MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu tổng quát 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
2.3. Yêu cầu 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.2. Cơ sở pháp lý của đề tài 4
1.2. Khái quát về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 5
1.2.1. Khái niệm VPHC trong lĩnh vực đất đai 5
1.2.2. Phân loại VPHC trong lĩnh vực đất đai 7
1.2.3. Các hành vi VPHC trong lĩnh vực đất đai 9
1.3. Khái quát pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai hiện hành.16
1.3.1. Khái quát xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai 16
1.3.2. Chủ thể VPHC trong lĩnh vực đất đai 18
1.3.3. Nguyên tắc xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai 19
1.3.4. Thời hiệu xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai 20
1.3.5. Hình thức xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai 21
1.3.6. Mức xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai 24
1.3.7. Thẩm quyền xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai 30
1.3.8. Thủ tục xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai 33
1.3.9. Vai trò của pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai 34
i
1.4. Các nghiên cứu trong nước liên quan đến hệ thống văn bản pháp luật
Vĩnh Phúc 52
3.2.1. Đánh giá thực trạng VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình cá
nhân theo đơn vị hành chính cấp huyện 52
3.2.2. Đánh giá thực trạng VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình, cá
nhân theo hình thức vi phạm 55
3.3. Đánh giá kết quả xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc 57
3.3.1. Đánh giá kết quả xử lý VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình cá
nhân theo đơn vị hành chính cấp huyện 57
3.3.2. Đánh giá kết quả xử lý VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình cá
nhân theo hình thức vi phạm 59
3.3.3. Đánh giá kết quả xử lý VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình cá
nhân theo hình thức xử lý 61
3.3.4. Đánh giá sự hiểu biết của hộ gia đình, cá nhân về vi phạm hành
chính và xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất theo vùng 62
3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh Vĩnh Phúc 65
3.4.1. Đề xuất một số nội dung nhằm hoàn thiện pháp luật đất đai 65
3.4.2. Hoàn thiện việc xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai 66
3.4.3. Một số giải pháp nhằm bảo đảm việc xử lý VPHC trong lĩnh vực
đất đai 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1. Kết luận 68
2. Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chú giải
LĐĐ : Luật Đất đai
VPHC : Vi phạm hành chính
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc 43
Hình 3.2. Cơ cấu SDĐ của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 46
Hình 3.3. Số các trường hợp vi phạm theo vùng 54
Hình 3.4. Diện tích đất vi phạm theo vùng 54
Hình 3.5. Số các trường hợp vi phạm theo hình thức vi phạm 56
Hình 3.6. Diện tích đất vi phạm theo hình thức vi phạm 56
Hình 3.7. Số trường hợp vi phạm theo vùng 58
Hình 3.8. Diện tích đất vi phạm đã xử lý theo vùng 59
Hình 3.9. Số trường hợp đã xử lý vi phạm theo hình thức xử lý 60
60
Hình 3.10. Diện tích đất vi phạm đã xử lý theo hình thức vi phạm 60
vi
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá; là tư liệu sản xuất đặc
biệt trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; là thành phần quan trọng hàng
đầu của môi trường sống; là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ
sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng [28]. Đất đai là nguồn tài
nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích và số lượng; cố định về vị trí địa lý và
không thể di dời được; đây chính là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự khác biệt
về giá trị giữa các diện tích đất có vị trí địa lý khác nhau với các tài sản khác.
Dưới góc độ chính trị pháp lý, đất đai là yếu tố cơ bản nhất của chủ quyền
lãnh thổ quốc gia [17].
