Phát triển dân số và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Champasac - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
__________________ UOTHITPHANYA LOBPHALAK PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH CHAMPASAC
(Cộng hòa dân chủ nhân dân

Lào) Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số : 60.31.95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN KIM HỒNG Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
LỜI CẢM ƠN


Vị trí địa lý có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế văn hóa, khoa học với các tỉnh trong cả
nước và quốc tế. Đây cũng là lợi thế để thu hút các nhà đầu tư, dân cư, lao động đến làm ăn sinh sống.
Chính những đặc điểm này đã có ảnh hưởng đến sự phát triển dân số và tình hình kinh tế xã hội
của Champasac từ trước đến này. Do nhu cầu tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của các trường đại
học và cao đẳng, các nhà máy, xí nghiệp,… đã thu hút nhiều lao động và sinh viên các tỉnh đến sinh
sống, học tập, nhờ đó quy mô dân số Champasac ngày càng lớn và phần lớn do gia tăng cơ học. Vấn đề
dân số bao gồm cả quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số có ảnh lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh và vấn là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cả hiện tại
và trong tương lai.
Dân số và mối quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là một vấn đề cần được
quan tâm, nghìn nhận, phân tích và đánh giá. Làm được điều này sẽ góp phần lớn vào việc thực hiện tốt
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới. Chính vì vậy tác giả đã chọn đề tài “
Phát triển dân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Champasac(CHDCND Lào)” để làm luận văn
tốt nghiệp.

2. Mục tiêu, nhiêm vụ, phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
- Phân tích đặc điểm dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Champasac 1996-2008
- Phân tích mối quan hệ giữa dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Champasac; định hướng sự
phát triển dân số của tỉnh trong tương lai, đưa ra giải pháp nhằm phát triển cân đối giữa dân số và sự
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Champasac.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận về dân số, phát triển; mỗi quan hệ giữa dân số và sự phát triển.
- Phân tích các đặc điểm về dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Champasac. Từ đó rút ra mối
quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Căn cứ thực trạng dân số và tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh để định hướng sự phát triển dân số của
tỉnh trong tương lai đồng thời đề xuất những giải pháp nhẳm tạo sự cân đối, hài hòa giữa phát triển dân
số và phát triển kinh tế - xã hội của Champasac.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu tác động dân số và kinh tế xã hội và ngược lại

luôn vận động và phát triển không ngừng.
4.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Việc nghiên cứu các vấn đề dân số và phát triển của tỉnh không thể tách rời vấn
đề dân số và phát triển của các tỉnh lân cận, của phía Nam và của cả nước. Vì dân số
và phát triển kinnh tế - xã hội của tỉnh Champasac, có lien hệ không chỉ trong tỉnh mà còn có mối lien
hệ với những lãnh thổ liên kề.
4.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Sự tăng trưởng dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội trong quá khứ, tương lai ảnh hưởng rất lớn
đến quy mô, đặc điểm dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội hiện tại. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề
dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai sẽ làm rõ được
bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác khi
nghiên cứu .
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp sưu tầm
Đây là một phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở sưu tầm được những số liệu có liên quan đến nội
dung nghiên cứu, chúng ta mới rút ra được các đặc điểm về dân số tỉnh Champasac cũng như nhìn
nhận, đánh giá chính xác mối quan hệ giữa dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
5.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, việc vận dụng phương pháp phân tích – tổng hợp nhuần nhuyễn
mang lại nhiều lợi ích. Vì dựa trên việc phân tích tài liệu đã có cũng như thực tế, chúng ta mới có cái
nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu. Từ đó, rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đẩy đủ nhất đáp
ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra.
5.3. Phương pháp bản – biểu đồ
Đây là phương pháp đặc trưng của khoa học địa lí. Sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn đề
nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn. Các bản đồ trong đề tài được thành lập bằng phần
mền Arcview và Map info dựa trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập và xử lý.
Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối quan hệ địa lí thông qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ.
5.4. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Thực ra là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu các vấn đề địa lí kinh tế - xã hội. Vì
vậy, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp này để kiểm tra độ chính xác, tin

Là nguyên nhân trực tiếp quyết định tới sự gia tăng dân số, chủ yếu do hai nhân tố quyết định: sinh
đẻ và tử vong.
- Tỉ suất sinh thô :
Là tỉ số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình của cùng thời gian đó. Đơn vị tính là
phần ngàn (‰).
Công thức tính tỉ suất sinh thô:

1000*
p
B
CBR 

CBR: Tỉ suất sinh thô (Crude Birth Rate)
B: Số trẻ em sinh ra trong năm
P: Dân số trung của địa phương trong năm
Tỉ suất sinh hoàn toàn không giống nhau có sự thay đổi theo không gian và thời gian. Nó phụ
thuộc không chỉ cường độ của quá trình sinh đẻ, mà còn kết cấu dân số theo độ tuổi, giới tính và kết
cấu hôn nhân .
Trong nửa thế kỷ qua, tỉ suất sinh ở các nhóm nước đều có xu hướng giảm nhanh, trong năn thập
kỷ 1950 thì tỉ suất sinh ở các nước đang phát triển cao hơn nước có kinh tế phát triển là 19‰ và đến
năm 2004-2005 thì tỉ suất sinh của các nước đang phất triển giảm còn 13‰ so với các nước đã phát
triển.

Hình 1.1. Tỉ suất sinh thô thời kì 1950-2005 (‰).

- Tỉ suất tử thô :
Là tỉ số giữa người chết trong năm so với số dân trung bình của cùng thời gian đó. Đơn vị tính là phần
ngàn (‰).
Công thức tính tỉ suất tử thô :
P

0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
1
9
5
0
-

1
9
5
5
1
9
7
5
-

1
9
8
0

Toàn thế giới
các nước phát triển
Các nước đang phát
triển
Nhóm nước

- Tỉ suất tử vong trẻ em
Tỉ suất tử vong trẻ em là tỉ suất tử vong dưới 1 tuổi, đơn vị tính là ‰ đứa trẻ sinh ra trong năm.
0
0
B
D
IMR 

IMR: Tỉ suất tử vong trẻ em ( Infant Mortality Rate)
0
D
: Số tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi trong năm
0
B
: Số trẻ sinh ra trong năm.
- Gia tăng tự nhiên (Natural Increase):
Là kết quả của mối tương quan giữa số sinh và số tử.
NI = B – D
NI: Số gia tăng tự nhiên
B: Số sinh
D: Số tử
- Tỉ suất gia tăng tự nhiên (Rate of Natural Increase): là tỉ số giữa gia tăng tự nhiên và số dân trung
bình trong một thời gian nhất định.
P

1955
1975-
1980
1985-
1990
1995-
2000
2004-
2005
Toàn thế giới
các nước phát triển
Các nước đang phát triển
Từ trước đến nay, dân số luôn tăng với nhịp độ khác nhau. Vào thời bình minh của nhân loại hệ số
sinh và hệ số tử đều cao. Kết quả tất yếu của hiện tượng này là hệ số gia tăng tự nhiên rất thấp. Vào đầu
thế kỷ VII trước Công nguyên, mức gia tăng tự nhiên chỉ đạt 0.04%; từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ
XV sau Công nguyên tăng lên 0.1 % , còn thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XVIII là 0.2% .
Cho đến thế kỷ thứ XIX hệ số gia tăng tự nhiên cao hơn nhiều do những thay đổi cơ bản về tình
hình kinh tế - xã hội trên thế giới song từ khi sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhịp độ gia tăng dân số
rất nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển dẫn đến hiện tượng mà các nhà dân số học gọi là “ Bùng
nổ dân số ” .
Cụ hể hơn có sự phân biệt 4 nhóm nước có hệ số gia tăng tự nhiên khác nhau
+ nhóm nước có dân số không phát triển hoặc phát triển giặt lùi. Đặc trưng của nhóm này là hệ số sinh
hầu như bằng hệ số tử.
+ Nhóm nước có hệ số phát triển chậm. Nết tiêu biểu của nhóm nước này là hệ số sinh thấp, hệ số tử
vong cũng thấp và mức gia tăng tự nhiên dưới 1 %.
+ Nhóm các nước có dân số phát triển ở mức trung bình. Với hệ số sinh tương đối cao hệ số tử trung
bình, tốc độ tăng tự nhiên của nhóm nước này dưới 2.%
+ Nhóm nước có dân số phát triển mạnh hoặc rất nhanh với hệ số gia tăng tự
Nhiên trên 2 % .


