BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thò Lợi
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU
LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO (TỈNH BÀ RỊA –
VŨNG TÀU)
Chuyên ngành: Đòa Lý Học
Mã số: 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM XUÂN HẬU
DLBV : Du lịch bền vững
GDP : Tổng thu nhập quốc dân
PGS.TS : Phó giáo sư tiến sĩ
IUCN : Qũy bảo tồn thiên nhiên
UNWTO : Tổ chức Du lịch thế giới
WTTC : Hiệp hội lữ hành quốc tế
WCED : Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới
VNAT : Ủy ban Kinh tế Trung ương
UBND : Ủy ban Nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những thập niên gần đây, du lịch - ngành công nghiệp không khói có tốc độ phát triển
cực nhanh trên toàn thế giới. Nó trở thành nguồn thu hút ngoại tệ lớn của nhiều nước, đặc biệt là các
nước đang phát triển.
Ngày nay, du lịch trở thành nhu cầu thiết thực không thể thiếu trong cuộc sống của con người
khi mà: cuộc sống vất chất của họ ngày càng được nâng cao; thời gian nhàn rỗi nhiều hơn do c
hính
sách điều chỉnh về lao động của chính phủ các nước; xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã tạo
điều kiện cho việc vượt ranh giới các quốc gia dễ dàng hơn; đời sống đô thị đầy tiếng ồn, bụi bặm và
sự căng thẳng trong công việc…đã làm xuất hiện nhu cầu được hưởng thụ, giải trí đồng thời nâng cao
hiểu biết của m
ình về lịch sử, văn hoá của các dân tộc trên thế giới, sự kỳ bí của thiện nhiên… Vì thế,
con người đến với du lịch ngày càng nhiều.
Theo thống kê của tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) và Hiệp hội lữ hành quốc tế (WTTC),
năm 2000 thu nhập của ngành du lịch chiếm tới 10,7%GDP của toàn thế giới; năm 2006 là 11,5%. Tổ
chức Du lịch thế giới nhận định rằng, số khác
(kể cả những người trực tiếp tham gia hoạt động Du lịch) hiểu được "Thế nào là Du lịch bền vững?",
"Các nguyên tắc phát triển bền vững Du lịch là gì?" và “Làm thế nào để phát triển bền vững Du
lịch?”. Để củng cố lý thuyết về phát triển bền vững Du lịch trong một phạm vi không gian nhất định;
đồng thời góp phần nhỏ trong việc nghiê
n cứu sự phát triển bền vững du lịch quê hương Côn Đảo - nơi
được thế giới biết đến với cái tên "địa ngục trần gian", với hệ sinh thái tự nhiên rừng - biển đa dạng
hầu như còn nguyên vẹn thuộc diện bảo tồn, chưa chịu tác động của các ngành kinh tế khác và là nơi
đáp ứng đư
ợc xu thế du lịch hiện đại của thế giới: Du lịch Sinh thái, tôi chọn:"NGHIÊN CỨU PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH Ở HUYỆN CÔN ĐẢO (TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU)"làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Địa lý học của m
ình.
Luận văn được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Xuân Hậu - Viện
trưởng Viện giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, sự đóng góp ý kiến quý báu của thạc sĩ Lê Xuân Ái -
giám đốc Vườn quốc gia Côn Đảo và sự giúp đỡ nhiệt tình của phòng du lịch huyện Côn Đảo, phòng
Du lịch Vườn quốc gia Côn Đảo. Tôi xin chân thành tri ân.
Đây là công trình nghiên cứu khoa học về Du lịch bền vững dưới góc nhìn của người làm công
tác giáo dục nên chắc chắn có nhiều thiếu sót
, rất mong sự đóng góp ý kiến của quý vị.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa của đề tài
2.1. Mục tiêu:
-
Xác lập cơ sở khoa học nghiên cứu sự phát triển bền vững du lịch.
-
Thấy được tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch của huyện Côn Đảo.
-
Xây dựng định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch Côn Đảo đáp ứng nhu cầu trong
thời kỳ mới.
2.2. Nhiệm vụ:
-
-
Nội dung nghiên cứu:
Cơ sở lý luận về phát triển bền vững du lịch
Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch của huyện Côn Đảo.
Định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo.
