách tìm kiếm sự hỗ trợ về vốn và kỹ
thuật từ các nước phát triển khác.
Trong đó Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chính là hai tổ chức tài chính –
tín dụng lớn và có vai trò quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia đặc biệt là các quốc
gia đang phát triển. Đồng thời các quốc gia nếu nắm rõ được cơ chế hoạt động, biết nắm bắt,
tận dụng được chính sách ưu đãi, nguồn vốn mà các tổ chức này mang lại thì sẽ có một nguồn
lực lớn để phát triển.
THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 4

thiết để quân bình hoặc giảm bớt thiếu hụt trong cán cân thanh toán quốc tế.
Khi gia nhập IMF, mỗi nước phải đóng một khoản tiền nhất định được coi là phí hội viên. Tuy
nhiên, khoản đóng này chỉ được thực hiện khi quỹ có nhu cầu.
THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 5

Tổng nguồn vốn của IMF chia làm hai bộ phận: vốn pháp định và vốn tích luỹ. Vốn pháp định do
các quốc gia hội viên đóng góp theo nguyên tắc:
• 1/4 phần đóng góp của quốc gia hội viên bằng vàng hoặc Mỹ kim.
• 3/4 còn lại đóng góp bằng bản tệ.
• Phần đóng góp của quốc gia hội viên không đồng đều, tuỳ theo vị trí, tầm quan trọng
của quốc gia đó.
Vào cuối năm 2009, tổng số vốn của IMF lên đến 214,4 tỷ SDR, tương đương với 325 tỷ USD.
Trong đó, Hoa Kỳ chiếm 18,38% cổ phần, Nhật Bản 5,7%, Cộng hoà Liên bang Đức 5,7%,
Pháp 5,1%, Anh 5,1%.
Số tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
• Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các nước thành viên vay
mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính.
• Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay và là
cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước thành viên.
• Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành
viên.
Với sự đóng góp của các quốc gia hội viên IMF tạo lập được số trữ kim bằng vàng và các loại
tiền tệ trên thế giới. Quỹ này có thể cho các quốc gia nào thiếu hụt trong cán cân thanh toán
quốc tế vay.
Hàng năm, IMF thường gửi chuyên viên tới các quốc gia thiếu hụt trong cán cân thanh toán
quốc tế hay thiếu hụt ngoại tệ để tư vấn cho các quốc gia này áp dụng các biện pháp cần thiết
nhằm cải thiện tình hình tiền tệ của họ.

do nhiều chuyển biến cơ bản trong nền kinh tế: tăng trưởng nhanh chóng của thị trường vốn tư
nhân, hội nhập khu vực và thế giới, gia tăng, chỉnh đốn tài khoản vãng lai và cải cách kinh tế
theo hướng trị trường của nhiều nước.
4. Vai trò của quỹ tiền tệ thế giới:
Với tôn chỉ: thúc đẩy sự hợp tác tiền tệ quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và
tăng trưởng thương mại quốc tế một cách cân đối; tăng cường ổn định tỷ giá; hỗ trợ cho việc
thành lập hệ thống thanh toán đa phương; cho các nước hội viên tạm thời sử dụng các nguồn
vốn chung của Quỹ với những đảm bảo thích hợp; và rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ
mất cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế của các nước hội viên. IMF đã có những hoạt
giúp đõ tài chính đối với các các nước thành viên đang gặp khó khăn thông qua các khoản vay.
Riêng đối với các nước đang phát triển, IMF có phần ít quan tâm hơn. Một phần do lượng vốn
của các nước này rất ít, đồng thời ảnh hưởng của các nước này trong hoạt động thương mại,
tài chính quốc tế không cao. Theo thời gian thì với những chính sách thoáng hơn, điiều kiện
thoáng hơn, các nước đang phát triển cũng được vay với lãi suất rất thấp (0.5%). Với các khản
vai này các nước đã phần nào vựt dậy sau những thời kỳ đình trệ kinh tế, đương đầu với cuộc
khủng hoảng kinh tế 1997, thúc đẩy các nước nghèo phát triển.
Về mặt kỹ thuật: Trong thập niên 60, nhiều nước Phi châu và Á châu trở thành độc lập đã nhờ
IMF giúp đỡ để thiết lập hạ tầng tài chánh quốc gia như ngân hàng trung ương, bộ kinh tế tài
chánh. Sự giúp đỡ kỹ thuật này càng ngày càng được mở rộng không những về số nước được
giúp đỡ, mà còn trong chương trình huấn luyện kỹ thuật như phương cách thiết lập chính sách
THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 7

