BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________________
Mai Thị Chuyên
Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS ĐẶNG VĂN PHAN
Mai Thị Chuyên
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN : Công nghiệp
CNH : Công nghiệp hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
DT : Diện tích
HĐH : Hiện đại hóa
KT : Kinh tế
NN : Nông nghiệp
NS : Năng suất
SL : Sản lượng
TB : Trung bình
TCLTNN : Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
TCSX : Tổ chức sản xuất
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTCN : Trung tâm công nghiệp
XH : Xã hội
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên con đường hội nhập với quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa (CNH – HĐH) sôi nổi, có sức lan truyền tới mọi địa phương. Quá trình
này đã làm thay đổi rất lớn tới kinh tế, xã hội, tới đời sống của người dân. Bên cạnh
những đóng góp tích cực, quá trình này cũng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mà
kinh tế, xã hội, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm chuyển đổi quá trình
sản xuất của các địa phương.
- Điều tra, khảo sát các số liệu cần thiết.
- Phân tích tác động của quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
sang sản xuất công nghiệp đến một số mặt kin
h tế, xã hội, môi trường và đời sống
người dân trên địa bàn huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai: những thành tựu đạt được
và những hạn chế cần khắc phục.
- Tham khảo và đưa ra những định hướng phát triển của huyện trong tương lai
và những biện pháp thực hiện khả thi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiê
n cứu
Đối tượng của đề tài được xác định là quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai trong
thời kì CNH – HĐH và những ảnh hưởng của nó đến kinh tế - xã hội dưới góc độ
địa lý kinh tế - xã hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: tập trung nghiên cứu quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp huyện Long Thà
nh tỉnh Đồng Nai trong
thời kì CNH – HĐH và những ảnh hưởng của nó.
Về không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai
Về thời gian: chủ yếu tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ 1995 cho đến
nay (năm 1994 huyện Nhơn Trạch mới tách ra khỏi Long Thành).
4. Hệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Hệ thống quan điểm
4.1.1. Quan điểm tổng hợp lãnh t
hổ
Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống và được xem là đặc trưng của Địa lý
ngoài. Đồng thời con người cũng có những tác động làm biến đổi môi trường xung
quanh. Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của con người trong quá trình phát
triển của mình đến môi trường xung quanh cần phải quán triệt quan điểm sinh thái
và phát triển bền vững khi nghiên cứu vấn đề. Trong việc nghiên cứu quá trình
chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp tại huyện
Long Thành tỉnh Đồng Nai cũng phải xem xét đến ảnh hưởng của nó đến môi
trường xung quanh và đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa phát
triển kinh tế - xã hội, tài nguyên môi trưvờng à phát triển bền vững.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã thực hiện các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp sưu tầm và xử lí tài liệu: quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài
có nhiều nguồn tư liệu khác nhau nê
n cần có một quá trình sưu tầm và xử lí số liệu
sao cho có hiệu quả và đáng tin cậy.
- Phương pháp điều tra, đánh giá: do địa phương nghiên cứu giới hạn trong
một huyện nên những tài liệu tìm được chưa đủ để có thể hoàn thành đề tài. Vì vậy,
việc điều tra đánh giá để tìm ra những số liệu mới là rất quan trọng để có thể hoàn
thành được đề tài.
- Phương pháp t
hực địa: là phương pháp cần thiết để tăng thêm độ tin cậy và
tính khách quan cho đề tài.
- Phương pháp bản đồ: phương pháp này tạo một cái nhìn tổng quát và khách
quan, đặc biệt là đối với những đối tượng không thể kiểm soát hết bằng mắt thường
trong thực tế, đồng thời tìm ra mối quan hệ giữa các đối tượng với nhau để có
những hướng giải quyết phù hợp.
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo tính
khoa học và đưa ra được những dự báo chính xác, hợp lí... cần phải tham khảo ý
n của GS.TS. Nguyễn Trong Chuẩn; PGS.TS.
Nguyễn Thế Nghĩa; PGS. TS. Đặng Hữu Toàn cuốn sách có tựa đề CNH, HĐH ở
Việt Nam – Lý luận và thực tiễn do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành đã
cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan, toàn diện về quá trình CNH – HĐH
ở Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI.
