BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________________ Trần Thị Bích Huyền
Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội, là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ
cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ hay quốc gia
trong thời gian nhất định (thường là 1 năm).
KCN : Khu công nghiệp
KCX : Khu chế xuất
Khu vực I : Nông – lâm – ngư nghiệp
Khu vực II : Công nghiệp – xây dựng
Khu vực III : Dịch vụ
KT2 : Người dân có hộ khẩu ở quận, huyện này nhưng địa chỉ thường trú
ở quận, huyện khác. Tuy nhiên,
quận, huyện này vẫn chung tỉnh,
thành với hộ khẩu.
KT3 : Người dân có hộ khẩu ở tỉnh, thành này nhưng lại đăng ký thường
trú dài hạn ở một tỉnh, thành khác.
KT4 : Người dân có hộ khẩu ở tỉnh, thành này nhưng đăng kí tạm trú ngắn
hạn ở một tỉnh, thành khác.
Người NN : Người nước ngoài
Tp. HCM : Tp. Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
Định hướng và giải pháp thúc đẩy quá trình đô thị hóa của Quận 2 nhằm hạn chế
những tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
2.2. N
hiệm vụ
Thu thập cơ sở lí luận liên quan đến đô thị và đô thị hóa.
Tìm hiểu quá trình đô thị hóa và quá trình phát triển kinh tế – xã hội Quận 2.
Tìm hiểu các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa đối
với sự phát triển kinh tế – xã hội, môi trường Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: đô thị hóa Quận 2 và những tác động đối với kinh tế – xã
hội.
Về không gian:
Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa đối với kinh tế – xã hội Quận 2 nói
chung và các phường trong Quận 2 nói riêng.
Về thời gian:
Phân tích tác động của đô thị hóa đến ki
nh tế – xã hội Quận 2 từ khi mới thành lập
đến nay, chú ý đến các khoảng thời gian đặc biệt như năm 1997, năm 2000, năm 2005 và
năm 2007. Đây là những năm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình đô thị hóa Quận 2. Năm
1997, Quận 2 chính thức được thành lập trên cơ sở tách ra từ Huyện Thủ Đức. Năm 2000 và
2005 là khoảng thời gian đủ để đánh giá quá trình thực hiện các kế hoạch
, chủ trương, chính
sách, trong đó có vấn đề đô thị hóa. Năm 2007 là khoảng thời gian 10 năm từ khi thành lập,
cột mốc đánh giá tác động đô thị hóa đối với kinh tế – xã hội, môi trường Quận 2.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có nhiều công trình nghiên cứu về đô thị, đô thị hóa trên thế giới, Việt Nam và Tp.
Hồ C
hí Minh. Một số đề tài tiêu biểu như: “Đô thị Việt Nam” của Đàm Trung Phường; “Đô
thị học” của GS.TSKH. Nguyễn Thế Bá; “Quản lí đô thị” của TS. Nguyễn Ngọc Châu;
“Quản lí đô thị” của Phạm Trọng Mạnh; “Kinh tế đô thị và vùng” của Trần Văn Tấn; “Phân
4.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Quận 2 là một bộ phận lãnh thổ của Tp. Hồ Chí Minh,
với sự tương đồng và khác
biệt với các lãnh thổ và các quận khác. Vì thế, quá trình đô thị hóa của Quận 2 có những nét
tương đồng với quá trình đô thị hóa của Tp. Hồ Chí Minh. Nhưng bên cạnh đó cũng có
những nét khác biệt. Vì vậy, nghiên cứu quá trình đô thị hóa Quận 2 phải chú ý đến quan
điểm lãnh thổ.
4.3. Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Quá trình phát triển của đô thị trong quá khứ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ki
nh
tế – xã hội hiện tại và tương lai. Do đó, cần phải nghiên cứu tác động của quá trình đô thị
hóa đến Quận 2 trong mối liên hệ với quá khứ, hiện tại và tương lai. Từ đó thấy rõ bản chất
của vấn đề đô thị hóa theo thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác khi
nghiên cứu.
4.4. Quan điểm sinh t
hái và phát triển bền vững
Quá trình phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa có những tác động tích cực và tiêu
cực đến môi trường tự nhiên. Để phát triển đô thị, kinh tế – xã hội bền vững phải chú ý sử
dụng hợp lí, bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời phải chống ô nhiễm môi
trường, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống người dân. Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là việc làm rất cần thiết. Do vậy,
nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển
bền vững.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở các tài liệu thống kê kinh tế – xã hội,
môi trường, tác giả có được những số liệu, dữ liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu, từ đó
rút ra được những tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế – xã hội, môi trường Quận
2.