-
Thời gian: từ năm 1996 đến năm 2007
-
Không gian: toàn huyện Côn Đảo.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
5.1.1. Quan điểm và chính sách sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước:
Nghị quyết Đại hội Trung ương Đảng lần thứ IX và X đều khẳng định phát triển du lịch trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn. Mục tiêu phấn đấu của nhà nước là dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh. Đồng thời Nhà nước cũng có những chính sách phát triển du lịch thể hiện trong điều 6,
chương I - Luật Du Lịch Việt Nam (năm 2005) như sau:
-
Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi năng lực, tăng đầu tư phát triển du lịch để đảm
bảo du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
-
Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tính dụng đối với các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực sau:
Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch.
Tuyên truyền, quảng bá du lịch.
trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù với sự phâ
n hoá theo lãnh thổ từ cấp quốc gia đến
cấp vùng và điểm. Mặc khác, các đối tượng nghiên cứu của sinh thái cần được xác định trên một lãnh
thổ để phân tích, nghiên cứu tìm ra những sự khác biệt và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
5.1.3. Quan điểm phát triển du lịch bền vững:
Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của toàn nhâ
n loại trong thế
kỷ XXI. Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch
của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Vì vậy quan điểm
phát triển này cần được soi sáng, vận dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt
động du lịch trong nghiên cứu phát triển du lịch.
5.1.4. Quan điểm tổng
hợp:
Quan điểm tổng hợp là quan điểm truyền thống của địa lý học nói riêng và nghiên cứu tự nhiên
nói chung được xét dưới hai góc độ khác nhau:
-
Nghiên cứu đồng bộ toàn diện về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch đứng từ góc độ tự
nhiên và nhân văn, các yếu tố kinh tế, sự phân bố, quy luật phân bố và biến động của chúng,
những mối quan hệ tương tác chế ngự lẫn nhau giữa các yếu tố hợp phần của các tổng thể địa lý.
-
Sự kết hợp, phối hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng bộ và toàn diện các yếu
tố hợp phần của các thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, phát hiện và xác định những đặc điểm đặc thù
của các thể tổng hợp lãnh thổ địa lý.
5.1.5. Quan điểm môi trường – sinh thái:
Du lịch hiện nay đã thật sự trở thành một ngành kinh tế, mà hoạt động kinh tế rõ ràng phải tính
đến lợi ích và chi phí. Những lợi ích thu về tr
ong hoạt động du lịch không chỉ có ý nghĩa kinh tế và văn
hoá mà còn phải tính đến lợi ích về môi trường. Do đó phải tính đến những thiệt hại về môi trường, các
hệ sinh thái ở các điểm - tuyến du lịch do tác động của hoạt động du lịch. Điều này có ý nghĩa đặc biệt
đối với sự phát triển bền vững du lịch bởi sự tồn tại của loại hình du lịch này phụ thuộc hoà
Phương pháp này cho phép thu thập những nguồn thông tin mới phát hiện phân bố trong không
gian của các đối tượng nghiên cứu. Bản đồ còn là phương tiện để cụ thể hoá, biểu đạt kết quả nghiên
cứu về cấu trúc, đặc điểm và phân bố không gian của các đối tượng du lịch.
Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiê
n cứu bất kỳ tổ chức không gian lãnh thổ du
lịch nào, đặc biệt là khi nghiên cơ sở khoa học cho sự phát triển bền vững du lịch nói chung và tổ chức
không gian hoạt động du lịch nói riêng.
Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành với việc thể hiện sự phân bố lãnh thổ
của các khu bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái đặc t
hù, hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
thuật. Phương bản đồ sẽ đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng công nghệ GIS (Geographic Information
System - hệ thông tin địa lý) để phân tích đánh giá tiềm năng du lịch căn cứ vào mức độ quan trọng và
phân hoá lãnh thổ của các tài nguyên và điều kiện có liên quan cũng như để phân tích phát hiện các
mối quan hệ trong tổ chức không gian du lịch.
5.2.
5. Phương pháp xã hội học:
Phương pháp này nhằm khảo sát đặc điểm xã hội của các đối tượng du lịch. Phương pháp này
dùng để lấy ý kiến của cộng đồng, du khách, các chuyên gia. Trong du lịch bền vững dùng để điều tra
về sức hấp dẫn của các điểm du lịch, tài nguyên du lịch, chất lượng dịch vụ, chất lượng nguồn nhân
lực…; điều tra thái độ nhận t
hức của dân cư đối với các vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch,
mức sống của họ…
Phương pháp điều tra xã hội học bao gồm các bước: xác định các vấn đề cần điều tra, thiết kế
bảng hỏi, lựa chọn khu vực và đối tượng để điều tra, thời gian tiến hành điều tra, xử lý các kết quả điều
tra. 5.2.