- Năm 2004, đóng góp vào những nghiên cứu về quá trình CNH – HĐH ở Việt
Nam để có đư
ợc kết quả toàn diện và sâu sắc hơn, nhóm tác giả Đào Thế Tuấn, Đào
Thế Anh và Nguyễn Vũ Quang đã cho xuất bản cuốn sách Cơ sở khoa học của vấn
đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH – HĐH ở
Việt Nam trong tương lai.
- Để cụ thể hóa những chỉ tiêu trong quá trình thực hiện CNH – HĐH đất
nước, tác giả Vũ Năng Dũng cũng đã cho ra đời cuốn sách được Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn cấp phép có tựa đề Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng
tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông
thôn (năm 2004).
- Năm 2006, nhìn lại chặng đường 20 năm đổi mới, tác giả Đỗ Quốc Sam đã
viết Một số vấn đề CNH, HĐH sau 20 năm đổi mới với những đánh giá hết sức
khách quan về những thành tựu đạt được và những tồn tại trong quá trình thực h
iện
CNH – HĐH đất nước.
- Với những thay đổi to lớn của đất nước, các khía cạnh của quá trình CNH –
HĐH cũng như ảnh hưởng của nó đến các ngành kinh tế cũng được nghiên cứu kĩ
hơn trong những công trình nghiên cứu sau:
+ Đề tài Xác định nội dung và phương thức CNH – HĐH trong thương mại ở
nước ta thời kì tới 2010 (năm 2003) của tác giả Vũ Tiến Dương và đề tài N
ghiên
cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp CNH – HĐH ở Việt Nam (năm 2005) của
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
1.1.1. Công nghiệp hóa
1.1.1.1. Khái niệm
Trong quá trình phát triển của tất cả các nước trên thế giới, công nghiệp hóa
(CNH) được xem là xu thế tất yếu khách quan. Vậy công nghiệp hóa là gì?
Có nhiều cách hiểu khác nhau về CNH: [9], [21]
- Theo B. Mazlish: “CNH là một quá trình được đánh dấu bằng một sự chuyển
động của một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọi là
hóa l
à quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
quản lý kinh tế, quản l
ý xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào
lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật tiên tiến
hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao”. [4]
Dựa trên định nghĩa này, Đại hội cũng đặt ra mục tiêu đến năm 2020, Việt
Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp với tỉ trọng trong GDP của nông
nghiệp c
hiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%, dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ
trọng lao động trong tổng lao động xã hội, lao động công nghiệp và dịch vụ là 50%,
nông nghiệp là 50%.
1.1.1.2. Đặc điểm của quá trình CNH
Dù trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về CNH, nhưng tựu chung lại
tất cả các khái niệm CNH đều toát lên 3 đặc điểm của quá trình CNH: [21]
- CNH là một sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế (theo cách phổ biến hiện na
y
là chuyển dịch cơ cấu kinh tế), một sự chuyển dịch từ kiểu kinh tế nông nghiệp và
thủ công nghiệp sang kiểu kinh tế được gọi là công nghiệp và sự biến đổi trong bản
thân ngành công nghiệp, trước hết là trong công nghiệp chế tạo – một bộ phận đặc
trưng nhất của công nghiệp.
Đây là đặc điểm có tính chất bao trùm của quá trình CNH. Một mặt là sự giảm
phần của khu vực nông nghiệp tr
ong toàn bộ nền kinh tế, sau đó là sự giảm tương
đối của khu vực công nghiệp do sự gia tăng của khu vực dịch vụ nhờ chính kết quả
phát triển của khu vực công nghiệp. Mặt khác, là sự thay đổi trong nội bộ khu vực
công nghiệp chế tạo.
Chính sự chuyển dịch cơ cấu sẽ là nguyên nhân của sự tăng trưởng kinh tế.
- CNH đặc trưng với kiểu kinh tế công nghiệp có năng suất cao, tăng trưởng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hiện đại hóa (HĐH). Đây là một cụm
từ có từ gốc là một tín
h từ: hiện đại. Từ này có nhiều cách giải thích khác nhau theo
nhiều lĩnh vực về sử học, về văn học nghệ thuật, về kiến trúc… và rất ít khi trùng
khớp với nhau.