tiền tệ, ngân sách quốc gia, kiểm soát hệ thống ngân hàng, kế toán quốc gia, thống kê. Trong
thập niên 90, nhiều nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị trường đã được
Quỹ giúp đỡ trong lãnh vực này. Kinh nghiệm của Quỹ trong lãnh vực tài chánh từ hơn 50 năm
nay, với những chuyên viên kinh tế, tài chánh, luật pháp, thống kê. gây nhiều tin tưởng quốc tế.
Những nước giầu muốn giúp đỡ những nước đang phát triển trong lãnh vực này có thể đóng
Page 8

• 3 Vụ về thông tin liên lạc (Vụ Đối ngoại, Văn phòng thông tin liên lạc khu vực Châu Á
Thái Bình Dương, Văn phòng Quỹ tại Liên Hợp Quốc).
• 3 Bộ phận giúp việc (Vụ thư ký, Vụ Nguồn nhân lực, và Vụ Dịch vụ Tổng hợp và Công
nghệ).
Ngoài ra, IMF có hơn 60 Văn phòng đại diện tại nhiều nước thế giới có trách nhiệm báo cáo
cho các Vụ khu vực tương ứng.
II. Ngân hàng Thế giới (The World Bank – WB)
1. Hoàn cảnh ra đời
Ngân hàng Thế giới (World Bank) là một tổ chức tài chính quốc tế, nơi cung cấp những khoản
vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình vay vốn.
WB được thành lập năm 1944 tại Bretton Wood. Mục tiêu chính của WB là giảm nghèo và cải
thiện đời sống của người dân ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.
Ngân hàng Thế giới trên thực tế bao gồm 5 tổ chức:
 Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD) thành lập ngày 17/02/1945 theo tinh
thần Hiệp ước Bretton Wood và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1946. IBRD hiện có
187 quốc gia thành viên.
 Công ty tài chính quốc tế (IFC) thành lập năm 1955. Hiện tại IFC có 182 quốc gia thành
viên.
 Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) thành lập năm 1960. Hiện tại IDA có 169 quốc gia
thành viên.
 Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư (ICSID) thành lập năm 1966. Hiện tại
ICSID có 144 quốc gia thành viên.
 Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA) thành lập năm 1988. Hiện tại MIGA có
175 quốc gia thành viên.
Trụ sở chính của WB đặt tại Washington D.C. Hiện nay, số lượng thành viên của WB lên tới
188 quốc gia.

 Đồng tài trợ: WB phối hợp với khu vực tư nhân, tổ chức song phương hoặc đa
phương, và các tổ chức chính phủ tài trợ cho một số chương trình của mình.
 Quỹ tín thác: được đóng góp từ những quốc gia tài trợ, tổ chức đa phương, các tổ
chức phi chính phủ, quỹ và tổ chức tư nhân khác tập trung vào những dự án trợ
giúp kĩ thuật ở các nước đang phát triển. Hiện nay, IBRD có trên 850 quỹ tín thác.
 Trợ giúp kĩ thuật: Cung cấp nguồn lực và chuyên gia cho các nước đang phát triển
để xây dựng những thể chế cần thiết cho quá trình phát triển. Những chương trình
này tập trung vào phát triển khu vực tư nhân, bảo vệ môi trường và xoá đói giảm
nghèo. Trợ giúp kĩ thuật chiếm khoảng 10% các khoản cho vay. Chỉ cho vay đối với
các nước thành viên; nếu là tư nhân vay thì phải được nhà nước bảo lãnh.
3. Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của WB
WB là ngân hàng đầu tư, đứng trung gian giữa nhà đầu tư và người vay, tức là vay của người
này để cho kẻ khác mượn. Các ông chủ WB là 181 quốc gia thành viên với tiền góp vốn bằng
nhau.
THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 10