6. Phương pháp dự báo và phương pháp chuyên gia:
Đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ rất quan trọng là xác lập cơ sở khoa học để tổ chức phát triển
thời gian nhàn rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên
nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn hoá
hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiê
n, kinh tế và văn hoá.
Tháng 6/2005, Tổng cục Du lịch Việt Nam ban hành luật Du lịch (có hiệu lực từ 1.1.2006) và
đưa ra khái niệm: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng
thời gi
an nhất định.
UNWTO thì cho rằng: Du lịch theo nghĩa hành động được định nghĩa là một hoạt động di
chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này. Người đi Du
lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian 24
giờ với mục đích giải trí tiêu khiển .
Còn nhiều khái niệm khác nữa về Du lịch, song tôi cho rằng khái niệm về Du lịch của Tổng cục
Du lịch Việt Nam đầy đủ và ngắn gọn nhất.
1.1.
2. Sự phát triển bền vững:
Cụm từ "phát triển bền vững" có nguồn gốc từ thực tiễn quản lý rừng ở Đức vào thế kỷ XIX,
nhưng mãi đến thập niên 80 của thế kỷ XX mới được phổ biến rộng rãi.
Năm 1980, IUCN cho rằng: "phát triển bền vững phải cân nhắc đến việc khai thác các nguồn
tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến c
ác điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức
các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau”.
Năm 1987, Uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Groharlem Brundtland thành
lập đã công bố thuật ngữ "phát triển bền vững" trong báo cáo "tương lai của chúng ta" như sau: “phát
triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh
hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của những thế hệ mai sau”.
Theo hội nghị thượng đỉnh về Tr
ái Đất năm 1992, được tổ chức Riodejaneiro thì: "phát triển
bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp giữa ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ
bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng Du lịch mà vẫn đảm bảo những
khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương l
ai".
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta
có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các
quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống (Hens L.1998).
Theo quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam, phát triển Du lịch phải được định hướng và
quản lí theo phương c
hâm: kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất
và tiêu dùng Du lịch; khai thác, sử dụng hợp lí và phát triển tài nguyên Du lịch tự nhiên; chú trọng bảo
tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn; giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc; tránh hiện đại hoá hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích; xây dựng và giữ gìn
môi trường xã hội lành mạnh; đảm bảo an ninh chính trị và trật tự a
n toàn xã hội đặc biệt là ở các đô
thị du lịch và các điểm tham quan du lịch.
Như vậy, du lịch bền vững không phải là trào lưu du lịch mà đó là cương lĩnh phát triển du lịch
của thời đại.
1.1.4. Điểm du lịch:
Các nhà nghiên cứu và lập pháp đã đưa điểm du lịch vào Pháp lệnh Du lịch được chủ tịch nước
ký và công bố vào tháng 2.1999, theo đó "điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, c
ó khả
năng thu hút khách du lịch".
Như vậy theo Pháp lệnh Du lịch, "điểm du lịch" là khái niệm tương đối mở, không hạn chế về
quy mô lãnh thổ. Đồng thời với khái niệm trên, "điểm du lịch" có thể bao gồm:Điểm tài nguyên (tiềm
năng), nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn và có khả năng thu hút khách song có thể chưa đưa vào khai
thác; và điểm chức năng - nơi các tài nguyên du lịch đã đư
ợc khai thác đưa vào phục vụ nhu cầu khách
du lịch (tức là đã có sức thu hút khách du lịch).
Tuy nhiên khái niệm trên vẫn để ngỏ vấn đề "quy hoạch" đối với điểm du lịch. Trong trường
hợp lãnh thổ điểm du lịch được quy hoạch thì sự khác biệt với khái niệm "khu du lich" được xác định
Đối với tài nguyên thiên nhiên, gắn với nó là loại hình du lịch sinh thái,
đòi hỏi tính đa dạng
sinh học cao.
Đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh thái, đa dạng di truyền và đa dạng loài.
Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống và mối
liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống
như: đất, nước, địa hình, khí hậu…đó là các hệ sinh thái (eco - systems) và cá
c nơi trú ngụ, sinh sống
của một hoặc một số loài sinh vật (theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại hội nghị thượng
đỉnh Rio De Janeiro về môi trường).