Chính sách đất đai luôn được coi là một trong những chính sách lớn của
Đảng và Nhà nước. Hiến pháp năm 1980 đã xác lập chế độ sở hữu toàn dân
về đất đai. Chế độ này được xác lập, duy trì, củng cố hoàn thiện qua các Luật
Đất đai (LĐĐ) năm 1987, LĐĐ năm 1993 và LĐĐ năm 2003. Đồng thời, Nhà
nước ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan
- Đánh giá được thực trạng VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình, cá
nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn từ 2003 đến nay;
- Đánh giá được kết quả xử lý VPHC trong việc SDĐ của hộ gia đình, cá
nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn từ 2003 đến nay;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xử lý VPHC trong
SDĐ của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Yêu cầu
- Nắm vững các quy định của pháp luật về xác định và xử lý VPHC
trong việc SDĐ;
- Các nguồn số liệu, tài liệu điều tra thu thập trên địa bàn nghiên cứu
2
phải phản ánh đúng thực tế, đánh giá đẩy đủ, trung thực, khách quan, khoa
học, đảm bảo lô gíc và hệ thống. Số liệu phải được điều tra thu thập từ 2
nguồn là thứ cấp và sơ cấp;
- Giải pháp đề xuất phải đảm bảo khoa học, đúng với chính sách pháp
luật của nhà nước, phù hợp với thực tế ở địa phương và có tính khả thi.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về xử lý VPHC và pháp luật xử lý
VPHC trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam;
- Tạo lập cơ sở khoa học trong việc đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện việc xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai ở nước ta hiện nay.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Làm tài liệu tham khảo cho các chuyên gia xây dựng pháp luật về xử lý
VPHC trong lĩnh vực đất đai;
- Góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nói chung và xử lý
VPHC về đất đai nói riêng tại tỉnh Vĩnh Phúc.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai; [6]
- Nghị định số 181/2004/ NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính
phủ về thi hành Luật Đất đai; [7]
- Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý VPHC năm
2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý VPHC
năm 2008; [8]
- Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính
phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai; [9]
- Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 26 tháng 8 năm 2010 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai; [2]
1.2. Khái quát về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.2.1. Khái niệm VPHC trong lĩnh vực đất đai
1.2.1.1. Khái niệm VPHC
Ở một số nước trên thế giới, VPHC thường được hiểu chung là “các
hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các
chế tài hành chính” [14].
Ở Việt Nam, định nghĩa VPHC lần đầu tiên được nêu tại Điều 1, Pháp
lệnh xử phạt VPHC ngày 30/11/1989 như sau:
“VPHC là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô
ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình
sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.[15]
5
Pháp lệnh xử lý VPHC năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý VPHC
năm 2002, không định nghĩa VPHC trực tiếp mà được quy định một cách gián
tiếp thông qua khái niệm “xử phạt VPHC”:
“Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức (sau đây gọi
chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định
“VPHC trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi
cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về
đất đai mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
hành chính” [8].
Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm
2009 về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi là Nghị định số
105/2009/NĐ-CP) đã sửa đổi, bổ sung thêm chủ thể VPHC trong lĩnh vực đất đai:
“VPHC trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi
cố ý hoặc vô ý của người SDĐ, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt
động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà
chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật”[9].
1.2.2. Phân loại VPHC trong lĩnh vực đất đai
Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của hành vi VPHC, vào khách thể
và chủ thể VPHC trong lĩnh vực đất đai, chúng ta có thể phân loại VPHC về
đất đai thành các nhóm như sau:
a) Căn cứ dấu hiệu khách quan là hành vi và tính chất, mức độ nguy
hiểm của hành vi VPHC thì có hành vi bị xử phạt bằng hình thức cảnh cáo, có
hành vi vi phạm bị xử phạt bằng tiền; có hành vi bị xử phạt bằng tiền và bị
buộc phải khắc phục hậu quả, có hành vi không bị buộc phải khắc phục hậu
7
quả. Ví dụ: hành vi SDĐ không đúng mục đích có thể bị phạt cảnh cáo, có thể
phạt tiền từ hai trăm nghìn (200.000) đồng đến năm trăm nghìn (500.000)
đồng nếu hậu quả của hành vi thuộc mức một (1), giá trị quyền SDĐ đối với
diện tích đất vi phạm quy thành tiền dưới ba mươi triệu (30.000.000) đồng đối
với đất nông nghiệp, dưới một trăm năm mươi triệu (150.000.000) đồng đối
với đất phi nông nghiệp (điểm a, khoản 1, Điều 8 Nghị định 105/2009/NĐ-
CP) [9]. Các hành vi VPHC trên Mức 1 nêu trên thì không được phạt cảnh
cáo mà đều phải xử phạt bằng tiền. Các hành vi SDĐ sai mục đích đều bị
buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm.
thuê đất cho phép" [8]. Việc bỏ hành vi này vì việc chậm thực hiện bồi
thường là hành vi vi phạm của cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ thực
hiện việc bồi thường, không phải là hành vi của người có đất bị thu hồi; do đó
không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định.
- Bỏ hành vi "chậm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà không được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cho phép” [8]. Việc
bỏ hành vi này vì đã được xử lý theo quy định của pháp luật về tài chính.
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP bổ sung 03 hành vi:
- Nhận chuyển quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện nhận
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 103 của Nghị định số
181/2004/NĐ-CP;
- Chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Chậm hoặc không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến
việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra về đất đai.
Các hành vi VPHC được quy định trong Nghị định số 105/2009/NĐ-
CP, gồm:
Một là, sử dụng đất không đúng mục đích (Điều 8). Hành vi này được
khoản 1 Điều 3 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP định nghĩa là hành vi sử dụng
9
đất không đúng với mục đích sử dụng, loại đất ghi trong Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyết định giao đất, quyết định
cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc giấy tờ
khác về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của LĐĐ
[9].
Hành vi sử dụng đất không đúng mục đích đối với 04 loại đất là:
- Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp, chuyển
đất trồng cây lâu năm sang đất ao, hồ, đầm, nuôi trồng thuỷ sản sử dụng nước
mặn;
- Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng vào mục
cho quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất
đai. Nghị định số 105/2009/NĐ-CP không có giải thích về hành vi này, nhưng
chúng ta có thể hiểu là người sử dụng đất khi thực hiện các quyền của người sử
dụng đất đã không tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
Sáu là, tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại,
thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất
không đủ điều kiện. Hành vi này cũng không được Nghị định số
105/2009/NĐ-CP giải thích, nhưng có thể hiểu là đất không đủ điều kiện để
thực hiện các quyền theo quy định tại Điều 106 LĐĐ năm 2003, cụ thể là:
quyền sử dụng đất được chuyển nhượng phải có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đất không có
tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; trong
thời hạn sử dụng đất.
Bảy là, nhận chuyển quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
11
Giống với hai hành vi trên, hành vi này cũng không được định nghĩa rõ ràng
trong Nghị định số 105/2009/NĐ-CP. Tuy nhiên, cơ quan chủ trì soạn thảo
Nghị định cho rằng cần phải quy định hành vi này, bởi vì:
“Tại Điều 103 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định điều kiện
nhận chuyển quyền sử dụng đất là cơ sở để quy định hình thức xử phạt đối
với người có hành vi nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận góp vốn
bằng quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện nhận chuyển quyền sử
dụng đất”. [3].
Tám là, không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến
động quyền sử dụng đất, đăng ký không đúng loại đất, không đăng ký khi
chuyển mục đích sử dụng đất, không đăng ký gia hạn sử dụng đất khi hết hạn
sử dụng đất mà vẫn đang sử dụng đất. Đây là hành vi không thực hiện đúng
các quy định về đăng ký quyền sử dụng đất quy định tại Điều 46 của LĐĐ
xác định mốc giới, bàn giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, giải
phóng mặt bằng. Mặc dù, Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đã bổ sung thêm
hành vi gây cản trở trong việc bồi thường giải phóng mặt bằng nhưng vẫn
chưa giải quyết được vướng mắc của các địa phương trong việc thực hiện
công tác này đó là: tại điểm a khoản 3 Điều 29 của Nghị định số 69/2009/NĐ-
CP quy định “Chủ đầu tư tiến hành khảo sát, đo đạc lập bản đồ khu vực dự
án ngay sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư” [10]. Tuy nhiên, khi các
chủ đầu tư tiến hành các công việc này, người sử dụng đất cản trở không cho
họ vào thửa đất của mình để đo vẽ, kiểm đếm khiến cho công tác bồi thường
giải phóng mặt bằng không thực hiện được. Nhưng hành vi này của người dân
lại không bị xử phạt do Nghị định số 105/2009/NĐ-CP không quy định hành vi
này. Như vậy, nhà làm luật cần bổ sung hành vi này vào Nghị định quy định về
xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai trong thời gian tới.
Mười là, hành vi không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi
13
đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về cơ bản nội dung Điều 17 của
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP vẫn kế thừa quy định tại Điều 19 của Nghị
định số 182/2004/NĐ-CP đối với hành vi này. Tuy nhiên, có sửa một chút
tiêu đề của điều luật đó là đảo cụm từ “Không thực hiện đúng thời hạn trả lại
đất…” thành “Không trả lại đất đúng thời hạn…”.