Chức năng, nhiệm vụ của WB được phân công cho các tổ chức thành viên thực hiện.
IBRD và IDA đi vay bằng cách phát hành trái phiếu và cho các nước thành viên vay lại. Cá
nhân và công ty không được vay của WB và không phải quốc gia thành viên nào cũng được
WB cho vay. Chỉ có Chính phủ của các nước đang phát triển có thu nhập quốc dân trên đầu
người lớn hơn 1305 USD/ năm mới được vay của IBRD. Các khoản vay này có lãi suất chỉ cao
hơn lãi suất WB đi vay một chút. Chính phủ của các nước nghèo có thu nhập quốc dân trên
đầu người dưới 1305 USD/ năm (trong thực tế là dưới 805 USD/ năm) được vay của IDA. Các
khoản vay này sẽ không đòi lãi suất và thời hạn có thể lên tới 35 đến 40 năm.
IFC cho các dự án tư nhân ở các nước đang phát triển vay theo giá thị trường nhưng là cho
vay dài hạn hoặc có thể cấp vốn cho họ. Sự tham gia của IFC như một sự đảm bảo đối với các
nhà đầu tư khác quan tâm tới dự án và khuyến khích họ đầu tư vào dự án.

Hội đồng Thống đốc: là cơ quan quyết định cao nhất tại WB. Mỗi nước hội viên cử một đại diện
của nước mình làm thành viên của Hội đồng Thống đốc.
Uỷ ban Phát triển được thành lập vào năm 1974, có trách nhiệm tư vấn cho Hội đồng Thống
đốc của WB về các vấn đề liên quan đến cung cấp vốn cho các nước đang phát triển.
Ban Giám đốc Điều hành: gồm 24 Giám đốc điều hành (trong đó có 5 người được bổ nhiệm từ
năm nước hội viên có số cổ phần lớn nhất là Mỹ, Nhật, Đức, Pháp và Anh); và 19 người được
bầu chọn. Nhiệm kỳ của Giám đốc Điều hành là 2 năm. Ban Giám đốc Điều hành chịu trách
nhiệm điều hành mọi công việc hàng ngày của WB, thực hiện nhiệm vụ theo các chức năng và
quyền hạn được giao phó theo Điều lệ hoặc được Hội đồng Thống đốc giao. Việt Nam thuộc
Nhóm Đông Nam Á gồm 11 nước là Brunây, Fiji, Inđônêxia, Lào, Malaysia, Mianma, Nêpan,
Singapore, Thái Lan, Tông-ga và Việt Nam.
Chủ tịch do Ban Giám đốc Điều hành lựa chọn với nhiệm kỳ 5 năm. Chủ tịch tham gia vào các
cuộc họp của Hội đồng Thống đốc và Uỷ ban Phát triển. Ngoài ra, Chủ tịch còn phụ trách về
nhân sự của IBRD và IDA, chủ trì các buổi họp của Ban Giám đốc Điều hành và duy trì mối liên
hệ với Chính phủ các nước hội viên, Giám đốc Điều hành, các cơ quan thông tin và các tổ chức
khác. Giúp việc cho Chủ tịch có 5 Tổng giám đốc. Hiện nay, Chủ tịch Nhóm WB là ông James
D. Wolfensohn, người Mỹ, giữ cương vị này từ tháng 6/1995.
Cán bộ của Nhóm WB: có khoảng 10.000 cán bộ từ nhiều quốc gia khác nhau làm việc tại trụ
sở chính tại Washington D.C. và 3000 cán bộ làm việc tại trên 100 văn phòng đại diện đặt tại
các nước hội viên. Dưới Tổng giám đốc có 25 Phó Chủ tịch phụ trách các khu vực và các mảng
nghiệp vụ.