P: Dân số trung bình trong năm
- Tỉ suất xuất cư (Emigration Rate) là số người di cư ra ngoài vùng trên dân số trung bình trong năm
của vùng, đơn vị tính %.
P
E
ER 

E: Số người di cư ra ngoài vùng
P: Dân số trung bình trong năm của vùng
- Gia tăng cơ học(Net Migration Rate-NMR)là tỉ số giữa người nhập cư trừ tỉ số người xuất cư trên
dân số trung bình trong năm của vùng.
P
EI
ERIRNMR



c. Gia tăng dân số (Population Growht Rate)
là tổng đại số của tỉ suất gia tăng tự nhiên và tỉ suất gia tăng cơ học
PGR= RNI + NMI
Tỉ suất gia tăng dân số còn được tính theo công thức dưới với, đơn vị tính %.
0
0
P
PP
PGR
t




R: tỉ lệ tăng trưởng dân số (%)
T : thời gian từ năm góc đến năm cần dự báo.
1.1.1.2. Cơ cấu dân số :
Kết cấu dân số là một khái niệm dùng để chỉ tập hợp những bộ phận hợp thành dân số của một lãnh
thổ ( nhóm nước, từng nước hoặc từng vùng) được phân chia trên những tiêu chuẩn nhất định.
Nhìn chung kết cấu dân số bao gồm kết cấu sinh học ( Kết cấu theo độ tuổi và kết cấu theo giới
tính), kết cấu dân tộc ( kết cấu theo thành phần dân tộc và kết cấu theo quốc tịch) và kết cấu xã hội của
dân cư (kết cấu theo giai cấp, kết cấu theo lao động, kết cấu theo nghề nghiệp và kết cấu theo trình độ
văn hóa).
a. Cơ cấu sinh học:
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi: là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất đinh.
Nói cách khác đó là sự phân chia số dân theo từng nhóm tuổi và được định trước nhằm phục vụ cho
việc nghiên cứu các quá trình về dân số và các quá trình kinh tế - xã hội.
Có 2 cách phân chia độ tuổi với việc sử dùng các thang bậc khác nhau :
+ Độ tuổi có khoảng cách đều nhau. Sự chênh lệch giữa hai độ tuổi không tiếp nhau có thể là 1 năm, 5
năm hay 10 năm ( người ta thường sử dùng khoảng cách 5 năm)
+ Độ tuổi có khoảng cách không đều nhau. Thông thường người ta chia thành 3 nhóm tuổi: dưới độ
tuổi lao động (0-14 tuổi), trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) và trên độ tuổi lao động( từ 60 tuổi trở
lên).
Cơ cấu dân số theo tuổi rất khác nhau giữa các nước ( hay nhóm nước). Những nước được coi là có
dân số “trẻ ” nếu tỉ lệ người dưới 15 tuổi vượt quá 35% và số người trong độ tuổi trên 60 tuổi dưới
mức 10% tổng số dân cả nước. Ngược lai nghững nước có dân số “ già ” khi độ tuổi 0-14 dao động
trong 30-35 %, độ tuổi trên 60 vượt quá 10% tổng số dân.
- Tháp tuổi:
Tháp tuổi là một loại biểu đồ thể hiện mọi số liệu có quan hệ trực tiếp với kết cấu dân số theo độ
tuổi và giới tính. Tháp tuổi phản ánh tất cả các sự kiện của dân số trong một thời điểm nhất định. Vì thế
khi nhìn tháp tuổi có thể thấy rõ được số dân theo độ tuổi theo từng giới.
Hiện nay, người ta phân biệt 3 kiểu hình tháp tuổi cơ bản phản ánh kết cấu tuổi của các kiểu dân số
khác nhau. Mỗi kiểu tháp tuổi có đặc điểm riêng và hình dạng.
+ Kiểu 1: Tỉ lệ sinh cao, tỉ lệ tử thấp, tuổi thọ trung bình thấp. Tháp tuổi vẫn mang hình dáng rất nhọn,

mình.
• Cơ cấu dân số theo quốc tịch, trong một nước có thể có nhiều người từ các nước khác đến sinh sống
cơ lập nghiệp. Họ có thể được công nhận quốc tịch như người dân chính thức của nước đó, hoặc được
hưởng quy chế người nước ngoài.
- Cơ cấu xã hội.
Cơ cấu xã hội là phản ánh những khía cạnh xã hội của dân cư ở một lãnh thổ nhất định. Đây là
việc phân chia dân số theo các tiêu chuẩn khác nhau như : lao động, nghề nghiệp ,trình độ văn hóa…
+ Cơ cấu dân số theo lao động.
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, dân số hoạt động bao gồm không chỉ những người có việc
làm, mà còn cả những người không có việc làm .
Tình hình tăng giảm dân số theo lao động trong một nước diễn ra như thế nào tùy thuộc vào nhiều
yếu tố. Thí dụ số người ở lứa tuổi trẻ, thời gian quy định về tuổi học tập, hưu trí, địa vị, người phụ nữ
trong xã hội…
Việc phân chia của dân cư theo khu vực chủ yếu dựa vào tính chất và nội dung hoạt động sản xuất
và có nhiều cách phân chia khu vực lao động:
• Căn cứ vào thời gian ra đời, người ta phân biệt khu vực cổ truyền (nông nghiệp, thủ công nghiệp…)
và khu vực hiện đại ( công nghiệp , dịch vụ…)
• Dựa vào tính chất của quan hệ sản xuất, có khu vực nhà nước, khu vực tập thể và
khu vực gia đình;
• Trên cơ sở tính chất của sản xuất, có khu vực I ( nông, lâm,ngu nghiệp…), khu vực II ( công nghiệp
và xây dựng) và khu vực III ( các hoạt động còn lại )
Hiện nay trên thế giới đang phổ biến cách phân chia hoạt động lao động thành 4 khu vực với nội dung
hoàn toàn khác cách phân chia nói trên, khu vực IV ( lao động trí óc) đang được định hình và được
quan tâm một cách đặc biệt.
+ Cơ cấu dân số theo nghề nghiệp.
Nói tới nghề nghiệp nghĩa là nói tới từng cá nhân. Nhự vậy cớ cấu dân số theo nghề nghiệp có liên
quan tới đặc điểm lao động cụ thể của từng người.
Nghề nghiệp của từng người phụ thuộc trước hết vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và
tình hình kinh tế chính trị của từng nước. Lực lượng sản xuất càng phát triển, sự phân công lao động
xã hội càng sâu sắc thì số các ngành nghề càng tăng lên.

Nếu sự gia tăng dân số không đi đôi với sự gia tăng sản xuất thì kết quả sẽ vô cùng tội tệ, bởi vì mức
sống của con người sẽ nhanh chóng giảm sút.
Như vậy, một quốc gia muốn phát triển kinh tế thuận lợi thì cần có một dân số phủ hợp, tức là “dân
số tối ưu”.
1.2. Các khái niệm về phát triển và chỉ số đo sự phát triển
1.2.1. Khái niệm phát triển
- Tăng trưởng kinh tế :
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm trong nước hoặc
mức tăng của sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm trong nước tính
theo đầu người. Bản thân sự tăng trưởng không bao hàm trong nó sự phân chia những
lợi ích vật chất đều cho mọi người.
- Phát triển kinh tế:
Theo các nhà kinh tế chính trị học thì sự phát triển là quá trình mà xã hội đạt đến thỏa mãn các nhu
cầu về vật chất và tinh thần mà xã hội đó coi là cơ bản. Khi nói đến nền kinh tế phát triển là muốn nói
đến mức độ lớn lên của nền kinh tế về mặt chất lượng.
Phát triển không chỉ là đơn thuận là sự tăng trưởng, không phải là sự tăng trưởng đều dẫn đến sự
phát triển, nhưng không có một sự phát triển nào mà lại không bao hàm sự tăng trưởng. Ngoài tăng
trưởng, phát triển còn bao hàm nhiều yếu tố khác, trong đó phát triển phải đi kèm sự thay đổi về cơ cấu
kinh tế, lao động…
Đặc trưng của phát triển kinh tế là sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, tức là tăng tỉ trọng ngành công
nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân. Đặc
trưng này ở từng nước, từng khu vực khác nhau. Đối với nước đang phát triển có thu nhập bình quân
thấp, số người làm việc trong khu vực nông nghiệp lớn chiếm đến 73 % trong cơ cấu kinh tế và các
nước có nền công nghiệp phát triển, có thu nhập bình quân đầu người cao, số người làm việc trong khu
vực nông nghiệp chỉ chiếm 6% .
1.2.2. Các chỉ số đo sự phát triển
1.2.2.1. Tổng sản phẩm quốc dân:GNP( Gross National Product) và tổng sản phẩm quốc nội
GDP (Gross Domestic Product):
- GNP là tổng giá trị thị trường của mọi hàng hóa và dịch vụ được tạo ra ở một quốc gia trong một
thời gian nhất định, thường là một năm.

Theo kết quả khảo sát của Liên Hiệp Quốc thì ở bất cứ quốc gia nào đầu tư cho giáo dục vẫn là cách
sinh lợi nhất vì người dân có học sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn những lao động không được đào
tạo.
Qua kết quả khảo sát 37 quốc gia, họ đã đi đến kết luận rằng: những người có trình độ học vấn cấp I
đã tạo ra năng suất bình quan hơn 8,7 % so với năng suất của những người không có học trong ngành
nông nghiệp. còn đối với ngành công nghiệp người ta điều tra ở các xí nghiệp từ Bang La Đét, Trung
Quốc… đều cho thấy số lao động có học vấn luôn tao ra năng suất lao động cao hơn.
1.2.2.5. Cơ cấu kinh tế quốc dân.
Chỉ tiêu về cơ cấu của nền kinh tế sản xuất là một trong những yếu tố đánh giá sự phát triển của các
quốc gia. Theo cách phân loại tiêu chuẩn Quốc tế của các hoạt động kinh tế thì nền kinh tế hiện đại
được hình thành từ 3 khu vực sản xuất :
nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Theo số liệu thống kê của các tổ chức trên thế giới thì chỉ tiêu về nền kinh tế sản xuất thì rất khác
nhau giữa các nhóm nước và phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế. Ở những nước công nghiệp hóa có
nền kinh tế phát triển cao, số người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp rất thấp. Đối với những nước
đang phát triển, tỉ lệ lao động trong nông nghiệp khá cao, ở các nước này nông nghiệp giữ vị trí then
chốt trong nền kinh tế quốc dân.
1.3.Mối quan hệ giữa phát triển dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội.
1.3.1.Sự thống nhất biện chứng giữa sản xuất vật chất và tái sản xuất con người.
Nền sản xuất xã hội bao gồm hai mặt: sản xuất của cải vật chất và tái sản xuất con người, hai kiểu
sản xuất này có mối tương quan mật thiết có tác động lẫn nhau trong sự thống nhất biện chứng. Sản
xuất vật chất quyết định trực tiếp sự sống của con người, là cơ sở của tái sản xuất con người. Ngược lại,
tái sản xuất con người là tiền đề của sản xuất vật chất, có con người mới có sản xuất, không có sự tái
sản xuất con người thì không có sự thay thế, đổi mới tăng cường sức lao động. Sự phát triển của sản
xuất vật chất tạo điều kiện đẩy mạnh sự phát triển dân số cả về số lượng cũng như chất lượng. Ngược
lại, sự phát triển về số lượng và chất lượng của dân số một cách hợp lý lại thúc đẩy sự phát triển của
sản xuất vật chất đáp ứng nhu cầu của xã hội. Chỉ khi nào dân số phát triển hợp lý (số dân và tốc độ
tăng dân số phù hợp với trình độ sản xuất) thì xã hội mới phát triển, chất lượng cuộc sống mới được
nâng cao. Ngược lại, nếu số dân và tỉ lệ tăng dân số cao hơn tốc độ sản xuất vật chất thì sự phát triển
của xã hội sẽ bị cản trở và kìm hãm.

tếUSD/người 350 297 360 445 606 701
Bảng 1.3: Tốc đô tăng trưởng kinh tế và tỷ suất gia tăng dân số ở Lào
trong giai đoạn 1995-2007
Nguồn:Niên giám thống kê Lào năm 1995-2007 và sách giáo khoa năm 1995

Ở nước Lào, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức dao động trên 5 % còn những năm 2005 trở lại đây
mức dao động của tăng trưởng kinh tế thì trên 7,5 %. Tỉ suất gia tăng dân số thì năm 1996 tăng 2.5 %,
năm 2000 mức tăng dân số tương đối cao là 2.8 % chủ yếu do mức gia tăng tự nhiên, còn từ năm 2001
trở lại đây mức tăng trưởng dân số ở Lào tương đối ổn định (khoảng 2.4 %) là do nhà nước có chính
sách hạn chế sinh đẻ, nhưng mà chính sách chỉ ở mức khuyến khích hạn chế sinh đẻ. Thu nhập theo
đầu người ở năm 1996 là 350 USD nhưng đến năm 2000 mức thu nhập là giảm xuống 297 USD là do
năm này dân số tăng nhanh hơn các năm và do sư tác động của biến đổi kinh tế trong năm 1997 ở các
nước Đông Nam Á và các nước Đông Á vì vậy đến năm 2000 kinh tế nước Lào vẫn trong giai đoạn
phục hồi.
1.3.2.2. Dân số, nguồn lao động và vấn đề việc làm:
Nguồn lao động là những người có lao động với một nghề nghiệp cụ thể và hưởng thụ theo công
sức của mình (không tính những người nội trợ).
Khái niệm dân số hoạt động kinh tế là chỉ số người đang tham gia lao động trong các ngành kinh
tế, còn khái niệm nguồn lao động là gồm cả những người đang hoạt động kinh tế với những người có
khả năng làm việc và đang tìm kiếm việc làm.
Quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển dân số quyết định quy mô, cơ cấu và tốc độ lao động. Nếu dân
số nhóm tuổi 14-59 chiếm tỉ lệ lớn và sự gia tăng hàng năm cao thì sức ép về nhu cầu việc làm của dân
số đối với xã hội ngày càng lớn. Vì vậy mối quan hệ dân số - việc làm chính là mối quan hệ dân số với
lao động.
1.2.3.3. Dân số với giáo dục, văn hóa
- Dân số và giáo dục có tác động qua lại với nhau trong sự liên hệ và tác động qua lại của nhiều yếu
tố khác như kinh tế, truyền thống văn hóa, tôn giáo, khoa học Địa lí… Một sự thay đổi nào đó của giáo
dục không chỉ do tác động của dân số, mà còn do tác động của các yếu tố khác.
Dân số tăng nhanh và không cân đối với sự phát triển kinnh tế đã và gây sức ép to lớn đối với giáo
dục. Vì dân số vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa và giáo dục. Nó được xem là một nhân tố

2004-
2005
2005-
2006
2006-
2007
Số lượng HS
(nghìn HS) 1092,3 1214,8 1168,5 1223,6 1259,0 1278,8 1282,5 1291,8
Dân số(nghìn
người) 5218,3 5377,0 5526,0 5679,0 5418,1 5621,9 5747,5 5873,6
% số HS/
tổng số dân 20,93 22,59 21,45 21,54 23,23 22,74 22,31 21,99
Bảng 1.4: Sự phát triển dân số và số lượng học sinh ở lào thời kỳ 1999 -2007
Nguồn: Niên giám thống kê Lào năm 1999-2007
+ Cơ cấu dân
số theo tuổi cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của giáo dục. Cơ
cấu dân số trẻ dẫn đến số người trong độ tuổi đi học đông, nhu cầu giáo dục lớn và ngược lại. Ở hầu hết
các nước đang phát triển, do mức sinh cao nên cơ cấu dân số trẻ. Do vậy, quy mô nền giáo dục tương
ứng với dân số học sinh cấp I (tiểu học) > cấp II (THCS) > cấp III (THPT). Và ngược lại đối với các
nước có kinh tế phát triển. Điều này cũng đúng với ở Lào.
Số lượng
HS(nghìn HS)
1999-
2000
2000-
2001
2001-
2002
2002-
2003

xã hội khác tạo nền cơ sở vững chắc cho sự phát triển dân số hợp lý.
Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, mức sinh phụ thuộc vào trình độ học vấn của dân cư mà
trước hết là trình độ học vấn của phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ.
+ Trình độ văn hóa là điều kiện quan trọng giúp cho phụ nữ tự nguyện thực hiện kế hoạch hóa gia
đình.
+ Có trình độ văn hóa, người phụ nữ có điều kiện để thực hiện địa vị xã hội của mình trong gia đình (
trong quan hệ kinh tế, quan hệ sinh đẻ….) và trong xã hội ( tiếp tục học, kiếm việc làm có thu nhập
cao hơn…) . Do đó họ thường lấy chồng muộn, sinh con muộn và sinh ít con hơn.
- Ảnh hưởng của giáo dục đến mức chết.
+ Giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến tỉ lệ tử vong của trẻ em. Trình độ giáo dục của bà mẹ luôn là
nhân tố quan trọng quyết định đến tình hình tử vong của trẻ sơ sinh bởi vì đối với trẻ sơ sinh, việc nuôi
dưỡng, chăm sóc tốt, đảm bảo cuộc yêu cầu về sinh dưỡng, vệ sinh, tránh những bệnh tật do môi
trường gây ra là các điều kiện cho trẻ phát tiển. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy: nhìn chung
trình độ học vấn ( nhất là trình độ học vấn của các bà mẹ) được nâng cao thì tỷ lệ tử vong của trẻ giảm
xuống.
Bảng 1.6. Mối quan hệ giữa giáo dục và mức chết của trẻ em
Nhóm nước
Tỷ lệ nười lớn
biết chữ (%)
Tỷ lệ phụ nữ
biết chữ (%)
Tỷ suất chết
dưới 5 tuổi (‰)
Thế giới 78,6 68 84
Thu nhập thấp 60,2 51 119
Thu nhập trung bình 90,0 80 40
Thu nhập cao 91,1 98 7
Nguồn: Nguễn Minh Tuệ- Giáo trình giáo dục dân số - sức khỏe sinh sản
- Ảnh
hưởng của giáo dục đến di cư.

trình độ y tế cao hơn.
Ở Lào, sự mất cân đối về điều kiện y tế giữa thành thị và nông thôn khá rõ rét, nhất là giữa thành thị
và vùng cao, vùng sâu vùng xa.
Đối với người chuyển cư, nói chung, động lực chính yếu nhất thúc đẩy họ là nơi đến có thể phát
triển kinh tế tốt hơn. Tuy nhiên điều kiện đảm bảo sức khỏe, trình độ phát triển ở nơi đến cũng góp
phần thúc đẩy họ chuyển cư hoặc yên tâm hơn ở lâu dài khi đã chuyển cư đến nới mới.
- Tác động của dân số đối với hệ thống y tế.
+ Quy nô và tốc độ gia tăng dân số ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống y tế và các điều kiện chăm
sóc sức khỏe.
Giả sử rằng trình độ phát triển của xã hội không thay đổi nhiều lắm, muốn giữ được mức độ đảm
bảo y tế không giảm sút thì quy mô cán bộ y tế, số bệnh viện, trạm xã và các phương tiện y tế phải tỷ lệ
thuận với dân số. Còn để cải thiện mức độ dịch vụ y tế thì tỷ lệ phát triển cán bộ ngành y tế cũng như
các phương tiện, điều kiện phục vụ cho sức khỏe phải cao hơn tỷ lệ phát triển dân số.
Tuy nhiên sự phát triển của các quốc gia, các khu vực trên thế giới diễn ra không đồng đều. Trong
khi các nước phát triển đã trải qua thời kỳ quá độ dân số, đi vào thời kỳ ổn định, với nền kinh tế phát
triển cao và có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt thì ở các nước đang phát triển có nền kinh tế kém, tỷ lệ
phát triển dân số cao, nên tuy hệ thống y tế có sự phát triển khá nhanh nhưng điều kiện chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân còn cách xa các nước phát triển.
Quy mô và tốc độ tăng dân số nhanh ở các nước đang phát triển chẳng những làm cho mức độ cải
thiện về y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân bị chậm đi, mà có thể không được cải thiện, thậm chí
kém đi. Nói cách khác trong trường hợp này dân số có tác động tiêu cực đối với sự phát triển y tế.
Tóm lại, quy mô và tốc độ gia tăng dân số tác động tới hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe ở cả hai
khía cạnh: thứ nhất, nó đặt ra nhu cầu đòi hỏi ngành y tế phải đáp ứng: thứ hai, cùng với các nhân tố
khác nó tạo điều kiện thuận lợi để phát triển y tế và các điều kiện chăm sóc sức khỏe khi nó có quy mô
và tốc độ gia tăng hợp lý và sẽ hạn chế sự phát triển của y tế khi quy mô và tốc độ gia tăng quá nhanh.
+ Ảnh hưởng của cơ cấu dân số đến hệ thống y tế.
Sức khỏe, tình trạng mắc bệnh, mức chết phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi, giới tính của dân số.
Lứa tuổi thanh nhiên có sức khỏe tốt hơn và do đó có tỷ lệ mắc bệnh và mức chết thấp hơn do với
trẻ em và người có tuổi. Phụ nữ với thiên chức sinh đẻ của mình đồng thời có nhiều khả năng bị bệnh
tật hơn nam giới. kế hoạch hóa gia đình phát triển thì phụ nữ cũng cần sự giúp đỡ của y tế nhiều hơn.

Trích đoạn Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DÂN SỐ, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH CHAMPASAC.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status