5.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA
1.1. Khái niệm
1.1.1. Đô thị
Theo Bách khoa toàn thư của Liên Xô, “đô thị là một khu dân cư rộng lớn. Dân cư ở
đây hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như trong lĩnh vực
quản lí khoa học và văn hóa”.
Ngoài ra, một số quốc gia có định nghĩa khác nhau về đô thị như sau:
Australia: đô thị dùng để chỉ các trung tâm thành phố, là những khu dân cư đông
đúc với mật độ dâ
n số trên 200 người/km
2
và qui mô từ 1000 người trở lên.
Canada: đô thị là một vùng có mật độ dân số 400 người/km
2
và tổng số dân phải
trên 1000 người. [46]
Nhật Bản: các đô thị là các vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc với
mật độ dân số từ 4000 người/km
2
. [46]
Trung Quốc: đô thị là khu thành thị, thành phố và thị trấn với mật độ dân số từ
1500 người/km
2
trở lên. [46]
Theo Nguyễn Đức Mậu (1962), “đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu
cao. Người dân ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp. Đô thị phải có kiến trúc
theo một lối riêng biệt, khác hẳn với nông thôn để thỏa mãn sự tập trung cao (vận tải, điện
nước, các công trình công cộng…)”.
Theo nghị định số 42/2009/NĐ – CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ về phân loại đô
thị qui định rằng: đô thị bao gồm th
hị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành,
huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị loại đặc biệt đa chức năng, với qui mô
dân số từ 5 triệu người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15000 người/km
2
và tỉ lệ
lao động phi nông nghiệp trên 90% tổng số lao động.
Đô thị loại I là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện
ngoại thành, có thể có các đô thị trực thuộc với qui mô dân số từ 1 triệu người trở lên, mật
độ dân số tối thiểu là 12000 người/km
2
. Đô thị loại I là thành phố thuộc tỉnh có các phường
nội thành, các xã ngoại thành với qui mô dân số từ 500000 người trở lên, mật độ dân số từ
10000 người/km
2
trở lên. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tại đô thị loại I phải trên 85%.
Đô thị loại II có tỉ lệ lao động phi nông nghiệp phải từ 80% trở lên. Nếu là đô thị
trực thuộc Trung ương thì qui mô dân số từ 800000 người trở lên, mật độ dân số trên 10000
người/km
2
. Đô thị loại II thuộc tỉnh có qui mô dân số trên 300000 người với mật độ dân số
từ 8000 người/km
2
.
Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội
thị, các xã ngoại thành, ngoại thị. Qui mô dân số trên 150000 người, mật độ dân số từ 6000
người/km
2
trở lên và tỉ lệ dân số phi nông nghiệp từ 75% trở lên.
Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. Qui
mô dân số từ 50000 người trở lên với mật độ dân số trên 4000 người/km
chẽ với sự phát triển của cách mạng khoa học kĩ thuật, làm thay đổi sự phân bố lực lượng
sản xuất; phân bố dân cư; thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, văn hóa, xã hội, kết cấu giới tính,
lứa tuổi của dân cư và môi trường sống.
Đô thị hóa quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp m
ang tính qui luật, diễn ra
trên qui mô toàn cầu, mang tính chất đặc trưng của sự phát triển kinh tế – xã hội trong thời
đại hiện nay.
Ban đầu, đô thị hóa chỉ là sự mở rộng diện tích thành phố và nâng cao vai trò của
thành phố trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, đô thị hóa không phải là sự
tăng số lượng các đô thị, qui mô dân số đô thị cũng như ảnh hưởng của nó đối với các vùn
g
1
Theo KTS Đàm Quang Tuấn – Tạp chí Qui hoạch xây dựng số 23/2007
2
TS. Huỳnh Quốc Thắng, Tham luận “Vùng ven và văn hóa vùng ven trong quá trình đô thị hóa”, Hội thảo “Các xu
hướng đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven ở Đông Nam Á”, tháng 12-2008, trang 90.
xung quanh. Hiện nay, đô thị hóa còn bao gồm những thay đổi đa dạng về mặt kinh tế – xã
hội, gắn liền với sự phát triển công – thương nghiệp, dịch vụ và sự phân bố dân cư, phân bố
sản xuất.
Dựa trên những khái niệm về các khu vực trong đô thị, đô thị hóa, có thể hiểu khái
niệm đô thị hóa ngoại ô: hiện tượng tương tự như việc “đô thị lấn ra” do ngoại ô có nguồn
đất dồi dào. “Đô thị hóa vùng ve
n dùng để nói về việc khu vực nông thôn và thành thị nhập
lại, pha trộn. Từ đó, có thể phát sinh những hình thức tương tác xã hội, kinh tế và môi
trường hoàn toàn mới, không còn thuần đô thị hoặc thuần nông thôn nữa”
3
.
Đô thị hóa làm thay đổi sự phân bố dân cư, từ dạng phân tán ở các vùng nông thôn
sang dạng tập trung ở các đô thị, gắn với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp. Từ đó, tỉ
19488,3
11099,4
27
26,2
15,4
3
GS. Micheal Leaf, Tham luận “Ranh giới mới của đô thị: Đô thị hóa vùng ven và tái phân định ranh giới”, Hội thảo
“Các xu hướng đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven ở Đông Nam Á”, tháng 12-2008, trang 10.
+Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
+Tây Nguyên
+Đông Nam Bộ
+Đồng bằng sông Cửu Long
19659,9
4934,1
12455,7
17534,3
22,1
27,9
57,3
21,3
(Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán của tác giả từ Tổng cục thống kê)
Mức độ đô thị hóa ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với thế giới: Năm 2007, tỉ lệ dân số
đô thị của Việt Nam chỉ đạt 27%, trong khi tỉ lệ dân số đô thị thế giới là 49%. Các vùng
kinh tế trong nước cũng có mức độ đô thị hóa khác nhau: cao nhất là Đông Nam Bộ với tỉ lệ
dân số đô thị là 57,3%; thấp nhất là Trung du và m
iền núi phía Bắc với tỉ lệ là 15,4%.
Dân số đô thị thế giới tăng nhanh cho đến giữa thế kỷ XXI. Tỉ lệ dân số đô thị thế
giới đạt hơn 50% (năm 2008) với khoảng 3,2 tỉ người. Dự báo đến năm 2015 sẽ có 4,1 tỉ
dân đô thị và năm 2050 dân số đô thị sẽ là 6,4 tỉ dân, tương ứng với 55% và 70% dâ
(hơn 2% diện tích các
lục địa và 13% diện tích đất có giá trị sử dụng cao – đất canh tác nông nghiệp). Hiện nay, đô
thị ngày càng phát triển các tuyến đường giao thông, các khu công nghiệp, khu dân cư, khu
thương mại, khu giải trí...nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ngày càng cao của
người dân. Nhu cầu mở rộng diện tích đất ở, đất khu công nghiệp, đất công trình công cộng
tăng cao. Do đó, diện tích đất đô thị không ngừng mở rộng. Đô t
hị phát triển phình to ra
ngoài ranh giới hiện có để đáp ứng sự gia tăng dân số và sản xuất của đô thị.
Thực tế, khi các đô thị phát triển, khả năng thu hút các điểm dân cư nông nghiệp và
các đô thị nhỏ xung quanh càng cao. Tập hợp các vùng ảnh hưởng này làm cho đô thị có
vùng ngoại ô ngày càng lớn hơn. Quá trình mở rộng lãnh thổ đô thị cũng chính là quá trình
chuyển đất nông nghiệp thà
nh đất đô thị (có khi là sự lấn chiếm đất nông nghiệp để xây
dựng đô thị, các cơ sở công nghiệp dân dụng…).
Hiện nay, nhu cầu sử dụng đất của dân cư thành thị những năm gần đây đã tăng lên
hơn hai lần so với đầu thế kỷ XX. Đó là do nhu cầu về diện tích nhà ở, cây xanh, công viên,
câu lạc bộ…ngày càng phát triển khi chất lượng cuộc sống của người dâ
n đô thị tăng lên.
Như vậy, chỉ tiêu sử dụng đất và gia tăng diện tích đất đô thị chỉ là chỉ tiêu gián tiếp,
biểu hiện nét đặc trưng của quá trình đô thị hóa. Theo dự đoán, diện tích đất đô thị sẽ còn
tiếp tục tăng nhanh trong khoảng 150 năm tới. Tất nhiên, sự lấn chiếm đất đai mới của các
đô thị cũng gây ra nhiều hậu quả tiêu cực: giảm d
iện tích gieo trồng, làm suy thoái môi
trường….
1.2.4. Phổ biến rộng rãi lối sống thành thị
Lối sống bao gồm những điều kiện và hình thức hoạt động sống của con người, đặc
trưng của xã hội, giai cấp, tầng lớp nhất định. Đô thị hóa là quá trình có sự chuyển đổi lối
sống nông thôn sang lối sống đô thị.
Lối sống đô thị là lối sống hợp cư, dễ biến động và ít có sự liên kết về huyết thống,
u
t
P
U
P
Trong đó:
U : tỉ lệ dân thành thị (%)
P
u
: dân số đô thị (người)
P
t
: tổng dân số (người)
Tỉ lệ dân cư đô thị của Việt Nam tăng liên tục, từ 20,8% năm 1995 tăng lên 27,4%
năm 2007. Tuy nhiên, tỉ lệ này còn thấp so với trung bình thế giới (49% – năm 2007).
Tỉ lệ dân đô thị của Tp. Hồ Chí Minh ngày càng tăng do thành phố phát triển mạnh
các ngành công nghiệp – dịch vụ. Năm 1995, tỉ lệ dân đô thị đạt 71,6%; đến năm 2007 tăng
lên 84,8%. quá trình đô thị hóa của thành phố có diễn ra nhanh chóng, xứng đáng với vai trò
là thành phố phát triển nhất cả nước về ki
nh tế.
Bảng 1.2. Tỉ lệ dân số đô thị Việt Nam và Tp. Hồ Chí Minh
Tỉ lệ dân số đô thị (%) Năm
Việt Nam Tp. Hồ Chí Minh
1995
1997
2007
20,8
22,7
Trong đó:
M: mật độ dân số đô thị (người/km
2
)
P
u
: dân số đô thị (người)
S : diện tích đô thị (km
2
)
Mật độ dân số của cả nước và Tp. Hồ Chí Minh năm 2007 [24; 25] được tính như
sau:
M
VN
=
23370000
21741
= 1074,9 (người/km
2
)
M
TP. HCM
=
5640288
507
= 11124,8 (người/km
2
)
Mật độ dân số đô thị ở Tp. Hồ Chí Minh cao gấp hơn 10 lần so với mật độ dân số đô
thị cả nước, chứng tỏ mức độ phát triển đô thị của thành phố cao hơn nhiều so với cả nước.
tăng nhanh: từ 3,0 triệu người năm
1990 tăng lên 5,6 triệu người năm 2007. Tốc độ tăng dân
số đô thị năm 2007 tăng 186,3% so với năm 1990.
Bảng 1.3. Tốc độ tăng dân số đô thị Tp. Hồ Chí Minh
Năm Tốc độ tăng dân số đô thị (%)
1990
1995
2000
2005
2007
100,0
109,8
143,8
175,6
186,3
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ Cục thống kê Tp. HCM)
Nhịp độ đô thị hóa ảnh hưởng đến diện tích đất phi nông nghiệp cũng như làm
chuyển đổi mục đích sử dụng đất và sự phát triển cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật. Những yếu
tố này thể hiện ở Tp. Hồ Chí Minh như sau:
+Diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh chóng, trung bình mỗi năm k
hoảng 1000 ha,
liên tục trong suốt 10 năm qua. Năm 2005, thành phố có 123,5 nghìn ha đất nông nghiệp.
Đến năm 2007, diện tích đất nông nghiệp còn 111,3 nghìn ha. Diện tích đất nông nghiệp
giảm nhanh, phần lớn chuyển sang đất thổ cư và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
Từ đó, diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên: từ 86,1 nghìn ha tăng lên 98,3 nghìn ha, tăng
114%. Tốc độ đô thị hóa ở Tp. Hồ Chí Minh diễn ra nhanh chóng.
+Hiện nay, nhiều khu dân cư mới đang xây dựng tại các quận vùng ven thành phố
như khu đô thị Nam Sài Gòn, khu đô thị Thủ Thiêm… Bên cạnh đó, nhiều công trình phục
vụ công cộng như các trung tâm thương mại, siêu thị, nhiều dự án cầu đường đang được
hoàn thành (cầu Thủ Thiêm
Đô thị hóa thường diễn ra song song với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Quá trình này biến dân cư nông thôn trở thành dân đô thị, với sự chuyển dịch cơ cấu lao
động từ nông nghiệp chuyển sang lao động công nghiệp và dịch vụ; biến quần cư nông thôn
thành quần cư thành thị. Tác động này làm ngành nông nghiệp giảm dần tỉ trọng, tăng dần tỉ
trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Điển hình tại Tp. Hồ Chí Minh, dân số phi nông
nghiệp tăng nhanh, từ 93,1% dân số năm 2001 tăng lên 96,4% dân số năm 2007. Tương ứng
với sự thay đổi cơ cấu lao động, cơ cấu ki
nh tế cũng chuyển dịch: nông nghiệp từ 1,9% năm
2001 giảm còn 1,3% năm 2007; công nghiệp từ 46,2% tăng lên 46,4%, dịch vụ từ 51,9%
tăng 52,3% năm 2007[25].
Hình 1.1. Biểu đồ cơ cấu kinh tế Tp. Hồ Chí Minh
Trong quá trình đô thị hóa, sự chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành cũng có sự thay
đổi. Tại Tp. Hồ Chí Minh, hoạt động trồng trọt, đặc biệt là trồng lúa giảm tỉ trọng nhanh
chóng: Ngành trồng trọt từ 39,3% giá trị ngành nông nghiệp năm 2000 giảm còn 27,2% giá
trị vào năm 2006. Trong đó lúa từ 17,5% giá trị, đến năm 2000 giảm còn 6,8% năm 2006.
Ngược lại, ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản năm 2000 đạt 12,7% giá trị ngành nông
nghiệp, đến năm
2006 tăng lên 30,5%[ 25].
Nhờ các thành tựu của cách mạng công nghệ, ngành công nghiệp phát triển theo
hướng đầu tư vào các ngành công nghiệp hiện đại, tốn ít nguyên – nhiên liệu, nguồn lao
động phổ thông. Ngành công nghiệp chế biến của Tp. Hồ Chí Minh tăng dần tỉ trọng trong
giá trị sản xuất công nghiệp, từ 96,1% năm 2000 tăng lên 98% năm 2006.
Các ngành dịch vụ tăng nhanh về tỉ trọng giá trị sản xuất và ngà
y càng đa dạng hơn,
đặc biệt với các hoạt động môi giới trung gian cho các ngành khác như quảng cáo, tiếp thị,
tài chính, tư vấn pháp luật… ngày càng phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, hoạt động du lịch
được đầu tư phát triển nhằm đáp ứng cho nhu cầu người dân thành phố có chất lượng cuộc
sống ngày càng tăng cao.
Thay đổi đặc điểm dân số
5
].
Dân số tăng tạo nguồn cung cấp lao động dồi dào cho sự phát triển kinh tế. Đồng thời
nguồn lao động tập trung vào các đô thị phần lớn là lao động có chất lượng cao, tạo thuận
lợi cho sự phát triển các ngành sản xuất hiện đại, mang giá trị cao như tài chính, tín dụng,
công nghiệp chế biến, các hoạt động khoa học công nghệ. Nguồn lao động này cũng chính
là nguồn tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, tạo điều kiện thúc
đẩy kinh tế phát triển nhanh chóng,
hiệu quả.
o Dân số tập trung cao độ
Hình 1.3. Biểu đồ cơ cấu dân số Tp. Hồ Chí Minh
Mật độ dân số trong quá trình đô thị hóa có xu hướng tăng nhanh do số dân nhập cư
tăng, trong khi diện tích đất đai ít biến động. Diện tích đất ở tăng lên do quá trình chuyển
đổi đất nông nghiệp thành đất thổ cư, nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu về nhà ở của
người dân cũng như sức ép gia tăng dân số khá cao ở các vùng đô thị hóa. Tại các quốc gia
có trình độ đô thị hóa cao, mật độ dâ
n số thường rất cao: Hồng Kông: 6305 người/km
2
,
Singapore: 6785 người/km
2
. Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hóa cao so với cả
nước, được thể hiện rõ nét ở sự gia tăng nhanh chóng mật độ dân số: tăng từ 552 người/km
2
vào năm 1985, lên đến 2228 người/km
2
vào năm 1993 và đạt 3175 người/ km
2
– xã hội của các khu đô thị cao hơn, văn minh đô thị càng làm cho tuổi thọ nữ cao hơn nam.