III. Sự khác biệt giữa Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế:
Nhìn chung, WB và IMF có nhiều đặc tính giống nhau. Ban bệ cả hai đều được quản lý bởi
chính phủ các nước thành viên. Cả hai tổ chức đều chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề liên
quan kinh tế và tập trung việc củng cố cũng như phát triển nền kinh tế của nước thành viên.
Viên chức cả hai tổ chức luôn cùng xuất hiện tại các hội thảo kinh tế, phát biểu bằng thứ ngôn
ngữ kinh tế và tài chính y hệt.
Trụ sở cả hai cũng đều ở Washington DC mà trước kia thậm chí còn ở chung “nhà” (hiện nay,
hai trụ sở nằm đối diện trên cùng con đường tại vị trí cách Nhà Trắng không xa). Tuy nhiên, bề

hỗn độn thì buộc phải cắn răng chịu đánh đổi một số mất mát.
2. Cấu trúc
Nhân sự IMF gồm 2.600 người và IMF không hề có chi nhánh như WB. Hầu hết ban bệ IMF
làm việc tại Washington DC và số còn lại làm việc tại ba văn phòng nhỏ ở Paris, Geneva và
Liên Hiệp Quốc ở New York. Nhân sự IMF là tinh hoa của giới kinh tế học thế giới.
Cấu trúc WB có phần phức tạp hơn. Bản thân WB chứa đựng hai tổ chức chính: Ngân hàng
Kiến thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) và Hiệp hội Phát triển quốc tế (International
Development Association -IDA). Ngoài ra, WB còn có những tổ chức sau (thuộc WB nhưng
tách biệt về mặt tài chính và pháp lý): Công ty Tài chính thế giới (cung cấp vốn cho các công ty
tư nhân ở các nước đang phát triển), Trung tâm ổn định và giải quyết mâu thuẫn đầu tư quốc tế
và Cơ quan bảo vệ đa phương. Nhân sự tổng cộng WB có khoảng hơn 7.000 người và tuy có
40 văn phòng trên khắp thế giới nhưng 95% nhân viên đều làm việc tại trụ sở chính ở
Washington DC. Nhân sự WB gồm các chuyên gia lão luyện thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau:
THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 13

nhà kinh tế học, kỹ sư, nhà hoạch định chương trình phát triển đô thị, nông nghiệp học, thống
kê học, luật gia, chuyên viên dự án và chuyên viên khác trong lĩnh vực giao thông, phát triển
nông thôn, giáo dục, năng lượng, dân số, y tế, truyền thông, cung cấp nước và cả kỹ sư cầu
cống
3. Nguồn vốn
WB là ngân hàng đầu tư, đứng trung gian giữa nhà đầu tư và người vay, tức là vay của người
này để cho kẻ khác mượn. Các ông chủ WB là 181 quốc gia thành viên với tiền góp vốn bằng
nhau. Quỹ của IBRD thu từ việc phát hành trái phiếu cho hơn 100 quốc gia còn Quỹ IDA có
được từ sự đóng góp hảo tâm của các nước. WB còn thu tiền từ việc bán trái phiếu trực tiếp
cho các chính phủ, tổ chức và ngân hàng trung ương của các nước. Sau đó, WB dùng đồng
vốn này cho các nước đang phát triển vay với mức lãi suất ưu đãi nhằm hỗ trợ các dự án tài
chính cũng như chính sách cải tổ có triển vọng thành công.

