“Giải pháp thị trường nhằm phát
triển thương mại hàng may mặc của
Công ty cổ phần May Đức Giang
trên thị trường nội địa”.
1
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG VỚI PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY ĐỨC GIANG
TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong bối cảnh tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, việc mở rộng và
giữ vững thị trường là điều không phải dễ dàng đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
bất kỳ mặt hàng nào. Để đảm bảo cho sự phát triển, cạnh tranh lành mạnh của các ngành, các
loại sản phẩm nhằm phát triển thương mại từng mặt hàng theo những nguồn lực mà nó đang
có, tạo ra hướng đi riêng cho mỗi ngành để nhằm mục tiêu phát triển bền vững cho tổng thể
nền kinh tế, thì Chính phủ cần có nhiều giải pháp để ổn định kinh kế vĩ mô. Trong đó giải pháp
thị trường và đi sâu vào là giải pháp phát triển thị trường trong nước được xem là yếu tố hết
sức quan trọng, xuất pháp từ một trong các lý do sau:
Về lý luận thị trường nước ta với dân số hơn 86 triệu người đang trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá được coi là một thị trường có tiềm năng rất lớn.
Phát triển thị trường trong nước được Ðảng và Nhà nước ta xác định là một giải pháp
chiến lược hướng vào mục tiêu phát triển bền vững có tác động nhiều mặt đến thúc đẩy
sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn dân, nâng cao mức sống và góp
phần bảo đảm an sinh xã hội.
Bên cạnh đó việc mở cửa thị trường bán lẻ cho các tập đoàn lớn trên thế giới theo lộ
trình cam kết WTO tạo nên sức ép lớn đối với Doanh nghiệp ngay tại thị trường nội địa.
Vì vậy, để tồn tại và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động sáng tạo tìm ra
cho mình giải pháp của riêng mình để không ngừng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường. Thị
trường luôn biến động, do vậy để thành công trong kinh doanh, doanh nghiệp phải thường
xuyên nắm bắt, quan tâm tới thị trường và không ngừng đưa ra các giải pháp nhằm phát triển
thị trường. Phát triển thị trường nhằm phát triển hệ thống phân phối, mở rộng thị trường,
nguyên lý đó thấy được vai trò quan trọng không thể thiếu được của thị trường đối với
bất kỳ doanh nghiệp nào. Vậy để tồn tại và phát triển, vấn đề đặt ra cho mỗi doanh nghiệp
là phải đề ra các mục tiêu và chính sách cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình,
trong đó giải pháp thị trường mà cụ thể là giải pháp phát triển thị trường ra sao và những
giải pháp đó được sử dụng những công cụ nào? Từ đó tìm ra mối quan hệ giữa phát triển
thị trường và phát triển thương mại? Những yêu cầu và nguyên tắc phát triển thị trường là
gì?
3
Về thực tiễn, từ lý thuyết đã được nghiên cứu như trên, qua quá trình thực tập, tìm
hiểu tại công ty và một số doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt hàng. Đề tài đi sâu vào
phân tích, đánh giá, so sánh những nổ lực trong những năm gần đây về phát triển thị
trường ra sao? Hiệu quả thực hiện mục tiêu, chính sách đạt được đến đâu?Từ đó chỉ ra
đâu là mặt mạnh của công ty và cần phát huy những mặt mạnh này như thế nào? Đâu là
mặt yếu của công ty và có biện pháp gì để khắc phục.Từ đó đề xuất những giải pháp cấp
bách mà chủ yếu là giải pháp phát triển thị trường nhằm góp phần phát triển thương mại
của công ty trên thị trường nội địa.
1.3. CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn mục tiêu của đề tài là đi sâu nghiên
cứu các giải pháp, chủ yếu là các giải pháp vĩ mô về thị trường, đi sâu nghiên cứu giải
pháp phát triển thị trường trong nước trong đó: Về phía nhà nước cần có những chính
sách gì? Hiệp hội doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt hàng đưa ra những giải pháp như
thế nào? Giải pháp từ phía công ty? Và một số kiến nghị đối với cơ quan nhà nước, hiệp
hội kinh doanh cùng mặt hàng về phát triển thị trường trong nước nhằm pháp triển thương
mại mặt hàng của ông ty.
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Về nội dung, đề tài nghiên cứu những những lý thuyết thực tiễn có liên quan:
những nguyên lý thị trường cụ thể là phát triển thị trường nhằm phát triển thương mại
hàng may mặc của công ty, và có tham khảo một số doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt
hàng.