Theo cách dùng thông thường, hiện đại có nghĩa là “thuộc thời đại ngày nay”
(Từ điển Tiếng Việt – 1996, Hoàng Phê chủ biên), đối lập với truyền thống là thói
quen nhiều đời đã qua, tương tự như mới với cũ, tiên tiến với lạc hậu. The
o nghĩa
này, HĐH là quá trình biến đổi từ tính chất truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến,
hiện đại. HĐH chỉ có tính so sánh về thời gian trước sau, còn thời gian khởi đầu và
thời gian kết thúc lại xác định tùy theo ngữ cảnh cụ thể. [3]
Theo ý nghĩa về kinh tế, HĐH được giải thích là quá trình chuyển dịch căn
bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, kéo dài từ thế kỉ 17 – 18 c
ho đến
ngày nay vẫn còn chưa kết thúc. HĐH về kinh tế vừa là sự thay đổi về tính chất, vừa
có tính xác định về thời gian (có thời gian khởi đầu và thời gian kết thúc từng giai
đoạn). Giai đoạn đầu của quá trình HĐH được coi là trùng với thời kì CNH, nên
nhiều người cho rằng CNH là cốt lõi của HĐH trong giai đoạn này. Nếu tính đến
định nghĩa CNH theo nghĩa rộng , có xét đến các mặt xã hội, văn m
inh, thì nội hàm
của CNH và HĐH giai đoạn đầu cũng không khác nhau bao nhiêu. Sau giai đoạn
đầu, HĐH sẽ chuyển sang giai đoạn hậu CNH, giai đoạn kinh tế tri thức (có thể tạm
gọi là giai đoạn tri thức hóa). Có người còn nói đến một giai đoạn hậu hiện đại.
Giữa HĐH và CNH có một mối quan hệ ràng buộc không dễ tách bạch ra được. [4]
Ở mỗi trình độ phát triển khác nhau, HĐH m
ang những đặc trưng khác nhau.
Đối với các nước phát triển, HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hội kinh tế công
nghiệp sang xã hội kinh tế tri thức. Đối với các nước đang phát triển, HĐH là quá
nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp, và nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh CN
H – HĐH (khác năm 1994 là đẩy
nhanh một bước CNH). Đại hội VIII củng đã tái khẳng định: Mục tiêu của CNH –
HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật
hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản x
uất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an
ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. [4] Bên cạnh
đó, Đại hội cũng phác thảo một cách định tính những mục tiêu cụ thể về cơ cấu kinh
tế, khoa học công nghệ, quan hệ sản xuất, đời sống vật chất và văn hóa… với một
chỉ tiêu định lượng duy nhất cho
năm 2020 là GDP tăng từ 8 đến 10 lần so với 1990. Sáu quan điểm về CNH – HĐH cũng đã được thông qua:
- Độc lập tự chủ đi dôi với hợp tác quốc tế.
- CNH – HĐH là sự nghiệp của toàn dân.
- Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bền vững.
- Khoa học và công nghệ là động lực của CNH – HĐH.
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn phát triển.
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh.
Đến Đại hội IX, đường lối CNH – HĐH xâ
y dựng từ Đại hội VIII đã được cụ
thể hóa trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm từ 2010 đến 2020, trong
đó có bao hàm phần chiến lược CNH – HĐH giai đoạn 2001 – 2010. Chiến lược
này đề ra nhiệm vụ tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội cũng đã bổ sung, hoà
n thiện nhiều
quan điểm về CNH – HĐH. Văn kiện đại hội yêu cầu tìm ra con đường rút ngắn
cơ bản trở thành một nước công nghiệp the
o hướng hiện đại, nhưng mục tiêu sâu xa
hơn là nước ta trở thành một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra
mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực hiện xong CNH rồi mới tiến hành HĐH, mà
phải thực hiện đồng thời và đồng bộ CNH và HĐH như một quá trì
nh thống nhất.
Về đại thể, riêng về mặt kinh tế, có thể nhìn nhận quá trình này từ hai mặt thống
nhất với nhau: một là quá trình xây dựng nền công nghiệp hiện đại, cũng có nghĩa
là tạo nền tảng vật chất – kỹ thuật (lực lượng sản xuất) của nền kinh tế; và hai là
quá trình cải cách hệ thống thể chế và cơ chế kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hội nhập [4]. CNH gắn
với HĐH là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới, nhanh c
hóng đưa nước ta tiến kịp các nước trong khu
vực, hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới.
