BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hiển
DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành : Địa lí học
Mã số : 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ XUÂN THỌ
Tàu. Là tỉnh được tái lập năm 1997 với 7 huyện thị gồm 79 phường, xã, thị trấn; diện tích tự nhiên là
2.681km
2
và mật độ dân số gần 300 người/km
2
.
Với lợi thế về vị trí địa lí, Bình Dương có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế,
văn hoá, khoa học kĩ thuật với các tỉnh trong cả nước và quốc tế. Đây cũng là lợi thế thu hút các nhà
đầu tư, dân cư, lao động đến làm ăn, sinh sống. Chính điều này đã làm cho đặc điểm dân số và tình
hình phát triển kinh tế - xã hội của Bình Dương có nhiều biến động đặc biệt là từ năm 1997 đến nay.
Do nhu cầu tăng trưởng ki
nh tế, tỉnh đã thu hút rất nhiều lao động ngoại tỉnh đến làm việc làm cho quy
mô dân số Bình Dương ngày càng lớn và phần lớn là do gia tăng cơ học. Vấn đề dân số bao gồm cả
quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh và vẫn là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững, nâng ca
o chất lượng cuộc sống cả
trong hiện tại và tương lai.
Dân số và mối quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là một vấn đề cần được
quan tâm, nhìn nhận, phân tích và đánh giá. Làm được điều này sẽ góp phần lớn vào việc thực hiện tốt
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới. Chính vì vậy, tác giả luận văn đã chọn
đề tài “D
ân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
- Phân tích đặc điểm dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương từ 1997 – 2007.
- Phân tích mối quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương; định hướng
sự phát triển dân số của tỉnh tr
ong tương lai, đưa ra giải pháp nhằm phát triển cân đối giữa dân số và
kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hữu Dũng, Phạm Thuý Hương. Ngoài ra còn có luận án tiến sĩ với đề tài “Phát triển dân số và mối
quan hệ của nó với phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM” của PGS.TS. Nguyễn Kim Hồng – Trường Đại
học Sư phạm TP.HCM, luận án P.TS “Lượng hoá một số tương quan chủ yếu giữa các chỉ tiêu về dâ
n
số và phát triển kinh tế tại TP.HCM” của Nguyễn Thuấn – Trường Đại học Kinh tế TP.HCM”…. Bên
cạnh đó còn có 2 cuộc hội thảo Quốc gia và Quốc tế về vấn đề dân số và phát triển kinh tế - xã hội
(năm 1987 và 1992). Các cuộc hội thảo nói trên đã đề cập đến nhiều lĩnh vực và biện pháp làm giảm áp
lực của gia tăng dân số, tận dụng mọi tiềm năng về tự nhiên và lao động để phát triển nha
nh chóng nền
kinh tế - xã hội nước ta.
Bình Dương có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến một số khía cạnh của dân số như “Chiến
lược dân số Bình Dương, giai đoạn 2001 – 2010” – UBND tỉnh Bình Dương, “Báo cáo 15 năm công
tác dân số, gia đình và trẻ em tỉnh Bình Dương 1990 – 2005” - Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em tỉnh
Bình Dương, “Báo cáo đánh giá tình hì
nh thực hiện công tác dân số, gia đình và trẻ em năm 2006 và
nhiệm vụ công tác năm 2007” – Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em tỉnh Bình Dương, “Chương trình
giải quyết việc làm tỉnh Bình Dương giai đoạn 2001 – 2005” – Ban chỉ đạo xây dựng chương trình việc
làm - UBND tỉnh Bình Dương, “Đề án xúc tiến lao động” – Sở Lao động Thương binh - Xã hội tỉnh
Bình Dương…..
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết vấn đề mối
quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương. Các công trình nghiên cứu kể trên
sẽ là những tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả nghiên cứu đề tài “Dân số và phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh Bình Dương” được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.
4. Hệ quan điểm nghiên cứu
4.1. Quan điểm hệ thống
Dân số và phát triển kinh tế - xã hội là một bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế – xã hội. Sự
thay đổi về quy mô, đặc điểm dân số có thể chịu ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế - xã hội và ngược
lại. Vì vậy, phải coi các vấn đề dân số và phát triển như là một hệ thống nằm trong hệ thống kinh tế -
xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng.
5.3. Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Đây là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa lí. Sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn
đề nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn. Các bản đồ tr
ong đề tài được thành lập bằng
phần mềm Mapinfo 7.0, dựa trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập và xử lý.
Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối quan hệ địa lí thông qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ.
5.4. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Thực địa là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu các vấn đề địa lí kinh tế - xã hội. Vì
vậy, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp nà
y để kiểm tra độ chính xác, tin
cậy của các nguồn tài liệu đã thu thập được.
V.5. Phương pháp dự báo
Đề tài sử dụng phương pháp dự báo dựa trên cơ sở tính toán từ các số liệu đã thu thập được và sự
phát triển có tính quy luật của các sự vât, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
6. Các đóng góp chính của đề tài
- Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề lí luận về dân số, phát triển và mối quan hệ giữa dân số và
phát triển.
- Phân tích các đặc điểm
dân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương.
- Phân tích mối quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội ở Bình Dương.
- Dự báo sự phát triển dân số của tỉnh trong tương lai và đề xuất những giải pháp nhằm phát triển
cân đối mối qua
n hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương.
7. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1 : Cơ sở lí luận
Chương 2 : Dân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương
Chương 3 : Định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến 2020
Kết luận
suất sinh ở các nhóm
nước đều có xu hướng giảm mạnh (1,6 lần) nhưng các nước phát triển giảm
nhanh hơn (2 lần). Ở các nước đang phát triển, tỉ suất sinh thô thường cao hơn các nước phát triển. Tỉ
suất sinh thời kì 1950 – 1955 của các nước đang phát triển cao hơn các nước phát triển 19
0
/
00
, đến năm
2004 – 2005 vẫn còn 13
0
/
00
.
Hình 1.1. Tỉ suất sinh thô thời kì 1950 - 2005
31
27
23
21
36
11
12
Toàn thế giới
Các nước phát triển
Các nước đang phát triển
- Tổng tỉ suất sinh (Total Fertility Rate TFR)
Tổng tỉ suất sinh là số con trung bình sinh ra còn sống của một phụ nữ (hay một nhóm phụ nữ
trong suốt cuộc đời mình [6, tr.47]
TFR =
1000
49
15
ASFRx
Trong đó:
ASFR: Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi được tính bằng công thức
ASFR =
P
B
wx
fx
Với:
B
fx
: số trẻ em sinh ra trong năm bởi số phụ nữ trong độ tuổi x
P
wx
: Số phụ nữ trong độ tuổi x
- Tỉ suất tử thô (Crude Death Rate):
CDR =
Nhìn chung, tỉ suất sinh thô có xu hướng giảm dần nhờ những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội
và cả trong mức sinh. Đầu thế kỉ XX, mức tử vong còn khá cao, nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ
hai đã giảm nhanh. Đối với các nước phát triển, mức chết giảm nhanh, nhưng sau đó chững lại và có
chiều hướng tăng lên (15
0
/
00
giai đoạn 1950 – 1995, 9
0
/
00
giai đoạn 1960 – 1965 và 1975 – 1980 rồi lại
tăng lên 10
0
/
00
từ năm 1985 đến nay) là do cơ cấu dân số già, tỉ lệ người lớn tuổi cao. Ngược lại, đối
với các nước đang phát triển, mức chết giảm chậm hơn (từ 28
0
/
00
giai đoạn 1950 – 1955 xuống 12
B: Số sinh
D: Số tử vong trong cùng thời kì.
Hình 1.2. Tỉ suất tử thô thời kì 1950 - 2005
15
11
9
9
25
10
10
9
9
15
28
17
12
9
8
0
5
10
15
20
25
30
1950 -
1955
1975 -
1980
1985 -
tăng dân số tự nhiên. Tuy nhiên trong cùng thời kì, giữa các nước có trình độ khác nhau, gia tăng tự
nhiên diễn ra không như nhau.