Đối với tài nguyên nhân văn bao gồm những di tích lịch sử, di tích cách mạng, những công trình
văn hoá, kiến trúc… kể cả những giá trị văn hoá truyền thống cần được giữ gìn, bảo tồn để mỗi điểm
du lịch mang nét độc đáo riêng tạo sự hấp dẫn đa dạng cho ngành du lịch.
1.2.
1.2. Sự am hiểu về du lịch
Người làm công tác du lịch đặc biệt là các nhà điều hành, hướng dẫn viên du lịch và dân địa
phương phải thật am hiểu - đây cũng là một trong những nguyên tắc của du lịch bền vững.
Sự am hiểu ở đây bao gồm hiểu về tài nguyên du lịch (các đặc điểm sinh thái tự nhiê
n, văn hoá
cộng đồng), tác động tiềm ẩn của hoạt động du lịch đối với tài nguyên - môi trường và cả ngoại ngữ.
Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch . Muốn vậy cần
phải có chiến lược giáo dục thật hiệu quả đặc biệt đối với cộng đồng địa phương về những kiến t
hức về
du lịch và bảo vệ môi trường. Vì hơn ai hết chỉ có họ mới ý thức được quyến lợi họ được hưởng và bảo
vệ môi trường du lịch chính là bảo vệ cuộc sống của chính họ. Họ cũng là những người truyền đạt
những kiến thức đó đến du khách hiệu quả nhất. Từ đó tất cả các lực lượng tham
gia du lịch, dân bản
địa cùng nhau bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, là điều kiện quan trọng để du lịch phát
triển một cách bền vững.
quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du
khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra. Sức chứa này sẽ đạt tới khi số lượng du khách và các tiện
nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởng tới tập tục sinh hoạt của cá
c loài thú hoang dã,
làm cho hệ sinh thái xuống cấp (ví dụ: làm phá vỡ tập quán kết bầy, làm đất bị xói mòn…); tài
nguyên nhân văn bị tổn hại và các giá trị truyền thống dần mai mọt, mất đi.
Đứng ở góc độ tâm lý: Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá bản
thân du khách cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt
của các du khách khác. Nói cách khác mức độ thoả mãn
của du khách giảm xuống quá mức bình
thường do tình trạng quá tải.
Đứng ở góc độ xã hội: sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà ở đó bắt đầu xuất hiện
những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá - xã hội, kinh tế - xã hội của
khu vực. Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, bị xâm nhập.
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khác
h tối đa mà khu du lịch có khả
năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này, năng lực quản lý (lực lượng nhân viên, trình
độ và phương tiện quản lý…) của khu du lịch sẽ không đáp ứng được nhu cầu của du khàch, làm
mất khả năng quản lý kiểm soát hoạt động của khách và kết quả sẽ ảnh hưởng đến môi trường và xã
hội.
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả tính định tính và định lượng, vì vậy khó c
ó thể xác định
một con số chính xác về sức chứa cho một khu vực. Mặt khác mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số
sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực
nghiệm.
Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là "quan niệm"
về sự "đông đúc"
của các nhà nghiên cứu khác nhau sẽ khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội
khác nhau. Rõ ràng, để đáp ứng yêu cầu này của du lịch, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa
của các địa điểm cụ thể và căn cứ vào đó sẽ có những quyết định về quản lý. Điều này cần được
bền vững. Kiểu tiêu thụ này là đặc trưng của những nước có nền công nghiệp phát triển và lan rộng rất
nhanh trên toàn cầu.
Sự tiêu dùng tài nguyên môi trường và các tài nguyê
n khác một cách lãng phí, không cần thiết
đã gây ra sự ô nhiễm và xáo trộn về văn hoá, xã hội. Sự phớt lờ hoặc không quản lí chất thải của các
công trình mà dự án triển khai không có đánh giá tác động đến môi trường làm cho môi trường xuống
cấp lâu dài, khó khắc phục. Vì thế cần "phạt ô nhiễm" đối với các công trình trên.
1.2.1.3. Duy trì tính đa dạng
Việc duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội là hết sức quan trọng
cho sự phát
triển bền vững du lịch và là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch.
Sự đa dạng trong môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội là thế mạnh mang lại khả năng phục
hồi cho những đột biến và áp lực. Đa dạng cũng sự sống còn để tránh việc quá phụ thuộc một hay một
vài nguồn hỗ trợ sinh tồn.