- Quá trình CNH, HĐH ở nước ta có thể được rút ngắn. Việc cần được rút
ngắn ở đây là đòi hỏi khác
h quan của nhiệm vụ thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát
triển. Bên cạnh đó, bối cảnh mới trong nước cũng như trên thế giới cho phép nước
ta có khả năng rút ngắn quá trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta có thể
thực hiện CNH, HĐH rút ngắn bao gồm hai mặt: một là đạt và duy trì tốc độ tăng
trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài để rút ngắn
khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó (thực chất là tăng tốc để
đuổi kịp); và hai là lựa chọn và áp dụng một phương thức CNH, HĐH cho phép bỏ
qua một số bước đi vốn là bắt buộc theo kiểu tuần tự, để đạt tới một nền kinh tế có
trình độ phát triển cao hơn (thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp
CNH để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập m
+ Không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
1.1.3.3. Mục tiêu CNH, HĐH ở Việt Nam
a. Chặng đường đến năm 2010
Tính đến nay, chúng ta đã thực hiện được gần hết chặng đường của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010. Những kết quả đạt được cho đến nay
tạo điều kiện và là tiền đề qua
n trọng cho chặng đường CNH, HĐH đến năm 2020.
Trong những năm tới, nước ta tập trung tạo chuyển biến cơ bản về năng lực nội sinh
về khoa học công nghệ và công nghiệp của đất nước, tiếp tục nâng cao vị thế trong
hội nhập và chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế, định hình về cơ bản nền kinh tế
thị trường định hướng X
HCN, xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp. Cụ
thể hơn là phải hoàn thành các mục tiêu chủ yếu sau:
- Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao tích
lũy trong nước. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo đó cơ cấu ngành và lĩnh
vực tạo được hiệu quả cao và bền vững, cơ cấu kinh tế theo vùng tạo được sự hà
i
hòa giữa vùng động lực phát triển và các vùng khác, các vùng khó khăn có thể tự
lực phát triển và cơ bản hết đói nghèo. Trong nền kinh tế hình thành một số ngành,
lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn; khoa học và công nghệ có cơ sở tốt để chủ động tiếp
nhận chuyển giao công nghệ từ bên ngoài và tự tạo được đáng kể công nghệ tiên
tiến của nước ta; giáo dục và đào tạo phát triển hình thà
nh đội ngũ lao động và quản
lí có trình độ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế ở mức cao
hơn.
- Định hình về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu, thể
chế đồng bộ, hoàn chỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực ở một vị thế
tốt hơn, câ
n bằng lợi ích và mở rộng hội nhập ngoài khu vực. Hoàn chỉnh đồng bộ
các kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển của chặng đường
hợp với trình độ quốc tế. Mở rộng hội nhập quốc tế ở mức độ sâu hơn trong các lĩnh
vực đầu tư, tài chính, tiền tệ, lao động, công nghệ, thông tin. Tham gia có hiệu quả
vào WTO và các tổ chức quốc tế khác, về ki
nh tế có vị thế của một nước có trình độ
phát triển trung bình trên thế giới.
- Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo kịp trình độ
quốc tế. Hình thành đội ngũ các nhà quản lí nhà nước tinh thông nghiệp vụ, trung
thành, trung thực và tận tụy với công việc; đội ngũ doanh nhân giỏi, năng động,
nhạy bén, sáng tạo; đội ngũ trí thức có trình độ cao, tâm huyết; và đội ngũ công
nhân kĩ thuật lành nghề theo kịp yêu cầu phát triển đất nước đi dần tới hiện đại hóa
và nền ki
nh tế tri thức. Chỉ số HDI đạt trên mức trung bình của thế giới.
- Tạo dựng và phát huy năng lực công nghệ nội sinh, kể các lĩnh vực công
nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, chế
tạo máy, tự động hóa, hóa dầu, năng lượng… và sự kết hợp các công nghệ đó; có
chỗ đứng vững chắc trên thị trường công nghệ, đạt trình độ tiên tiến về công nghệ
trong khu vực. Tăng cường ứng dụng và nâ
ng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho sự rút ngắn trong
một số ngành, lĩnh vực, tiến thẳng đến trình độ hiện đại.