Mười một là, tự tiện di chuyển làm sai lệch, hư hỏng mốc chỉ giới quy
hoạch sử dụng đất, mốc chỉ giới hành lang an toàn của công trình, mốc địa
giới hành chính. Điều 18 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP giữ nguyên quy
định của Điều 20 của Nghị định số 182/2004/NĐ-CP.
Mười hai là, hành vi làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử
dụng đất. Điều 19 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP và Điều 21 của Nghị
định số 182/2004/NĐ-CP đều xác định rõ đây là hành vi tẩy xóa, sửa chữa
giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không đúng quy định; việc chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng
việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra về đất đai không được
Nghị định giải thích.
Mười lăm là, hành vi hành nghề tư vấn về giá đất mà không thực hiện
đúng nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất theo quy định của pháp luật
hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nghị định số
105/2009/NĐ-CP không định nghĩa về hành vi này, nhưng chúng ta có thể
hiểu là tổ chức, cá nhân hành nghề nhưng không tuân thủ đúng các nguyên
tắc, phương pháp đã được quy định trong Luật, các Nghị định và Thông tư
hướng dẫn hoặc hành nghề mà không có giấy phép của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật.
Mười sáu là, hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
mà không đăng ký hoạt động hành nghề, được quy định tại Điều 23 của Nghị
15
định số 105/2009/NĐ-CP. Đây là hành vi hành nghề tư vấn về lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất mà không đăng ký hoạt động theo quy định của pháp
luật về đất đai.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay pháp luật đất đai vẫn chưa có quy
định về việc đăng ký hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất. Như vậy, quy định này vẫn chưa có cơ sở thực hiện trên thực tế.
Mười bảy là, hành vi cung cấp dữ liệu đất đai không đúng quy định của
pháp luật quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP và được
định nghĩa:
“Là hành vi cung cấp các số liệu, tài liệu về đất đai gồm: số hiệu, kích
thước, hình thể, diện tích, vị trí, người sử dụng thửa đất, nguồn gốc, mục
đích, thời hạn sử dụng đất, giá đất, tài sản gắn liền với đất, nghĩa vụ tài
chính về đất đai đã thực hiện và chưa thực hiện; Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất; quyền và những hạn chế về quyền của người sử dụng đất, biến
động trong quá trình sử dụng đất và các thông tin khác có liên quan không
trong lĩnh vực đất đai quy định hành vi VPHC, hình thức, biện pháp xử phạt
hành chính áp dụng đối với người VPHC là những cơ sở pháp lý quan trọng
để tiến hành hoạt động xử phạt VPHC;
Thứ hai, xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai được tiến hành bởi các
chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về xử lý VPHC và Nghị
định của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai. Chủ thể có thẩm
quyền xử phạt gồm có: Chủ tịch UBND các cấp, Chánh thanh tra và thanh tra
viên thuộc các cơ quan có thẩm quyền thanh tra về đất đai.
Thứ ba, xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai được tiến hành theo những
nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử
17
lý VPHC nói chung và Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC
trong lĩnh vực đất đai.
Thứ tư, kết quả của hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai thể
hiện ở các quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai. Trong đó ghi
nhận các hình thức xử phạt áp dụng đối với người VPHC bao gồm hình thức
xử phạt chính (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền), hình thức xử phạt bổ sung và
các biện pháp khắc phục hậu quả.
1.3.2. Chủ thể VPHC trong lĩnh vực đất đai
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 105/2010/NĐ-CP thì đối tượng
áp dụng hay nói cách khác là chủ thể VPHC trong lĩnh vực đất đai gồm có:
Cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài (gọi chung là cá nhân); cơ quan, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài
(gọi chung là tổ chức); hộ gia đình; cơ sở tôn giáo có hành vi VPHC trong sử
dụng đất đai hoặc trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai.
Cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp
luật về quản lý đất đai sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ,
công chức và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của
Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; trường hợp hành vi có dấu hiệu cấu thành
tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Hình thức xử phạt chính được áp dụng độc lập; hình thức xử phạt bổ
sung, biện pháp khắc phục hậu quả chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử
phạt chính đối với những hành vi VPHC có quy định hình thức xử phạt bổ
sung, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong Nghị định, trừ trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định này.
- Hình thức, mức độ xử phạt được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ
vi phạm, hậu quả của hành vi VPHC, nhân thân của người có hành vi VPHC,
tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng
19