như một điển hình của sự thần kỳ mới.
Thế rồi đến tháng 12/2001 hệ thống ngân hàng Argentina sụp đổ, nhấn chìm một trong những
trung tâm kinh tế năng động và thành công tại khu vực Nam Mỹ. Gần như chỉ sau một đêm, đất
nước này đã rơi vào cảnh đói nghèo, chỉ trong vòng 5 tuần 5 vị tổng thống lên chức xuống
chức. Người dân, công nhân, viên chức ùa xuống đường biểu tình….Chính quyền Argentina
cho rằng thủ phạm là các chính sách mà IMF và WB áp dụng tại nước này từ những năm 1990.
2. Cuộc khủng hoảng:
Vào đầu thế kỷ 20, Argentina là một trong những quốc gia giàu nhất thế giới. Với tài nguyên
giàu có, Argentina xuất khẩu mạnh thực phẩm và nguyên vật liệu.
Trong 4 thập kỷ từ sau thế chiến thứ hai đến cuối 80, Argentina áp dụng:
 Chính sách phát triển hướng nội
 Chính sách ngân sách mở rộng; thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng in tiền.
 Từ 1976 đến 1989, hai cuộc siêu lạm phát và hai cuộc khủng hoảng ngân hàng xảy ra.
 Năm 1991 lập một hệ thống tiền tệ (currency board) với nhiệm vụ gắn chặt tỷ giá đồng peso
với đồng dollar theo tỷ giá 1 đổi 1, và chỉ được phát hành vừa đủ tiền peso cho việc trao đổi
trên thị trường. Đây là giải pháp nhằm khống chế lạm phát, nhưng đồng thời nó cũng hạn
chế khả năng của ngân hàng trung ương trong việc hỗ trợ bù đắp thâm hụt ngân sách nhà
nước và giúp đỡ các ngân hàng thương mại tăng cường tính thanh khoản.
 Xây dựng hệ thống tiền tệ kép (bi-monetary) đảm bảo vai trò ngang nhau giữa đồng peso
với ngoại tệ (chủ yếu là đô la Mỹ). Người dân Argentina có quyền trả bằng bất kỳ đồng tiền
nào trong các giao dịch của mình.
 Tự do hóa hoàn toàn hệ thống ngân hàng, bao gồm việc tư nhân hóa gần như tất cả các
ngân hàng nhà nước ở địa phương và bán một ít các tổ chức tài chính trung bình và lớn
cho nước ngoài.
 Tự do hóa hoàn toàn việc luân chuyển tư bản - cả tài chính lẫn đầu tư trực tiếp - mà không
có bất kỳ hạn chế nào.
 Tư nhân hóa các công ty nhà nước từ công ty hàng không đến công ty điện và Bưu điện,
trong khi nước này chưa hề có một hệ thống luật lệ mạnh và đầy đủ.
 Loại bỏ gần như tất cả các hàng rào phi thuế quan, và cắt giảm thuế từ trung bình 45% đầu
thập niên 90 xuống còn 11% năm 2000.

loạt các khoản nợ đền kỳ đáo hạn.
->Khủng hoảng nợ chính phủ
 Chính phủ tìm nguồn tài trợ khác:
 Buộc các ngân hàng và quỹ lương hữu nội địa mua trái phiếu CP.
 Đám phán để vay của IMF.
 Những sự kiện này làm người dân đổ đi rút tiền từ ngân hàng.
 15 tỷ USD được rút ra khỏi ngân hàng từ T7 đến T11/2001.
 Từ T12/2001, trần 1000 USD/tháng tiền gửi có thể rút ra được áp dụng.
THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 16

-> Khủng hoảng ngân hàng
 Tòa án phủ quyết lệnh đóng băng tài khoản của chính phủ
 Tiền tiếp tục được rút ra buộc ngân hàng trung ương phải in tiền để tạo tính thanh
khoản cho các ngân hàng thương mại.
 Cơ chế hội đồng tiền tệ được huy bỏ và đồng peso được phá giá.
->Khủng hoảng tiền tệ
3. Nguyên nhân:
Vấn đề trước hết là chính sách hối đoái gắn đồng peso của Argentina với đồng USD, theo tỷ lệ
một - một, do Bộ trưởng Kinh tế Domingo Cavallo đề xuất năm 1991. Khi ấy ông Cavallo hy
vọng biện pháp này sẽ giải quyết được nạn siêu lạm phát và giúp thanh toán nợ nần của nhà
nước. Lúc đầu tình trạng lạm phát đã giảm xuống đáng kể từ mức 2.00%/tháng. Tuy nhiên thay
đổi này cũng đã khiến nhà nước Argentina không có được chính sách tiền tệ riêng. Theo Time,
đến năm 1999 khi nước Brazil láng giềng phá giá đồng real, các nhà đầu tư và thương nhân
nước ngoài nhận ra mình có thể dùng đồng USD mua được nhiều hàng hóa hơn ở Brazil và
một số nước khác trong vùng so với ở Argentina. Vì thế đầu tư nước ngoài vào Argentina và
ngành xuất khẩu của nước này (chủ yếu là hàng nông phẩm) đã sụt giảm thê thảm.
Yếu tố khủng hoảng thứ hai của Argentina gắn liền với việc chính phủ của Tổng thống Carlos

những quy tắc của kinh tế thị trường, không chú trọng đạt được sự nhất trí giữa các đảng phái
chính trị và nhắm mắt trước nạn tham nhũng. Xã luận của tờ Thương mại (Peru) cho rằng có
một "quy tắc vàng" trong kinh tế mà không phải nhờ đến IMF hoặc phải là một nhà kinh tế nổi
tiếng mới biết được: chỉ thu được 2 đồng thì không nên chi 3 nếu không muốn làm sụp đổ nền
kinh tế nước mình.
-Thâm hụt ngân sách ở Argentina quá lớn:
Sự thâm hụt ngân sách quá lớn tạo ra tình trạng lo sợ rằng chính phủ sẽ mất khả năng trả nợ.
Chính phủ gặp khó khăn trong việc khuyến khích mọi người mua trái phiếu của mình và không
thể tài trợ bằng các khoản cho vay nước ngoài; để xử lý vấn đề khó khăn về ngân sách, chính
phủ buộc các ngân hàng phải mua một lượng lớn trái phiếu. Khi các nhà đầu tư mất niềm tin
vào khà năng của chính phủ trong việc hoàn trả các khoàn nợ, thì giá của chúng giảm xuống,
tạo nên một lỗ hổng lớn trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại. Sự suy yếu
như vậy trong bảng tổng kết tài sản làm ngân hàng có ít nguồn lực để cho vay và tình hình
thiếu vốn cho vay góp phần tạo ra sự thu hẹp trong hoạt động kinh tế.
-Tỉ giá quá cứng nhắc:
Thực chế độ tỉ giá cố định 1 peso bằng 1USD. Do đó, khi Qũy Dự Trữ Liên Bang Mỹ bắt đầu
tăng lãi suất vốn liên bang (lãi suất chiết khấu) để chống lại sức ép lạm phát, đã tạo ra một áp
lực làm tăng lãi suất ở Argentina trực tiếp làm tăng vấn đề lựa chọn tiêu cực trên thị trường của
họ, vì có nhiều khả năng những người mạo hiểm nhất muốn tìm các khoản cho vay.
-Sự suy giảm thị trường chứng khoán và tính bất định:
Sự gia tăng tính bất định và sụt giảm giá trị ròng với tư cách là sự sụt giảm trên thị trường cổ
phiếu là tăng vấn đề thông tin không cân xứng. Nó làm cho người ta khó sàng lọc những người
đi vay tốt và những người đi vay xấu và sự giảm sút trong giá trị ròng làm giảm giá trị vật thế
chấp của doanh nghiệp làm tăng động cơ chấp nhận những dự án mạo hiểm, vì vốn cổ phần
mất ít hơn khi dự án đầu tư không thành công.
Nhìn chung, những yếu tố trên làm trầm trọng thêm sự lựa chọn tiêu cực và rủi ro đạo đức mà
người cho vay phải đối mặt. Mà điều đó dẫn đến việc cho vay kém hấp dẫn hơn, họ không
muốn cho vay hoặc cho vay ít hơn và điều này làm giảm quy mô cho vay, đầu tư và hoạt động
THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK


đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế khủng khiếp vào đầu những năm 2001. Người ta
tin rằng tình trạng đó là do IMF đã “cố vấn” Argentina thực hiện biện pháp hạn chế ngân sách,
trong đó xén bớt khả năng của chính phủ trong việc duy trì những cơ sở hạ tầng quốc gia, kể
cả ở những khu vực quan trọng như y tế, giáo dục và an ninh, cũng như tư nhân hoá những
nguồn lực quan trọng chiến lược của đất nước.
Cuộc khủng hoảng đã làm bùng lên sự chán ghét thể chế này ở Argentina và những nước Nam
Mỹ khác. Các nước này đổ lỗi cho IMF là nguyên nhân gây ra các vấn đề kinh tế của khu vực.
Xu hướng thiên tả của Mỹ Latinh hiện nay cùng với sự phát triển của chính sách kinh tế khu
vực độc lập với các sức ép của những tập đoàn lớn chính là minh chứng cho quan điểm trên.
THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 19

Một ví dụ khác mà IMF đã phải hứng chịu chỉ trích là Chương trình điều chỉnh cấu trúc của IMF
đã càng làm trầm trọng thêm vấn đề ở Kenya. Trước khi IMF nhúng tay vào nước này, Ngân
hàng Trung ương Kenya giám sát mọi hoạt động tiền tệ đi vào và đi ra của đất nước. IMF uỷ
thác rằng Ngân hàng Trung ương Kenya phải cho phép luân chuyển tiền tệ dễ dàng hơn. Hậu
quả là doanh nhân Kamlesh Manusuklal Damji Pattni, cùng với sự trợ giúp của những quan
chức chính phủ tham nhũng bơm ra ngoài hàng tỷ shilling Kenya, được biết đến với vụ scandal
Goldenberg hồi những năm 90, khiến cho tình trạng nước này trở nên còn tồi tệ hơn nhiều
trước khi các cải cách của IMF được thực thi.
Khi một quốc gia được IMF hỗ trợ đồng nghĩa với việc phải chấp nhận những điều kiện ngặc
nghèo cũng như các sách lược mà IMF đề ra. Một kết quả không sớm cũng muộn sẽ đến với
các nước này sẽ rơi vào một trong ba tình trạng sau:
Thứ nhất: Tư hữu hóa tức là “hối lộ hóa.” Chỉ cần đồng ý bán rẻ các tài sản quốc hữu hóa,
lãnh đạo của các nước nhận viện trợ sẽ nhận được khoản hoa hồng 10%, và toàn bộ số tiền đó
sẽ được gửi vào một tài khoản bí mật của ngân hàng Thụy Sỹ. Và nếu dùng lời của Joseph
Stiglitz thì “anh sẽ thấy mắt họ sáng lên”, bởi đó là một khoản kếch xù hàng mấy tỷ đô la Mỹ!
Năm 1995, sau khi phát hiện được vụ hối lộ lớn nhất lịch sử trong quá trình tư hữu hóa Liên

trùm ngân hàng quốc tế tính toán kỹ từ trước. Và nếu dùng thuật ngữ của họ thì điều này được
gọi là “náo động xã hội” (Social Unrest). Mà kiểu “náo động XH” này có một tác dụng hết sức tốt
bởi nhờ nó mà các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế có cơ hội hốt bạc từ nguồn tài sản quốc gia
của những nước náo động do luồng tiền không giữ được giá trị.
Nói chung những thành công của IMF rất hạn chế. Trong khi nó được tạo ra để giữ ổn định cho
kinh tế toàn cầu thì từ năm 1980 hơn 100 quốc gia đã phải trải qua cảnh sụp đổ ngành ngân
hàng khiến GDP giảm từ 4% trở lên, nhanh hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó trong lịch sử.
Những phản ứng chậm trễ của IMF đối với các cuộc khủng hoảng và thực tế là quỹ này thường
có xu hướng chỉ đối phó hơn là ngăn ngừa đã khiến nó buộc phải cải tổ. THE INTERNATIONAL MONETARY FUND & THE WORLD BANK Page 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status