Về không gian, phạm vi nghiên cứu tại Công ty cổ phần May Đức Giang, tuy nhiên
đổi cả về số lượng, chất lượng và cả về mẫu mã theo yêu cầu của người tiêu thụ.
Phát triển thị trường chính là việc đưa các sản phẩm hiện tại vào bán trong các thị
trường mới.
Tuy nhiên nếu phát triển thị trường mà chỉ được hiểu là việc đưa các sản phẩm
hiện tại vào bán trong các thị trường mới thì có thể xem như là chưa đầy đủ đối với một
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh của Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Bởi vì, đối với
các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng và công
5
nghệ trang thiết bị không đồng bộ thì không những sản phẩm hiện tại chưa đáp ứng được
thị trường hiện tại, tức là còn bỏ trống thị trường hiện tại mà việc đưa các sản phẩm mới
vào thị trường hiện tại và thị trường mới đang là vấn đề rất khó khăn.
Cho nên ta có thể hiểu một cách rộng hơn: Phát triển thị trường sản phẩm của
doanh nghiệp ngoài việc đưa sản phẩm hiện tại vào bán trên thị trường mới nó còn bao
gồm cả việc khai thác tốt thị trường hiện tại, nghiên cứu, dự báo thị trường đưa ra những
sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của thị trường hiện tại và cả khu vực thị trường mới.
Để có thể tiếp tục các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sau mỗi thời kỳ,
giai đoạn kinh doanh thì doanh nghiệp phải có các tổng kết, đánh giá các hoạt động của
giai đoạn, chu kỳ kinh doanh trước. Doanh nghiệp có thể đánh giá sự phát triển thị trường
sản phẩm của mình thông qua các chỉ tiêu sau: Doanh số bán ra; thị phần; số lượng khách
hàng; số lượng đại lý tiêu thụ và một số chỉ tiêu tài chính…
1.5.2. Phát triển thương mại và mối quan hệ giữa thị trường với phát triển
thương mại
a. Phát triển thương mại là gì?
Thương mại được hiểu là các hoạt động kinh doanh trên thị trường hay còn được
hiểu là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị
trường. Là quá trình mua bán trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng
hoá.
Phát triển thương mại sản phẩm có thể được hiểu là sự nỗ lực cải thiện về quy mô, chất
lượng các hoạt động thương mại của sản phẩm trên thị trường nhằm tối đa hoá tiêu thụ và hiệu
quả của các hoạt động thương mại, cũng như tối đa hoá lợi ích mà khách hàng mong đợi trên
nếu không có thị trường thì doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và phát triển. Thị trường
luôn luôn biến động, do vậy để thành công trong kinh doanh các doanh nghiệp phải
thường xuyên nắm bắt, quan tâm đến thị trường và không ngừng phát triển thị trường.
Hoạt động trong cơ chế thị trường mà không nắm bắt được cơ hội, sự vận động của nền
kinh tế, không biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thì doanh nghiệp sẽ bị
tụt hậu và sớm bị loại ra khỏi thị trường. Doanh nghiệp muốn thành công thì không thể
chỉ dành lấy một mảng thị trường mà phải vươn lên nắm vững thị trường, thường xuyên
mở rộng và phát triển thị trường.
Hơn nữa, trong nền kinh tế cũng như trong các quan hệ kinh tế giữa các nhóm chủ thể,
thị trường được coi là yếu tố cơ bản, là điều kiện tiên quyết cấu thành nên thương mại, vì vậy
thị trường là yếu tố hết sức quan trọng có tầm ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển thương mại.
Đối với bất kỳ hãng kinh doanh sản phẩm nào thì thị trường luôn là yếu tố hàng đầu để cho các
hãng quan tâm. Dung lượng thị trường rộng hay hẹp, to hay nhỏ nó sẽ tác động tới tốc độ tăng
7
trưởng của sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận và đặc biệt thị trường là yếu tố quan trọng cho phát
triển bền vững trong kinh doanh. Sự ảnh hưởng của thị trường với phát triển thương mại như:
* Cơ cấu của thị trường tiêu thụ nội địa giúp phân chia các khu vực thị trường theo
mức độ sản lượng tiêu thụ, xác định được các khu vực có khối lượng tiêu thụ lớn, ổn định cũng
như các thị trường tiềm năng, từ đó có thể nắm vững điều tiết sản xuất phù hợp với nhu cầu
người tiêu dùng. Cơ cấu thị trường có thể quyết định quy mô tiêu thụ nội địa, nên tập trung ở
những phân đoạn thị trường nào mà doanh nghiệp có nhiều lợi thế, điều kiện phát triển.
* Đặc thù của từng thị trường nội địa tác động đến cơ cấu sản phẩm tiêu thụ nội địa.
Những đặc trưng của thị trường bao gồm đặc trưng về nhân khẩu, cơ sở hạ tầng thương mại,
đặc thù các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể, rào cản của thị trường… tất cả những yếu tố
đó tác động đến chủng loại, phương thức phát triển kênh tiêu thụ, phân phối trên thị trường nội
địa, ảnh hưởng tới quá trình phát triển thương mại của sản phẩm.
1.5.3. Những nguyên lý phát triển thị trường với phát triển thương mại
a. Nguyên tắc phát triển thị trường
* Nguyên tắc 1: Đảm bảo vững chắc phần thị trường hiện có
Để tạo thị trường tiêu thụ ổn định thì doanh nghiệp phải xây dựng và thực hiện các
rộng thị trường tiêu thụ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kì
là hoạt động có tính nguyên tắc đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
b. Nội dung phát tiển thị trường
Phát triển thị trường nhằm tìm kiếm cơ hội hấp dẫn trên thị trường. Có rất nhiều
loại cơ hội trên thị trường nhưng chỉ những cơ hội phù hợp với tiềm năng và mục tiêu của
doanh nghiệp mới được gọi là cơ hội hấp dẫn. Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế
thị trường nói chung chỉ quan tâm đến cơ hội hấp dẫn. Các cơ hội đó được tóm tắt dưới
sơ đồ:
Sản phẩm
Thị trường
Sản phẩm cũ Sản phẩm mới
Thị trường hiện tại
Xâm nhập thị trường Phát triển thị trường
Thị trường mới
Phát triển thị trường Đa dạng hoá sản phẩm
9
Sản phẩm cũ: là những sản phẩm mà những doanh nghiệp đã và có thể đang kinh
doanh, khách hàng đã quen thuộc với sản phẩm này.
Sản phẩm mới: được hiểu theo hai cách:
Sản phẩm mới hoàn toàn: là sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường chưa
có sản phẩm khác thay thế. Người tiêu dùng chưa hề quen dùng những sản phẩm này.
Sản phẩm cũ đã được cải tiến và thay đổi thì cũng là sản phẩm mới. Sản phẩm cũ
và sản phẩm mới chỉ là khái niệm tương đối vì sản phẩm có thể cũ trên thị trường này
nhưng lại mới nếu bán được trên thị trường khác.
Thị trường cũ: Còn được gọi là thị trường truyền thống đó là những thị trường mà
doanh nghiệp đã có quan hệ buôn bán quen thuộc từ trước đến nay. Trên thị trường này
doanh nghiệp đã có các khách hàng quen thuộc.
Thị trường mới: Là thị trường mà từ trước đến giờ doanh nghiệp chưa có quan hệ
mua bán gì và do vậy cũng chưa có khách hàng.
Phát triển thị trường theo chiều rộng
quá trình đầu vào của quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, lao động. Muốn phát triển
thị trường sản phẩm tất yếu doanh nghiệp phải có được một mức giá và chất lượng phù
hợp với người tiêu dùng. Mà để đạt được điều này thì doanh nghiệp phải cố gắng khống
chế được người cung cấp để ổn định cho sản xuất. Khi đầu vào của quá trình sản xuất
được ổn định thì việc phát triển thị trường sản phẩm sẽ dễ dàng hơn.
Phát triển thống nhất: Là việc doanh nghiệp phát triển thị trường sản phẩm bằng
cách cùng một lúc vừa khống chế đường dây tiêu thụ vừa đảm bảo nguồn cung cấp ổn
định.
1.5.4. Đặc thù của giải pháp phát triển thị trường với phát triển thương mại
cho mặt hàng may mặc
a. Đặc điểm thị trường hàng may mặc Việt Nam
Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp dệt – may Việt Nam đến năm 2015 là :
hướng vào xuất khẩu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ, đảm bảo cân đối trả nợ và tái sản
xuất mở rộng, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước từng bước đưa công nghiệp dệt
may Việt Nam trở thành hàng xuất khẩu mũi nhọn góp phần tăng trưởng kinh tế giải
quyết việc làm, thực hiện đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Theo dự kiến, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam phấn đấu đến năm 2015 sẽ sản
xuất 2 tỷ mét vuông vải các loại và 40 nghìn tấn bông xơ, 210 nghìn sản phẩm xơ sợi
tổng hợp, 2,85 tỷ sản phẩm may (quy chuẩn ). Kim ngạch xuất khẩu dệt may dự kiến đạt
11
18 tỷ USD. Mặt khác, mở rộng diện tích trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm để tự túc được
bông và tơ phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu.
Giai đoạn 2008 đến 2010, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 16% đến 18%, tăng
trưởng xuất khẩu bình quân đạt 20% và tỷ lệ nội địa hoá đạt 50% vào năm 2010;
Giai đoạn 2011 đến 2015, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 12% đến 14%, tăng
trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15% và tỷ lệ nội địa hoá đạt 60% vào năm 2015;
Giai đoạn 2016 đến 2020, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 12% đến 14%, tăng
trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15% và tỷ lệ nội địa hoá đạt 60% vào năm 2020.
b. Đặc thù của giải pháp phát triển thị trường với phát triển thương mại cho mặt
hàng may mặc
công ty sản xuất và kinh doanh sản phẩm hàng may mặc: Công ty Cổ phần may Đức
Giang, Công ty Cổ phần may 10, Tổng Công ty Cổ phần may Việt Tiến và Công ty Cổ
phần may Chiến Thắng. Liên hệ với công ty xác định đối tượng điều tra là các cán bộ ở
cấp quản lý doanh nghiệp và công nhân công tác tại công tyđể khảo sát tình hình thực tế
đạt độ tin cậy, chính xác cao.
Phát ra 20 phiếu điều tra, kính đề nghị quý cơ quan điền câu trả lời, sau đó tập hợp
và thu thập lại các thông tin đã cập nhật được. Đối với một số trường hợp do những lý do
khách quan không thể điều tra trực tiếp có thể sử dụng phương pháp điều tra thông qua
các phương tiện khác như email, điện thoại, máy fax,…
Phương pháp điều tra được sử dụng nhằm mục đích thu thập thông tin để tổng hợp
kết quả điều tra trắc nghiệm trong phần 2.4 của đề tài, lấy đó làm cơ sở dể viết phần đánh
giá thành công, hạn chế trong phần 3.1.
b. Phương pháp phỏng vấn
Bên cạnh phiếu điều tra trắc nghiệm, tiến hành phỏng vấn chuyên sâu với số lượng
phát ra là 20 phiếu phỏng vấn, xin ý kiến của các chuyên gia về đánh giá thực trạng
những khó khăn, tồn tại, nguyên nhân, thành công, kinh nghiệm xu hướng, tiềm năng
phát triển của doanh nghiệp trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm hàng may mặc trong nước,
…Cách thức tiến hành phỏng vấn tương tự như quá trình điều tra và có thể kết hợp hai
công việc này trong một quá trình của một giai đoạn nghiên cứu.
13
Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp kết quả phỏng vấn ở phần 2.4 và đánh
giá ở phần 3.1.
c. Phương pháp thu thập thông tin từ nguồn sách báo, tạp chí, ấn phẩm
Ngoài hai phương pháp trên, ta còn có thể sử dụng phương pháp khai thác thông
tin gián tiếp thông qua internet, qua báo chí, tạp chí,…
Nắm được nội dung cơ bản của vấn đề nghiên cứu, tiến hành tìm kiếm thông tin
liên quan phục vụ cho việc viét bài thông qua mạng internet với một số trang web như:
www.mayducgiang.com.vn, Tham khảo những thông tin,
tin tức trong các bản tin, báo chí… từ đó có những đánh giá riêng của bản thân về vấn đề
nghiên cứu.
TCLĐ đổi tên Xí nghiệp thành Công ty may Đức giang và là một đơn vị thành viên của
Liên hiệp sản xuất – xuất nhập khẩu may.
Ngày 13-9-2005 Bộ trưởng Công Nghiệp v/v kí quyết định số 2882/QĐ-BCN
chuyển Công ty May Đức Giang thành Công ty cổ phần May Đức Giang.
Từ 1-1-2006 công ty đã chính thức hoạt động theo qui chế công ty cổ phần trong
đó phần vốn nhà nước chiếm 45% vốn điều lệ. Hiện nay số cán bộ công nhân viên của
Công ty và các đơn vị liên doanh gần 9000 người, mỗi năm sản xuất khoảng 7 triệu sơ-
mi, 3 triệu giắc-két và 1 triệu quần. Sản phẩm của Công ty được xuất đi nhiều nước trên
thế giới.
2.2.2. Tổng quan thực trạng thương mại hàng may mặc của Công ty
trên thị trường nội địa
Sản phẩm hàng may mặc của công ty cổ phần may Đức Giang chủ yếu là xuất
khẩu chiếm 88.2%. Tuy nhiên, hiện nay thực hiện chủ trương phát triển thị trường nội địa
của Chính phủ và Nghị quyết của Hội đồng quản trị, từ đầu năm đến nay, Tập đoàn Dệt
may VN (Vinatex) đã huy động lực lượng tham gia nhiều hoạt động xúc tiến thương mại
ở khắp các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như "Tuần hàng Việt Nam", Hội chợ
MêKông Expo 2009 việc mở rộng tiêu thụ nội địa là hướng đi mang tính lâu dài để tăng
trưởng bền vững của ngành dệt may. Thực hiện chiến lược tăng tốc, song song với tìm
kiếm hợp đồng xuất khẩu sang thị trường khu vực, các DN dệt may VN thời gian qua đã
chú trọng xúc tiến thương mại, đẩy mạnh thị trường trong nước, đưa doanh thu nội địa
ngày càng tăng. Ði đầu trong quá trình này là Tổng Công ty may Việt Tiến với hệ thống
2.000 cửa hàng phân phối, doanh thu nội địa năm 2008 đạt 500 tỷ đồng, tiếp đến là May
10, May Nhà Bè, đối với công ty cổ phần May Đức Giang cũng phấn đấu đạt May Ðức
Giang doanh thu 50 - 100 tỷ đồng/năm tăng 20 – 25% so với năm trước. Đây là chuyển
biến khá khả quan ở thị trường nội địa.
Hiện nay, khách hàng tiêu dùng thời trang có thể tạm chia làm 3 nhóm: nhóm có
thu nhập thấp thường sử dụng hàng may sẵn, rẻ tiền nhưng nhanh hỏng; nhóm có thu
15
nhập cao sử dụng sản phẩm của các hãng thời trang cao cấp; nhóm trung lưu chiếm số
lượng khá đông đảo, không chấp nhận lối mặc đại trà, hàng kém chất lượng của Trung
những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên đứng trước những khó khăn khách quan cùng với
16
sự cạnh tranh gay gắt của đối thủ, Công ty cần phải nỗ lự hơn nữa để có thể đạt được mục
tiêu đề ra.
2.3. NHỮNG ẢNH HƯỞNG NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA HIỆN NAY
2.3.1. Nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh
a. Môi trường văn hoá xã hội
Yếu tố văn hoá xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh cũng như sự
hình thành đặc điểm thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Các thị trường luôn
bao gồm con người thực với số tiền mà họ sử dụng trong việc thoả mãn nhu cầu của họ.
Các thông tin về môi trường văn hoá-xã hội cho phép doanh nghiệp hiểu biết ở những
mức độ khác nhau từ khái niệm đến cụ thể, về đối tượng phục vụ của mình. Qua đó, có
thể đưa ra một cách chính xác sản phẩm và cách thức phục vụ khách hàng. Các tiêu thức
được nghiên cứu khi phân tích môi trường văn hoá-xã hội và các ảnh hưởng của nó đến
thị trường của doanh nghiệp gồm: Dân số và xu hướng vận động; Các hộ gia đình và xu
hướng vận động; Sự di chuyển của dân cư; Thu nhập của dân cư và xu hướng vận động ;
phân bố thu nhập giữa các nhóm người và các vùng địa lý; Việc làm và vấn đề phát triển
việc làm; Dân tộc và các đặc điểm tâm sinh lý.
b. Môi trường kinh tế và công nghệ
Môi trường kinh tế
Các yếu tố kinh tế bao gồm các nhân tố tác động đến sức mua của khách hàng và
dạng tiêu dùng hàng hoá, “là máy đo nhiệt độ” của thị trường, quy định cách thức doanh
nghiệp sử dụng các nguồn nhân lực của mình. Các yếu tố quan trọng có thể tác động đến
thị trường của doanh nghiệp gồm: Sự tăng trưởng kinh tế; Sự thay đổi về cơ cấu sản xuất
và phân phối; Tiềm năng kinh tế và sự gia tăng đầu tư; Lạm phát, thất nghiệp và sự phát
triển ngoại thương; Các chính sách tiền tệ tín dụng …
Kỹ thuật công nghệ
Yếu tố kỹ thuật và công nghệ làm cơ sở cho yếu tố kinh tế là nhân tố dẫn đến sự ra đời
sản phẩm mới và tác động tới phát triển thị trường. Ngược lại yếu tố kỹ thuật công nghệ
cung ứng hàng hoá, lao động… Các yếu tố của môi trường sinh thái như: khí hậu, thời
tiết, tính chất mùa vụ, cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến các chu kỳ
sản xuất tiêu dùng trong khu vực, đến nhu cầu về các loại sản phẩm được tiêu dùng của
khách hàng dẫn đến ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp.
2.3.2. Nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp
Thị trường và khả năng phát triển thị trường của doanh nghiệp luôn phụ thuộc chặt
chẽ vào các yếu tố phản ánh tiềm lực của một doanh nghiệp cụ thể. Một thị trường có thể
18
phù hợp để phát triển với doanh nghiệp này nhưng lại không thể áp dụng chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp khác, tất cả đều xuất phát từ nội lực doanh nghiệp quyết định.
a.Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp
Bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động, giá cổ phiếu trên thị trường, tỷ lệ khả
năng sinh lời…có ảnh hưởng quyết định đến quy mô và cơ cấu của thị trường doanh
nghiệp, quy mô lớn hay nhỏ, cơ cấu thị trường đơn giản hay phức tạp đều phụ thuộc vào
khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Trong thời gian qua Hội Đồng Quản Trị của Công ty đã chỉ đạo đầu tư phát triển
và đầu tư chiều sâu rất kịp thời, tiết kiệm và hiệu quả. Cho đến nay các công trình đâu tư
đều phát huy hiệu quả tốt như Xí Nghiệp May 3, Nhà kho nguyên phụ liệu và xản xuất 3
tầng của Công ty May Đức Giang, hệ thống nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn sạch tại các Đơn vị
thành viên, bổ sung máy móc chuyên dùng, tự động tại các đơn vị sản xuất giúp thay đổi
bộ mặt về thiết bị công nghệ một cách cơ bản, nâng cao năng suất lao động;
Việc đầu tư vốn sang các doanh nghiệp khác bước đầu phát huy hiệu quả như: Đối
với Công ty Cổ phần thời trang phát triển cao đã đầu tư xong giai đoạn 1 (50 tỷ) đã bắt
đầu đi vào sản xuất từ năm 2009 và đến nay đang dần ổn định; Đối với Công ty Cổ phần
chứng khoán Phố Wall năm 2008 bắt đầu hoạt động trong điều kiện thị trường chứng
khoán suy giảm mạnh, tuy nhiên năm 2008 lãi 1,1 tỷ. Đối với Công ty Cổ phần Bảo hiểm
hàng không hoạt động 2008 có lãi 32 tỷ.
Cũng trong năm 2009 Công ty đã xin ý kiến các cổ đông phát hành thành công
10tỷ đồng tuơng đương 1 triệu cổ phiếu thu về 30 tỷ đồng, trong đó thặng dư vốn là 20 tỷ
đồng.
thời trang nổi tiếng trong ngành Dệt may. Sản phẩm may Đức Giang đã có mặt ở hầu hết
các thị trường trên thế giới như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Đông, Nam Mỹ… thông
qua các nhà nhập khẩu lớn tại nhiều nước. Sản phẩm chính bao gồm: áo Jacket, áo sơ mi,
và quần các loại…
Với bề dày kinh nghiệm và uy tín của thương hiệu “May Đức Giang”, hiện Công
ty Đức Giang đang có rất nhiều đơn hàng giá trị cao, sản phẩm xuất khẩu trực tiếp tới
nhiều bạn hàng lớn. Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Hoàng Vệ Dũng khẳng định, năm 2009,
Tổng công ty Đức Giang quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch doanh thu 752 tỷ đồng,
đạt kim ngạch xuất khẩu 39,82 triệu đồng, đồng thời bảo đảm việc làm và đời sống cho
người lao động, góp phần thực hiện mục tiêu chống suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã
hội do Chính phủ đề ra.
20
2.4. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU THU THẬP VỀ THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI CỦA
CÔNG TY TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
2.4.1. Kết quả phân tích dữ liệu sơ cấp
Kết thúc quá trình điều tra phỏng vấn: Tổng số phiếu phát ra: 20 phiếu
: Tổng số phiếu thu về: 18 phiếu
: Số phiếu hợp lệ : 18 phiếu
a. Khái quát về đối tượng điều tra phỏng vấn
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, đặc biệt là cung cấp thêm những minh chứng
thực tế về phát triển thị trường với phát triển thương mại mặt hàng may mặc trên thị
trường nội địa. Em tiến hành lựa chọn 5 doanh nghiệp, 2 đại lý, 7 khách hàng tham gia
điều tra, phỏng vấn. Để đảm bảo độ tin cậy cho việc điều tra, phỏng vấn, em lựa chọn các
doanh nghiệp điều tra theo những tiêu thức đại diện về khu vực địa lý, thành phần kinh tế,
quy mô, về phương thức và loại hình kinh doanh.
Các phiếu điều tra, phỏng vấn được phát tại 5 doanh nghiệp, 2 đại lý và 7 khách
hàng bao gồm:
Số phiếu phát tại Công ty cổ phần May Đức Giang: 3 phiếu
Số phiếu phát tại 4 doanh nghiệp: Công ty cổ phần may 10, Tổng công ty Việt
đối với cơ quan quản lý Nhà nước và với Hiệp hội Dệt may Việt Nam.
c. Kết quả phân tích điều tra trắc nghiệm
Trên cơ sở thu thập và phân tích các thông tin từ 18 phiếu điều tra hợp lệ cho một
số kết quả sau:
Phương thức bán hàng chủ yếu của doanh nghiệp
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp các phương thức bán chủ yếu
STT
Phương thức bán hàng chủ yếu
Bán lẻ Đại lý Bánqua internet Hình thức
khác
1
100% 100%
Vai trò phát triển thị trường may mặc trên thị trường nội địa hiện nay
Tổng hợp phiếu điều tra cho thấy, tất cả 18 phiếu điều tra hợp lệ cho rằng việc phát
triển thị trường may mặc trên thị trường nội địa hiện nay là rất cần thiết.
22
Mức độ quan trọng của các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển thị trường may
mặc
Bảng 2.2. Bảng tổng hợp điều tra mức độ quan trọng của các chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả phát triển thị trường
STT Các công cụ Số doanh nghiệp lựa chọn (%)
Mức độ quan trọng
(1 là quan trọng nhất, 5 là quan tâm ít nhất)
1 2 3 4 5
1 Doanh thu, lợi nhuận 77.78% 11.11% 11.11%
2 Thị phần 88.89% 11.11%
3 Số lượng đại lý 50% 50%
4 Các chỉ tiêu tài chính 83.33% 16.67%
Công tác kiểm tra giám sát
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp điều tra về công tác kiểm tra giám sát
Xây dựng chính sách thương mại
Hệ thống chính trị luật pháp chặt chẽ
2.4.2. Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp
a. Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp tại Công ty cổ phần may Đức Giang
Bảng 2.4. Bảng doanh thu, lợi nhuận sản phẩm may mặc từ 2006 – 2009
Đơn vị: tỷ đồng
STT Năm 2006 2007 2008 2009
1 Tổng doanh thu
681 694.218 711.353 715.712
2 Doanh thu nội địa
9.274 9.584 24.602 38.586
3 Doanh thu xuất khẩu
647.941 630.045 652.749 631.258
4 Lợi nhuận
9.132 12.095 12.920 13.48
5 %DTND so với năm trước
103.35 256.68 156.84
Bảng 2.5. Bảng cơ cấu sản phẩm may mặc tiêu thụ theo từng mặt hàng từ 2006 –2009
Đơn vị: 1000 chiếc
24
Năm
2006 2007 2008 2009
Jacket Sơ mi Quần Jacket Sơ mi Quần Jacket Sơ mi Quần Jacket Sơ mi Quần
XK 2,941 6,112 1,198 3,150 6,902 1,174 2,900 6,597 692 2,701 6,103 218
NĐ 42 90 97 38 95 101 76 79 127 101 98 319
Bảng 2.6. Bảng diễn biến sản lượng tiêu thụ hàng may mặc trong nước
từ năm 2006-2009
Đơn vị: chiếc
STT Năm Tổng SL SLXK SLTN %
SLXK