Bảng 1.1. Biến động tự nhiên dân số trên thế giới giai đoạn 1800 - 2005 (%
)
Thời kì
Các vùng
1800 -
1850
1900 -
1950
1975 -
1980
1985 -
1990
1995
2005
Thế giới 0,5 0,8 1,9 1,7 1,5 1,2
Trong đó:
Châu Phi 0,1 1,0 2,7 3,0 2,8 2,3
Châu Á 0,5 0,8 2,0 1,8 1,7 1,3
Mỹ Latinh 0,9 1,6 2,7 2,2 1,9 1,6
Bắc Mỹ 2,7 1,4 1,0 0,8 0,7 0,6
Châu Âu 2 0,6 0,6 0,2 - 0,1 - 0,1
Châu Đại Dương - 1,6 1,9 1,4 1,2 1,0
Nguồn: World Population Data Sheet 2005
Nơi nào có tốc độ tăng tự nhiên dân số cao, nơi đó dân số tăng nhanh và thời gian dân số tăng gấp
đối rút ngắn lại. Hiện nay, tốc độ tăng dân số ở các nước đang phát triển cao hơn nhiều so với các nước
phát triển. Do đó, trong tương lai, dân số các nước đang phát triển chiếm tuyệt đại bộ phận dân số thế giới.
I: số người nhập cư trong năm
E: số người xuất cư trong năm.
- Tỉ suất chuyển cư thực (Tỉ suất gia tăng cơ học) (Net Migration Rate – NMR) là tỉ số giữa
chuyển cư thực với dâ
n số trung bình của vùng [6, tr.59].
NMR =
P
EI
= IR – ER
c. Gia tăng dân số (PGR: Population Growth Rate)
Đây là thước đo phản ánh đầy đủ và trung thực tình hình biến động dân số của một quốc gia, một
vùng. Nó được thể hiện bằng tổng số giữa tỉ suất gia tăng tự nhiên và tỉ suất chuyển cư thực.
PGR = RNI + NMR
Tỉ suất gia tăng dân số còn được tính theo công thức:
PGR =
Po
PoPt
Po: dân số ở thời điểm điều tra ban đầu
Pt: dân số ở thời điểm điều tra cuối.
Nếu thời điểm điều tra cách nhau một năm thì công thức trên cho biết tốc độ tăng trưởng dân số
trong một năm. Nếu tốc độ tăng trưởng dân số theo thời gian nhiều năm, các nhà dân số học thường sử
dụng công thức hàm mũ để dự báo dân số:
Pt = Po.e
rt
Trong đó:
Pt: dân số ở năm dự báo
Po: dân số ở năm gốc.
r: tỉ lệ tăng trưởng dân số
- Nhóm trên tuổi lao động: trên 60 tuổi (hoặc trên 65 tuổi).
Số người trong nhóm tuổi lao động là nguồn nhân lực quan trọng, là vốn quý của quốc gia, cần
phải sử dụng số người trong nhóm tuổi này một cách tối ưu để tạo ra sức sản xuất cao nhất cho xã hội.
Dân số già và dân số trẻ:
- Dân số già là dân số có tỉ lệ người già (60 t
uổi trở lên) chiếm trên 10% dân số, thể hiện tỉ suất
sinh rất thấp, tỉ suất tử rất thấp, trẻ em (0- 14 tuổi) dưới 30 – 35% và tuổi thọ trung bình (kì vọng sống)
cao.
- Dân số trẻ là dân số có tỉ suất sinh cao, tỉ suất tử thấp, số trẻ em từ 0 – 14 tuổi chiếm đến trên
35% dân số, số người già (từ 60 tuổi trở lên) chiếm dưới 10% dân số, tuổi thọ trung bình (kì vọng
sống) thấp.
- Tỉ số phụ thuộc: còn gọi là "gánh nặng phụ thuộc", là số người ngoài độ tuổi lao động tương ứng
với 100 người trong độ tuổi lao động.
Số trẻ em + Số người cao tuổi
Tỷ số phụ thuộc = ------------------------------------
Số người trong độ tuổi lao động
Bảng 1.2. Tỷ số phụ thuộc ở nước ta giai đoạn 1979 - 2005
Năm 1979 1989 1999 2005
Tỷ số phụ thuộc 95 86 69 55
Nguồn: Nguyễn Minh Tuệ - Giáo trình dân số - sức khỏe sinh sản
- Tỷ số phụ thuộc không ngừng giảm xuống: Năm 1979 là 95, năm 1989: là 86, năm 1999 là 69
và năm 2005 là 55. Như vậy, nếu năm 1979, cứ 100 người trong độ tuổi lao động phải nuôi 95 người
ngoài độ tuổi lao động (bình quân mỗi người phải nuôi 0,95 người phụ thuộc) thì con số này năm 2005
chỉ còn 55, giảm tới hơn 42%. Theo dự báo, tỷ lệ này đến năm 2014, chỉ còn khoảng 48, nghĩa là chỉ
còn bằng gần nửa năm 1979. Người ta nói rằng,
đây là “cơ cấu dân số vàng”, hay “ Dư lợi dân số" tức
là mỗi người lao động gánh nhẹ dần số người ăn theo, tạo điều kiện tốt cho kinh tế quốc dân, kinh tế gia
Dân số trên tuổi lao động
Dân số trong tuổi lao động
Dân số dưới tuổi lao động
Dân số trong tuổi lao động
Tháp tuổi hay tháp dân số: là sự biểu thị kết hợp cơ cấu tuổi và giới tính của dân số dưới
dạng hình học. Trục hoành thể hiện số lượng tuyệt đối (hoặc %) một bên là nam, một bên
là nữ, trục tung thể hiện độ tuổi [6, tr.121].
Tháp dân số bao gồm những thanh ngang thể hiện những nhóm tuổi liên tiếp nhau từ độ tuổi thấp
nhất ở đáy của tháp đến độ tuổi cao nhất ở đỉnh tháp. Thá
p dân số được chia thành 2 phần bởi trục
thẳng đứng (trục tung) vuông góc với trục ngang (trục hoành) từ đáy lên đỉnh tháp. Phần bên trái của
tháp chỉ cơ cấu tuổi của nam giới, phần bên phải – nữ giới.
Các nhà dân số học chia ra 3 kiểu tháp tuổi:
- Kiểu mở rộng: là của những nước có cơ cấu dân số trẻ. Các nước đang phát triển phần lớn là
kiểu tháp tuổi mở rộng.
- Kiểu thu hẹp: Dâ
n số tăng chậm, nhóm tuổi từ 0 – 14 chiếm tỉ lệ nhỏ. Những thế hệ sau mới sinh
thu hẹp dần, tạo nên một kiểu cấu trúc chuyển tiếp từ “mở rộng” sang “thu hẹp”.
- Kiểu ổn định: Dân số gần như không tăng, tỉ suất sinh rất thấp và tỉ suất tử vong cũng rất thấp ở
nhóm
tuổi trẻ, nhưng ở nhóm tuổi già tỉ suất tử vong cao, dần dần thu hẹp lại ở nhóm tuổi già. Kiểu
tháp tuổi này phổ biến ở các nước phát triển.
70-74
75-79
+ 80
NAM NỮ
%
%
Năm 1999
6420
0246
0 - 4
5 - 9
10-14
15 -19
20-24
25-29
30-34
35-39
40-44
45-49
50-54
55-59
60-64
65-69
70-74
75-79
+ 80
NAM
NỮ
%
%
nghiệp, dịch vụ, khoa học – kĩ thuật.
Các dân tộc ít người có số dân và trình độ phát triển kinh tế khác nhau. Mỗi dân tộc có kinh
nghiệm riêng trong một dân số lĩnh vực như trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi, làm nghề
thủ công…. Các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, văn hóa, khoa học – kĩ thuật…
của nước ta đều có sự
tham gia của các dân tộc ít người.
- Cơ cấu xã hội
+ Cơ cấu dân số theo lao động:
Nguồn lao động:
Bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn lao động
gồm dân số hoạt động kinh tế và dân số không hoạt động kinh tế.
- Dân số hoạt động kinh tế: Dân số hoạt động kinh tế hay còn gọi là lực lượng lao động bao gồm
toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng đang có nhu
cầu tìm việc.
Dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động
(nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55 t
uổi).
Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng là những người từ 15 tuổi trở lên có tổng
số ngày làm việc và có nhu cầu làm thêm lớn hơn hoặc bằng 183 ngày và ngược lại là dân số không
hoạt động kinh tế thường xuyên.
Căn cứ vào hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng của những người từ đủ 15 tuổi trở lên,
số người hoạt động kinh tế thường xuyên chia làm 2 loại:
+ Dân số có
việc làm thường xuyên trong 12 tháng bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên có
tổng số ngày làm việc thực tế lớn hơn hoặc bằng tổng số ngày có nhu cầu làm thêm.
+ Dân số không có việc làm thường xuyên gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên có tổng số ngày
làm việc thực tế nhỏ hơn số ngày có nhu cầu làm thêm.
- Dân số không hoạt động kinh tế: Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm to
àn bộ những người
từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm. Những người này không
vực III.
+ Cơ cấu dân số theo trình độ văn hoá:
Cơ cấu dân số theo trình độ văn hoá phản á
nh trình độ dân trí và học vấn của dân cư, là một trong
những tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống ở mỗi quốc gia. Trình độ dân trí của dân cư cao là
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, thúc đẩy
các mặt khác của đời sống xã hội.
Để xác định cơ cấu dân số theo trình độ văn hoá, người ta thường dùng 2 ti
êu chí: tỉ lệ biết chữ
(số % những người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết) và số năm đến trường (số năm bình quân đến
trường học của những người từ 25 tuổi trở lên).
Hiện nay, trên thế giới có trên 1 tỉ người mù chữ. Tỉ lệ người mù chữ cao nhất là ở các nước Châu
Phi, Nam Á và các nước Ả Rập. Trong khi đó, tại các nước có phát triển, tỉ lệ người biết chữ rất cao, từ
90 đến 100%. Số năm đi học của người
dân ở các nước phát triển khá cao, từ 10 – 14 năm, trong khi đó
ở các nước đang phát triển, con số đó chỉ dao động từ 3 - 5 năm.
1.1.2. Các học thuyết dân số
1.1.2.1. Học thuyết quá độ dân số [6, tr.36]
Là học thuyết về sự biến đổi dân số từ tỉ suất gia tăng cao, tỉ suất sinh ca
o xuống tỉ suất gia tăng
thấp, tỉ suất tử thấp dẫn đến gia tăng dân số thấp.
Học thuyết quá độ dân số dựa trên cơ sở những biến đổi về dân số ở châu Âu vào lúc bắt đầu cuộc
cách mạng công nghiệp. Mô hình xây dựng là dựa trên việc quan sát các biến đổi dân số ở châu Âu là
một mô hình kinh điển về quá độ dân số. Hiện tượng biến đổi dâ
n số được chia thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: từ 1750 – 1800: tỉ suất sinh và tỉ suất tử tương đối cao, gia tăng tự nhiên thấp
(khoảng 0,5% mỗi năm).
Giai đoạn 2: Từ năm 1800 – 1875: tỉ suất sinh tiếp tục tăng cao nhưng tỉ suất chết ngày càng
giảm, dẫn đến tỉ suất gia tăng tự nhiên cao (2%/năm).
Giai đoạn 3: Từ năm 1875 – 1950: tỉ suất sinh giảm và tỉ suất tử tiếp tục giảm đến mức thấp nhất,
à dân số đã đạt đến mức giới hạn không
được vượt qua mức đó, nếu vượt qua dân cư sẽ nhanh chóng lâm vào tình trạng bần cùng, đói khổ.
Hiện nay chỉ còn một vài nơi trên thế giới có dân số thưa thớt như ở Bắc cực, Nam cực…. Những
nơi này cũng không thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Từ hai hình ảnh tương phản trên, thuyết “dân số tối ưu” ra đời nhằm
xây dựng một dân số hợp lí
để có thể phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi.
Sự gia tăng dân số khác nhau sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm khác nhau. Có hai
cách để giải quyết: Một là phải tìm cách giảm sự gia tăng dân số, hai là phải đẩy mạnh nền sản xuất xã
hội nhằm tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu của dân số.
Nếu sự gia tăng dân số không đi đôi với sự gia tăng sản xuất thì kết quả sẽ vô cùng tồi tệ, bởi vì
mức sống của con người sẽ nhanh chóng giảm sút.
Sự gia tăng dân số của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay không hợp lí. Bởi vì, sự gia tăng dân
số nhanh khiến cho ngân sách quốc gia phải gánh chịu nhiều tốn kém. Chẳng hạn ở Pháp cứ 1% dân số
tăng thêm
thì chính phủ phải chi thêm 6,3 – 8% thu nhập quốc dân để đảm bảo mức sống không bị sụt
giảm; còn ở Mĩ cứ 1% dân số tăng thêm thì chính phủ phải chi 2 – 3% ngân sách quốc gia để ổn định
mức sống dân cư.
Đối với các quốc gia đang phát triển, do nền kinh tế kém phát triển, ngân sách quốc gia vốn đã eo
hẹp, sản xuất không có tích luỹ nên dân số tăng lên không hợp lí sẽ đẩy nền kinh tế vốn kém
phát triển
vào tình trạng khó khăn hơn, tốc độ phát triển kinh tế có thể bằng 0 hoặc âm.
Như vậy, một quốc gia muốn phát triển kinh tế - xã hội một cách thuận lợi thì cần có một dân số
phù hợp, tức là “dân số tối ưu”.
1.2. Các khái niệm về phát triển và chỉ số đo sự phát triển
1.2.1. Khái niệm phát triển
- Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc dân và
tổng sản phẩm quốc nội hoặc
mức tăng của tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm trong nước tính theo đầu người [2, tr.115].
không chỉ bao gồm tổng sản phẩm cuối cùng về hàng hoá và dịch vụ được tạo ra bên trong lãnh thổ
một quốc gia m
à còn tính đến các khoản thu nhập do đầu tư ở nước ngoài và các khoản tiền của công
nhân từ nước ngoài gửi về, nhưng phải trừ đi giá trị sản phẩm mà nền kinh tế nước đó phải trả cho
người nước ngoài dưới dạng lợi nhuận do việc họ đã đầu tư vào nền kinh tế của nước mình [2, tr.34].
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là tổng sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà
một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia không phân biệt do người trong nước hay người nước
ngoài làm ra, ở một thời kì nhất định, thường là một năm [2, tr.35].
GDP thường dùng để phân tích cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, trình độ phát
triển và mức sống con người.
1.2.2.2. Kì vọng sống hay tuổi thọ trung bình (Life expectancy):
Kì vọng sống hay tuổi thọ trung bình là số năm
trung bình của người sinh ra có khả năng sống
được. Tuổi thọ trung bình không tính tới những trường hợp chết không bình thường (chết tai nạn, chết
chiến tranh…) [6, tr.98].
Kì vọng sống là một trong những chỉ tiêu để đánh giá trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống,
mức thu nhập, điều kiện y tế, chăm sóc sức khoẻ của một quốc gia, một khu vực….
1.2.
2.3. Chỉ số calo bình quân đầu người
Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng cho con người. Theo quy ước, người dùng đơn vị calo để
đo nhu cầu năng lượng và khả năng cung cấp năng lượng cho con người. Theo tổ chức lương thức thế
giới (FAO) thì chính lương thực thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng thiết yếu cho con người.
Những hoạt động sinh hoạt và sản xuất khác nhau đòi hỏi mức cung cấp năng lượng khác nhau. N
hu
cầu năng lượng còn thay đổi theo độ tuổi và giới tính, mức lao động và trọng lượng cơ thể.
Ở các nước công nghiệp phát triển, lượng calo cung cấp cho một người cao gấp 1,5 lần các nước
đang phát triển và vượt nhu cầu năng lượng của cơ thể (khoảng 3500 calo/người/ngày). Lượng calo
cung cấp thực tế ở các nước đang phát triển thấp hơn (
khoảng 2600 calo/người/ngày). Ở các nước
Nguồn: World Development Indications, 2006
1.2.2.5. Cơ cấu nền kinh tế quốc dân
Cơ cấu nền kinh tế của một nước là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển. Theo cách
phân loại tiêu chuẩn quốc tế của các hoạt động kinh tế thì nền kinh tế hiện đại được cấu thành từ 3 khu
vực sản xuất: nông – lâm – ngư nghiệp (khu vực I), công nghiệp – xây dựng (khu vực II) và dịch vụ
(khu vực III).
Theo số liệu thống kê của nhiều tổ chức trên thế giới thì chỉ tiêu về cơ cấu của nền sản xuất rất
khác nhau giữa các nhóm nước và phụ th
uộc vào sự phát triển kinh tế. Ở những nước công nghiệp hoá
có nền kinh tế phát triển cao, số người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp rất thấp. Đối với những
nước đang phát triển thì ngược lại, tỉ lệ lao động nông nghiệp khá cao, có thu nhập bình quân đầu
người thấp. Ở các nước này, nông nghiệp giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân.
Ở các nước đang phát triển hiện nay đang diễn ra sự thay đổi cơ cấu trong GDP. Nhiều nước chọn
chiến lược công nghiệp hoá và thu hút sức lao động ngày càng nhiều vào lĩnh vực công ngjiệp và dịch
vụ.
1.2.1.6. Một số chỉ tiêu đán
h giá khác
Ngoài các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển đã trình bày ở trên, chúng ta có thể dùng một số chỉ tiêu
sau để đánh giá sự phát triển, đó là các chỉ tiêu về sự thay đổi trong cơ cấu dân cư; tỉ lệ trẻ em đến
trường trong tổng số trẻ em ở độ tuổi đi học; tỉ lệ dân cư đô thị; tốc độ đô thị hoá….
Cũng cần đưa thêm các chỉ số về y tế như số bác sĩ trung bình/
vạn dân, số người khám và điều
trị/tổng số dân… để đánh giá trình độ phát triển. 1.3. Mối quan hệ giữa phát triển dân số với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.3.1. Sự thống nhất biện chứng giữa sản xuất vật chất và tái sản xuất con người
Nền sản xuất xã hội bao gồm 2 mặt: sản xuất vật chất và tái sản xuất con người. H
ai kiểu sản xuất
này có mối quan hệ mật thiết với nhau, có tác động lẫn nhau trong sự thống nhất biện chứng. Sản xuất
uốc dân tăng chậm.
Đối với yếu tố công nghệ, có nhiều lập luận cho rằng quy mô dân số lớn và tăng trưởng nhanh có
thể là sức ép làm nảy sinh các phát minh khoa học và đẩy nhanh tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, tiến bộ
công nghệ cũng cần có thời gian và cần có những đầu tư lớn mà các nước nghèo chưa thể đáp ứng
nga
y được.
Từ những lập luận trên có thể thấy rằng: Tăng nhanh dân số ở các nước nghèo là bất lợi cho nền
kinh tế.
Kết luận này có thể được chứng minh cụ thể thông qua mối quan hệ sau:
Tỉ lệ gia tăng GNP/người = tỉ lệ tăng GNP – tỉ suất gia tăng dân số [2, tr.116].
Như vậy để tăng GNP/người thì tỉ lệ tăng GNP phải cao hơn tỉ suất gia tăng dâ
n số. Và việc hạ
thấp tỉ suất gia tăng dân số bao giờ cũng sẽ làm tăng GNP/người. Nếu gia tăng dân số quá nhanh so với
mức tăng trưởng kinh tế sẽ làm giảm mức sống người dân, đồng thời hạ thấp vai trò của nhân tố con
người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, huỷ hoại môi trường thiên nhiên, hệ sinh thái và điều kiện
sống của con người.
Để cuộc sống của mỗi n
gười dân ngày càng được nâng cao cần phải có sự phát triển hài hoà giữa
dân số và phát triển kinh tế - xã hội. Theo tính toán của tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp
Quốc (FAO): nếu dân số tăng 1% thì thu nhập quốc dân tăng ít nhất là 4% thì mới đảm bảo việc làm
cho số lao động tăng thêm và giữ mức sống như cũ của dân cư. Khi nền kinh tế phát triển, của cải vật
chất đư
ợc sản xuất ngày càng nhiều hơn, cuộc sống của con người ngày càng sung túc hơn và lúc đó tỉ
suất gia tăng dân số tự nhiên giảm xuống. Đây là tác động ngược lại của phát triển kinh tế với sự gia
tăng dân số.
Bảng 1.4. Mức tăng dân số trung bình hàng năm ở các nhóm nước (%)
Các nước 1950 - 1960 1960 - 1970 1970 - 1980 1995 - 2000 2002-2005
Thu nhập cao 1,2 1,0 0,7 0,3 0,3
Thu nhập trung bình 2,4 2,5 2,3 1,6 1,3
Thu nhập
bình quân
đầu
người/năm
(triệu
đồng)
Tỉ lệ bình
quân đầu
người so
với cả
nước (%)
Tỉ suất
gia tăng
dân số
(%)
Toàn quốc 7,5 5,5 100 1,30
Đông Nam Bộ 9,1 10,0 181,8 1,32
Đồng bằng sông Hồng 8,6 6,3 114,5 1,27
Đồng bằng sông Cửu Long 6,8 5,7 103,6 1,40
Duyên hải Nam Trung Bộ 7,8 5,0 90,9 1,34
Tây Nguyên 6,1 4,7 85,4 1,85
Đông Bắc 6,0 4,6 83,6 1,32
Bắc Trung Bộ 7,8 3,8 69,1 1,33
Tây Bắc 6,0 3,2 58,2 1,60
Nguồn: Điều tra biến động dân số 1/4/2004, Tính toán từ Niên giám Thống kê năm 2005.
Ở nước ta, trong suốt hơn thập kỉ vừa qua, việc giảm tỉ suất gia tăng tự nhiên dân số đã góp phần
không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế và nhờ vậy bình quân thu nhập đầu người ngày càng được
nâng cao (bảng 1.6).
Giữa các vùng kinh tế, mức gia tăng dân số không giống nhau và mức tăng trưởng kinh tế, thu
nhập bình quân đầu người theo các vùng cũng khác nhau. Hai vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông
Mặt khác, dân số đông và tăng nhanh sẽ tác động đến quy mô và chất lượng giáo dục thông qua
chất lượng cuộc sống. Thí dụ, tỉ lệ tăng dâ
n số trên 1% hàng năm trở lên, nhưng sản xuất lương thực
chỉ tăng dưới 2,5% và tổng thu nhập quốc nội chỉ tăng dưới 4% hàng năm, thì mức sống vật chất sẽ
thấp, đời sống sẽ khó khăn, nhiều trẻ em không được tới trường, chất lượng dạy và học sẽ giảm sút, trẻ
em phải bỏ học, nạn m
ù chữ tăng lên, trường sở không được tu bổ kịp thời.
Dân số tác động đến giáo dục một cách tích cực hoặc tiêu cực là do chiều hướng và tính chất của sự
biến động dân số.
+ Dân số nếu phát triển hợp lí, cân đối thì sẽ trở thành điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển
giáo dục cả về chất lượng cũng như số lượng. Vì dâ
n số phát triển cân đối với của cải do xã hội làm ra, tức