Chính vì thế, tỉ lệ nữ ở các thành phố thường cao hơn tỉ lệ nam. Tại Việt Nam, năm 2007, tỉ
lệ nữ chiếm 50,8% dân số cả nước. Trong khi đó, tại Tp. Hồ Chí Minh, tỉ lệ nữ đạt 51,
9%
dân số.
Kết cấu lao động: Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch rõ nét: giảm tỉ lệ dân
số hoạt động nông nghiệp và tăng tỉ lệ dân hoạt động phi nông nghiệp. Tại Tp. Hồ Chí
Minh, năm 1985, tỉ lệ dân số phi nông nghiệp là 83,3% dân số; năm 1993 là 87,7% dân số.
Năm 2003, tỉ lệ dân số hoạt động phi nông nghiệp đạt 95,5% dân số, năm 2007 là 96,4%
dân số [2
5
]. Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động giúp nguồn lao động trong các ngành
công nghiệp – dịch vụ tăng lên, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Đây là những ngành
mang lại giá trị kinh tế cao nên sự chuyển dịch cơ cấu lao động sẽ giúp kinh tế đô thị phát
triển nhanh và hiệu quả hơn.
Hình 1.4. Biểu đồ cơ cấu dân số theo lao động ở Tp. Hồ Chí Minh
Trình độ học vấn: Điều kiện giáo dục tại các vùng đô thị khá thuận lợi,
cùng với ý thức của người dân đô thị và chủ trương phát triển giáo dục của chính quyền, số
trẻ em được đến trường, tỉ lệ người dân biết chữ, số năm đến trường của người dân đều tăng.
Bên cạnh đó, do điều kiện làm
việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ cần trình độ
cao, lực lượng lao động tại các đô thị phần lớn đều đạt một trình độ học vấn nhất định, chủ
yếu từ cấp trung học phổ thông trở lên. Ngay cả đối với lao động nhập cư, trình độ học vấn
cũng cao hơn nhưng không đều. Điều này gi
úp đô thị có đội ngũ lao động có chất lượng cao
mà không tốn nhiều chi phí đào tạo.
Độ tuổi kết hôn: Độ tuổi kết hôn của người dân đô thị tăng lên đáng kể do
sức ép của công việc và do nhận thức của người dân được nâng cao. Tác động này tạo điều
Hình 1.5. Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất Tp. Hồ Chí Minh
Nâng cao chất lượng cuộc sống
Đô thị hóa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
o Tăng thu nhập bình quân đầu người
Quá trình đô thị hóa có tác động rất mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế, giúp tăng
thu nhập bình quân đầu người, mà thu nhập bình quân đầu người lại là cơ sở nâng cao chất
lượng cuộc sống người dân [25]
.
Năm
đồng
/người
đồng
/người
Theo số liệu thống kê năm 2007, những quốc gia có trình độ đô thị hóa cao thì thu
nhập bình quân đầu người cao, ví dụ như Singapore, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Ngược lại, những
quốc gia có mức độ đô thị hóa thấp thường có thu nhập bình quân đầu người thấp như Ấn
Độ, Ethiopia, Việt Nam…
Quá trình đô thị hóa tạo sự chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế. Hoạt động
sản xuất nông nghiệp đư
ợc thay thế bằng hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ, tạo ra
sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Từ đó, thu nhập của người
dân được nâng cao. Thu nhập bình quân đầu người của người dân thành thị luôn cao hơn so
với nông thôn: Ở Việt Nam, năm 2002, thu nhập bình quân trung bình cả nước là 365000
đồng/người/tháng thì ở thành thị là 622000 đồng/người/tháng, cao hơn gấp 1,
7 lần so với cả
nước. Năm 2006, thu nhập bình quân trung bình cả nước là 636000 đồng/người/tháng, thành
thị là 1058000 đồng/người/tháng, gấp 1,7 lần so với năm 2002. Ở nông thôn, thu nhập bình
quân năm 2002 đạt 275000 đồng/người/tháng, thấp hơn 2,3 lần so với thành thị. Năm 2006,