Phát triển bền vững chủ trương việc để lại cho thế hệ tương lai sự đa dạng cả về thiên nhiên và
nhâ
n văn không ít hơn những gì thế hệ trước được thừa hưởng. Nhận thức được rằng thay đổi về môi
trường sinh học, văn hoá, kinh tế là kết cục không tránh khỏi của bất cứ loại hình phát triển nào.
Chiến lược Bảo Tồn Thế Giới (1980) nhấn mạnh sự cần thiết bảo tồn đa dạng nguồn gien. Từ
đó mục đích đã được mở rộng, trong đó c
ó sự đa dạng các cơ cấu chính trị, kinh tế - xã hội và các nền
văn hoá.
1.2.1.4. Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch
Hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia và địa
phương, tiến hà
nh đánh giá tác động môi trường làm tăng khả năng tồn tại lâu dài của ngành du lịch.
Các mâu thuẫn quyền lợi, sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên và tình trạng quá phụ thuộc có
thể tránh hay giảm thiểu được bằng cách hợp nhất lĩnh vực này với lĩnh vực khác dựa trên hai qui tắc:
quy hoạch chiến lược dài hạn và đánh giá tác động môi trường.
Khuôn khổ hoạch định có tính chiến lược cho phép đánh giá các tác động của sự phát triển đối
môi trường mà còn nâng cao chất lượng Du lịch.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương là rất cần thiết để phát triển hợp lý và
bền vững. Ngược
lại sự phát triển bền vững sẽ đáp ứng được nhu cầu của dân bản địa bảo vệ môi trường thiên nhiên và
văn hoá của họ. Để đạt được mục tiêu đó, cần có chiến lược phát triển phù hợp của địa phương sở tại.
Để sự tham gia của cộng đồng địa phương thật sự hiệu quả, cần có chiến lược giáo dục bài bản,
khoa học và cho phép họ t
ham gia vào quá trình hoạch định và tiến hành các chiến lược phát triển.
1.2.1.7. Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng có liên quan
Sự đồng lòng giữa công nghiệp Du lịch với cộng đồng địa phương, các tổ chức và các cơ quan
khác nhau là rất cần thiết, đồng thời cùng nhau giải toả các mâu thuẫn tiềm ẩn về quyền lợi.
Tham
khảo ý kiến quần chúng nhằm tranh thủ sự quan tâm của họ trong việc dung hoà giữa phát
triển kinh tế (đặc biệt là công nghiệp) và sự tác động tiềm ẩn của nó lên môi trường tự nhiên, xã hội và
văn hoá. Đó là việc làm cần thiết để đánh giá một dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu các tác
động tiêu cực và tối đa hoá sự đóng góp của quần chúng địa phương.
Thiếu sự tham khảo ý kiến giữa cơ quan nhà nước và cộng đồng địa phương có thể đưa đến sự
thù địch và đối kháng thậm chí khó có thể giải quyết được các mâu thuẫn về quyền lợi.
Các cộng đồng địa phương trên toàn thế giới nếu được trang bị kiến thức đầy đủ, họ sẽ là những
người qua
n tâm nhất và đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường của chúnh mình.
Phát triển bền vững là tính đến các nhu cầu hiện tại, tương lai và phúc lợi của con người dựa
trên sự lựa chọn, hiểu biết về những chi phí phát triển môi trường, xã hội và văn hoá. Tham khảo ý
kiến m
ang tính chất then chốt vì nó hàm nghĩa trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa
vào kỹ năng, kiến thức và các nguồn lực địa phương.
1.2.1.8. Đào tạo nhân viên
Việc đào tạo nhân viên trong đó có lồng ghép vấn đề Du lịch bền vững vào thực tiễn công việc,
cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương vào mọi cấp sẽ làm tăng chất lượng sản phẩm du lịch.
một lực lượng lao động được đào
việc sử dụng và phân tích hiệu quả các số liệu là cần thiết trong việc giải quyết những vấn đề tồn đọng,
mang đến lợi ích cho các điểm tham quan, cho ngành và cả khách hàng.
để ngành du lịch phát triển và tồn tại một cách bền vững, điều cốt yếu là có dự đoán vấn đề và
nắm được trước chi phí giải quyết vấn đề. Tốc độ phát triển nha
nh của du lịch tại những khu vực dễ bị
tổn thương về mặt môi trường, kinh tế và xã hội; mà những khu vực này thường khó thu thập số liệu.
Vì thế cần cấp bách nghiên cứu cơ bản hơn nữa để đảm bảo không chỉ cho hiệu quả kinh doa
nh mà cho
cả sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệ tài nguyên - môi
trường. Việc nghiên cứu toàn diện đòi hỏi sự phối hợp giữa ngành du lịch với các trường đại học, các
viện nghiên cứu, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ về tiềm năng, kỹ năng nghiên cứu và tổ chức
cũng như thiện chí về chính trị, sự trung thực và sự cam kết về nghiệp vụ.
1.2.
3. Những điều kiện và chỉ tiêu cơ bản để xây dựng các điểm, tuyến du lịch
1.2.3.1. Những điều kiện cơ bản để xây dựng các điểm, tuyến du lịch:
-
Tài nguyên du lịch:
Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề quan yrọng cơ bản để xây dựng nên các điểm, tuyến du
lịch. Điều này đã được khẳng định ngay trong pháp lệnh du lịch: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan
thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con
người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du
lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch".
Bên cạnh những tài nguyê
n đã và đang được khai thác để thoả mãn nhu cầu du lịch, nhiều tài
nguyên du lịch còn tồn tại ở dạng tiềm năng do:
Chưa được nghiên cứu điều tra và đánh giá đầy đủ.
Chưa có nhu cầu khai thác do khả năng "cầu" còn thấp.
Tính đặc sắc của tài nguyên thấp hoặc chưa đủ tiêu chuẩn cần t
hiết để khai thác
hình thành các sản phẩm du lịch.
Hệ với thống cấp, thoát nước:
Là yếu tố cơ sở hạ tầng du lịch không thể thiếu trong hoạt động du lịch vì nó đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt tối thiểu của du khác
h. Hệ thống cấp nước và xử lý nước thải trong hoạt động du lịch luôn là
yếu tố được coi trọng khi xây dựng các điểm
/khu du lịch. Đối với phát triển bền vững du lịch. vấn đề
xử lý nước thải là đặc biệt quan trọng vì nước thải sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái và ô
nhiễm môi trường, huỷ hoại ngay nguồn tài nguyên chính mà điểm du lịch đó khai thác và phát triển.
Hệ thống thông tin liên lạc:
Đảm bảo hệ thống hạ tầng thông tin liên lạc để đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc với bạn bè,
người thân thậm chí còn duy trì các mối liên hệ công việc mà người đó đảm n
hận trong thời gian đi du
lịch là rất quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động du lịch.
Ngoài những yếu tố hạ tầng cơ sở du lịch cơ bản trên, một số yếu tố khác cũng cần được lưu ý
bao gồm: hạ tầng tài chính, hạ tầng y tế … để đáp ứng nhu cầu của hoạt động du lịch.
-
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là những yếu tố trực tiếp tham gia vào việc hình thành các sản
phẩm du lịch, có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch, vì vậy chúng có vai trò quan trọng trọng
trong việc xây dựng các điểm, tuyến du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất của ngành du lịch và cơ sở vật chất của
một số ngành dịch vụ có liên quan.
Những yếu tố cơ bản của hệ thống cơ sở vật chất du lịch bao gồm:
Cơ sở lưu trú du lịch là: "cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ khác
h
du lịch. Cơ sở lưu trú du lịch gồm khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều bãi cắm trại cho
thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu"(pháp lệnh du lịch 1999). Đây được xem
như loại cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cơ bản thuộc hệ thống dịch vụ của ngành.
Cơ sở thể thao, vui chơi giải trí: đáp ứng nhu cầu thư giãn, vui chơi giải trí và tái tạo sức khoẻ
cho du khách. những cơ sở nà
- 2 phương tiện vận chuyển thông dụng.
-
Độ hấp dẫn của điểm du lịch:
Độ hấp dẫn của điểm du lịch là chỉ tiêu mang tính tổng hợp các yếu tố như tính hấp dẫn của
cảnh quan được nhiều du khách công nhận; sự thích hợp của khí hậu; tính đặc sắc và độc đáo của các
đối tượng tham quan du lịch…Độ hấp dẫn này thường được chia thành 4 cấp:
Rất hấp dẫn: có ít nhất trên 5 cảnh quan đẹp được thừa nhận; có ít nhất 5 di tích đặc sắc và
những tài nguyên du lịch khác để có thể phát triển được ít nhất 5 loại hình du lịch.
Khá hấp dẫn: có ít nhất 3 - 5 cảnh qua
n đẹp được thừa nhận; có ít nhất 2 di tích đặc sắc và
những tài nguyên du lịch khác để có thể phát triển được từ 3 - 5 loại hình du lịch.
Hấp dẫn: có ít nhất 1- 2 cảnh quan đẹp được thừa nhận; có ít nhất 1 di tích đặc sắc và những tài
nguyên du lịch khác để có thể phát triển được 1 -2 loại hì
nh du lịch.
Kém hấp dẫn: có cảnh quan đơn điệu và chỉ có thể phát triển được 1 loại hình du lịch.
-
Điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:
Đây được xem là chỉ tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển điểm, tuyến du
lịch với 4 mức độ khác nhau:
Rất tốt: điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ, đạt tiêu chuẩn quốc
tế. Với điều kiện này,
việc khai thác các tiềm năng để phát triển các điểm, tuyến du lịch rất thuận lợi
đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách ở trình độ cao.
Khá tốt: có cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc gia.
Trung bình: có được một số cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chát kỹ thuật đạt tiêu chuẩn quốc gia
nhưng không đồng bộ.
Kém: điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ th
uật yếu kém, không đồng bộ.
-
Thời gian hoạt động của điểm du lịch:
h) của điểm du lịch cũng thường được chia thành 4 cấp:
Rất lớn: trên 1.000 lượt khách/ngày.
Khá lớn: từ 500 - 1.000 lượt khách/ngày.
Trung bình: từ 100 - 500 lượt khách/ngày.
Nhỏ: dưới 100 lượt khách/ngày.
Tuy nhiên có thể nhận thấy sức chứa của điểm du lịch phụ thuộc rất nhiều vào qui mô lãnh thổ
của điểm du lịch đó.
-
Tính bền vững của điểm du lịch:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tồn tại, tự phục hồi của các thành phần tự nhiên của điểm du
lịch trước áp lực tác động của hoạt động du lịch, hoặc các tác động tự nhiên, kinh tế - xã hội khác. Tính
bền vững này cũng được chia thành 4 cấp:
Rất bền vững: Không có thành phần tự nhiên nào bị phá huỷ, nếu có chỉ mức độ không đá
ng kể
và được phục hồi lại sau một thời gian ngắn. Hoạt động du lịch không bị ảnh hưởng và có thể diễn ra
liên tục.
Khá bền vững: Có từ 1 - 2 thành phần tự nhiên bị phá huỷ ở mức độ nhẹ và có khả năng tự
phục hồi. Hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên.
Bền vững trung bình: Có 1 -2 thành phần tự nhiên bị phá huỷ nặng cần đến sự can thiệp của
con người mới có khả năng phục hồi. Hoạt động du lịch bị hạn c
hế.
Kém bền vững: Có từ 1- 2 thành phần tự nhiên bị phá huỷ nặng cần đến sự can thiệp của con
người. Song khả năng phục hồi hạn chế và kéo dài. Hoạt động du lịch bị gián đoạn.
Tính bền vững của các điểm
du lịch phụ thuộc nhiều vào tính nhạy cảm, dễ phá huỷ của các hệ
sinh thái. Ví dụ, hệ sinh thái san hô rất dễ bị phá huỷ và quá trình phục hồi tự nhiên rất lâu trong khi
hệ sinh thái rừng khô hạn hoặc rừng tràm ít nhạy cảm trước những tác động và quá trình phục hồi
nhanh hơn khi bị phá huỷ.
Để đánh giá mức độ quan trọng (hấp dẫn, có khả năng thu hút khách cao) và khả năng phát triển
(có tài nguyên đặc sắc, dễ tiếp cận, hoạt động thuận lợi, khả năng tồn tại cao) của các điểm du lịch,
Các điểm thu hút về lịch sử và di sản: các pháo đài, chiến luỹ, bảo tàng , nhà thờ, chùa chiền,
lăng tẩm, các kiến trúc đặc biệt, các điểm k
hảo cổ, các tượng đài kỷ niệm, các địa đạo, nhà tù…
Các hoạt động giải trí: chạy tàu thuỷ, đi bộ, leo núi, đạp xe đạp, cắm trại, chèo thuyền, bơi lội…