- Hình thành lối sống và đạo đức trong xã hội lành mạnh, văn minh, hiện đại,
gắn kết các cá nhân với cộng đồng và dâ
n tộc; nền dân chủ được mở rộng, mọi
người dân có điều kiện tiếp cận và hưởng thụ công bằng các thành quả phát triển;
quản lí xã hội có hiệu quả; các tệ nạn xã hội không còn là điều suy tư, lo lắng của
gia đình và xã hội; môi trường tự nhiên và sinh thái được giữ gìn, hài hòa với cuộc
sống con người. An ninh chính trị, xã hội luôn luôn được củng cố vững chắc.
1.2. Cơ cấu kinh tế
1.2.
n hệ cơ cấu giữa các yếu tố, biểu hiện về chất (là sự phát triển
của hệ thống). Nền kinh tế chỉ có thể ổn định và tăng trưởng bền vững khi có cơ cấu
cân đối, hợp lí.
Trên phạm v
i cả nước, cơ cấu kinh tế biểu hiện tập trung của chiến lược KT -
XH. Một cơ cấu kinh tế hợp lí phản ánh sự tác động của các quy luật phát triển
khách quan. Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử xã hội nhất định và luôn biến động
phụ thuộc vào sự biến đổi của tình hình kinh tế, chính trị thế giới và đặc điểm kinh
tế xã hội của đất nước. Sự biến đổi cơ cấu kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao về mặt KT
– XH và m
ôi trường theo hướng CNH, HĐH trong những điều kiện cụ thể của đất
nước. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với sự biến đổi và phát triển không ngừng
của các yếu tố, các bộ phận cấu thành nền kinh tế và những mối liên hệ giữa chúng.
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: Nền ki
nh tế quốc dân có một
cơ cấu kinh tế hợp lí là cơ cấu kinh tế trong đó các ngành, các vùng, các thành phần,
các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ kĩ thuật khác nhau phải được bố trí cân
đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát
triển ổn định.
Cơ cấu kinh tế là một hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát triển
của lực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó. Ứng với mỗi giai đoạn phát
triển nhất định, trong những điều kiện cụ thể nhất định, phải xây dựng, điều chỉnh
cơ cấu kinh tế cho phù hợp.
1.2.2. Các khía cạnh của cơ cấu kinh tế
1.2.2.1. Cơ cấu ngành
Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện mối quan hệ gắn bó với nhau theo những tỉ lệ
nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như
giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp trong các ngành [27]. Cơ cấu ngà
hiện về bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có
mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ
đạo trong toàn bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh tế giữ vai trò
quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu theo vùng là cơ sở cho các ngành,
các thành phần kinh tế phân bố hợp lí các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân
đối và đạt hiệu quả cao giữa các ngành và giữa các thành phần ki
nh tế của một nền
kinh tế.
1.2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Có nhiều cách lí giải khác nhau về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Song dù được lí
giải như thế nào thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn được xem là sự thay đổi trang
thái cơ cấu của nền ki
nh tế từ thời điểm này sang thời điểm khác.[19]
Quá trình phát triển KT – XH là quá trình biến đổi diễn ra trên tất cả các lĩnh
vực KT – XH nhưng trước hết là sự gia tăng năng lực sản xuất và chuyển dịch các
nguồn lực được sử dụng vào quá trình sản xuất của các ngành. Xu hướng chung
trong thực tế là khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì tỉ trọng sản phẩm
nông nghiệp trong tổng sản phẩm q
uốc dân sẽ giảm xuống, tỉ trọng sản phẩm công
nghiệp và dịch vụ tăng lên, đến một trình độ nhất định thì tỉ trọng dịch vụ sẽ tăng
nhanh hơn so với công nghiệp. Để lí giải cho quá trình này E. Engel cho rằng: khi
thu nhập của các gia đình tăng lên, tỉ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm
sẽ giảm xuống và cho sản phẩm
công nghiệp và dịch vụ tăng lên, dẫn tới tỉ trọng
nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội giảm xuống.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là quá trình cải biến KT – XH từ lạc hậu,
mang tính chất tự cấp tự túc bước vào chuyên môn hoá hợp lí, trang bị kĩ thuật,
công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng
trưởng mạnh cho nền kinh tế [9]. Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa
nội bộ từng ngành cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ.