Tài liệu Đề tài " Lịch sử ra đời và bản chất tiền tệ " - Pdf 86

LỜI MỞ ĐẦU
Tiền tệ có giá trị không phải vì nó có giá trị tự thân mà vì những gì tiền tệ có
thể trao đổi được. Giá trị của tiền là số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng
một đơn vị của tiền tệ, ví dụ số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một
Dollar. Nói cách khác giá trị của tiền là nghịch đảo của giá cả hàng hóa.
Các ngân hàng quốc gia thường theo đuổi một mục đích thực tế và cố định
khi điều chỉnh lượng tiền. Mục đích này thường là bình ổn giá, tức là chống lại lạm
phát. Để có thể giới hạn tỷ lệ lạm phát ở một mức độ hợp lý với nền kinh tế quốc
dân, ngân hàng quốc gia cố gắng giữ lượng tiền đồng bộ với sự phát triển kinh tế.
Lượng tiền tăng quá nhanh hay tốc độ quay vòng của tiền tăng lên trong khi
lượng tiền không thay đổi sẽ dẫn đến mất cân bằng giữa tiền đang có và hàng hóa.
Sự mất cân bằng này sẽ làm tăng mức giá chung và người ta gọi đó là lạm phát.
Lạm phát có thể được phân loại theo vận tốc (lạm phát vừa phải, lạm phát
phi mã, siêu lạm phát) hay theo giai đoạn (giai đoạn tăng tốc, giai đoạn ổn định,
giai đoạn giảm tốc). Lượng tiền có thể tăng vì chính sách lãi suất của ngân hàng
quốc gia hay vì nợ quốc gia tăng đột ngột.
Khi lượng tiền giảm đi hay tốc độ quay vòng tiền giảm xuống trong khi
lượng tiền không đổi thì giá cả có thể sẽ giảm liên tục trong một thời gian, người ta
gọi đó là giảm phát. Lượng tiền giảm đi cũng có thể là do các biện pháp của ngân
hàng quốc gia gây ra khi vận tốc quay vòng tiền giảm đi (khi người dân hay doanh
nghiệp hạn chế tiêu dùng và đầu tư hơn và tiền được tiết kiệm nhiều hơn là tiêu
dùng).
Dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu về quy luật lưu thông tiền tệ, vì sao lại có
lạm phát xảy ra và những biện pháp khắc phục lạm phát.
Lịch sử của tiền tệ chính là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến
cao, từ hình thái giản đơn cho đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ.
Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: Đây là hình thái phôi thai của giá
trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hoá, trao đổi mang tính chất
ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp vật này lấy vật khác. Ví dụ: 1m vải = 10 kg
thóc. Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở thóc. Còn thóc là cái được dùng làm
phương tiện để biểu hiện giá trị của vải. Với thuộc tính tự nhiên của mình, thóc trở

thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hóa khác;
là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của
hàng hóa tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản
xuất ra hàng hóa đó. Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì
đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế
nào. Thí dụ 1USD vẫn bằng 10 xu.
- Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm
môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa. Để làm chức năng lưu thông hàng hóa
ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng
hóa.
Công thức lưu thông hàng hóa là: H – T – H, khi tiền làm môi giới trong trao
đổi hàng hóa đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời
gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của
khủng hoảng kinh tế.
Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén.
Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao
mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như
tiền đúc đủ giá trị.
Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có
tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta
đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu
thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền
nhà nước giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc
ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của
tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được
công nhận trong phạm vi quốc gia.
+ Phương tiện cất trữ: Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu
thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền đại biểu cho của
cải xã hội dưới hình thức giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để
làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc.

M =
V
QP.
Trong đó: M: số lượng tiền cần thiết trong lưu thông
P: giá cả của đơn vị hàng hóa
Q: khối lượng hàng hóa dịch vụ đưa vào lưu thông
V: số vòng lưu thông của đơn vị tiền tệ
Khi tiền vừa làm chức năng phương tiện lưu thông, vừa làm chức năng
phương tiện thanh toán thì lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định như
sau:
M =
V
PQPQPQPQ
dkb
+−−
)(
Trong đó: PQ: tổng số giá trị hàng hóa và dịch vụ đem lưu thông
PQ
b
: tổng giá cả hàng hóa bán chịu
PQ
k
:tổng giá cả hàng hóa khấu trừ nhau
PQ
d
: tổng giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán
Quy luật lưu thông tiền tệ này là phổ biến đối với mọi nền kinh tế hàng hóa.
Theo “ vietnamnet.vn” thì ước tính mới nhất của Tổng cục Thống kê, chỉ số
giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam vào tháng 12/2007 đã tăng 12,6% so với tháng
12/2006. Đây là mức tăng giá cao nhất trong vòng 12 năm qua.

Trong năm 2007, giá hàng lương thực thực phẩm (chiếm gần 43% trọng số
trong tỷ số giá tiêu dùng) được xem là nhân tố chính làm tăng chỉ số giá chung.
Trong khi đó, giá cả của các nhóm hàng hóa khác, đặc biệt là nguyên vật liệu của
ngành xây dựng (như sắt, thép, ximăng…) cũng tăng vọt bởi sự gia tăng của giá
dầu nhập khẩu. Nhưng so với những nước láng giềng, được xem là có cùng nhóm
nhân tố ảnh hưởng, thì lạm phát của họ gần như là được kiểm soát hoàn toàn. Điều
này có nghĩa là nguyên nhân chính của lạm phát ở Việt Nam phải được lý giải ở
một nguyên nhân khác.
Gần đây, một lượng lớn vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam, dưới dạng đầu tư
trực tiếp (FDI) lẫn đầu tư gián tiếp (FPI). Trong tình huống này, Ngân Hàng Nhà
Nước (NHNN) đã có sự lựa chọn giữa hai chính sách:
- Nới lỏng tỷ giá để tiền đồng Việt Nam tăng giá nhằm hạn chế sức ép lên lạm
phát, điều này có thể dẫn đến làm tổn thương xuất khẩu và khuyến khích
nhập khẩu.
- Hoặc là mua vào lượng lớn ngoại tệ dẫn đến tăng dự trữ và giữ cho tỷ giá ổn
định (hoặc là phá giá đôi chút cho đến giữa năm 2007) để hỗ trợ xuất khẩu
và tăng trưởng thúc đẩy GDP.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status