A/ MỞ ĐẦU
Thế kỷ XX kết thúc với những thành tựu rực rỡ của loài người nhưng cũng đầy
những lo âu với những vấn đề quốc tế còn dang dở, chiến tranh tiềm ẩn tại nhiều điểm
nóng trên thế giới. Một trong những vấn đề khiến cả thế giới phải lo ngại là vấn đề
Liên bang Nam Tư với sự li khai của Kosovo. Vốn dĩ, sự thành lập quốc gia phải dựa
trên ý nguyện của dân tộc, và tạo thành những quốc gia – dân tộc với sự đoàn kết cao.
Tuy nhiên, Liên bang Nam Tư được hình thành trong ý nguyện chủ quan của con
người trên một vùng đất có nhiều nhóm sắc tộc xung đột nhau. Sự kiện Kosovo đòi ly
khai không khiến thế giới ngạc nhiên, tuy nhiên, điều bất ngờ trong sự kiện Kosovo ly
khai là sự can dự của Mỹ đứng sau NATO. NATO và Mỹ đã bất ngờ có những hành
động tấn công vào Liên bang Nam Tư để thể hiện sự ủng hộ với tuyên bố độc lập của
Kosovo. Hành động này của Mỹ và NATO đã khiến thế giới phải bàng hoàng bởi nó
vi phạm những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, và tập quán quốc tế, đồng thời tạo
nên một tiền lệ trong quan hệ quốc tế khi giải quyết các tranh chấp, xung đột, các vấn
đề ly khai giữa các dân tộc và đặt ra một bài toán khó với Luật quốc tế trong việc đảm
bảo việc thực hiện đúng các nguyên tắc và các điều luật.
B/ NỘI DUNG SỰ KIỆN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC
TẾ ĐÃ BỊ VI PHẠM
1. Tổng quan về sự kiện
Cuối thế kỷ 14, Kosovo bị xâm chiếm và trở thành lãnh thổ của đế chế
Ottoman. Sau khi đè bẹp các phong trào kháng chiến của người Serbia theo Chính
thống giáo đã sinh sống ở đây từ thế kỷ thứ 7, đế chế Ottoman đã đưa người Albania
Hồi giáo đến định cư tại Kosovo. Từ những năm đầu của thế kỉ 20 đến năm 1980,
Kosovo tồn tại với vai trò một khu tự trị của Liên bang Nam Tư bên cạnh một khu tự
trị khác của Liên bang Nam Tư là Vovoidin và sáu nước cộng hòa khác cũng thuộc
Liên bang Nam Tư. Tuy nhiên, đến năm 1980, kinh tế Nam Tư đi xuống, căng thẳng
trong xã hội tăng lên, đặc biệt là vấn đề mâu thuẫn dân tộc (giữa hai cộng đồng người
Albania và Serbia). Tình hình này đã dẫn đến việc xóa bỏ quyền tự trị của hai tỉnh
Vovoidin và Kosovo vào năm 1989 khi ông Milosevic lên cầm quyền.
1
Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1990 kéo theo những hệ lụy về sắc tộc và tôn
2
"màn trời chiếu đất". Tình trạng mất điện, thiếu nước sinh hoạt đã gây khó khăn
nghiêm trọng cho cuộc sống của người dân nơi đây. Học sinh phải nghỉ học vì trường
học đã bị phá hủy hoàn toàn. Thậm chí, việc NATO sử dụng vũ khí hóa học, bom bi
(loại vũ khí bị cấm sử dụng) cùng nhiều loại vũ khí mới, đã gây ảnh hưởng môi
trường nghiêm trọng.
Cuộc tấn công phi nghĩa của Mỹ và NATO đã gây ra những hậu quả chiến
tranh thảm khốc và nặng nề với 1.500 thường dân bị giết hại và hơn 6.000 người bị
thương.
Sau Chiến tranh Kosovo năm 1999, Nghị quyết 1244 của Hội đồng Bảo an
Liên Hiệp Quốc giao Kosovo cho Phái đoàn Chính quyền Lâm thời Liên Hiệp Quốc
tại Kosovo (UNMIK) với chính phủ địa phương Các Cơ quan Tự trị Lâm thời (PISG).
Ngoài ra, Quân lực Kosovo (KFOR) giữ gìn hòa bình, với phần nhiều lực lượng là của
NATO. Những cuộc đàm phán quốc gia bắt đầu năm 2006 để định đoạt tình trạng cuối
cùng của Kosovo.
Sau đó gần một thập kỉ, ngày 17/02/2008, một lần nữa, những người cầm
quyền ở tỉnh tự trị Kosovo thuộc Cộng hoà Serbia đã đơn phương tuyên bố độc lập,
tách khỏi Serbia. Kosovo cũng tự tổ chức bầu cứ quốc hội và tuyên bố mở đại sứ quán
tại 20 nước. Việc này nhận được nhiều sự ủng hộ của các nước phương Tây, đặc biệt
là Mỹ và quân đội NATO.
Việc Kosovo tuyên bố tự trị là một hành động đáng tiếc có nguy cơ tạo ra một
tiền lệ nguy hiểm, coi thường và thách thức luật pháp quốc tế. Tính cho đến thời điểm
này, vẫn còn rất nhiều tranh luận xung quanh việc tuyên bố độc lập của Kosovo và
những hệ quả cũng như sai lầm của nó. Có 47 nước nằm trong khối Liên Hợp Quốc và
1 nước không thuộc khối này công nhận độc lập của Kosovo, bên cạnh đó, đã số các
quốc gia cũng như dư luận cho rằng hành động này của Kosovo là trái với luật pháp
quốc tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên các nguyên tắc ứng xử hòa bình. Người ta
cũng nhấn mạnh nhiều đến vai trò của Mỹ và NATO trong vấn đề độc lập tại Kosovo,
hành động can thiệp vũ trang của Mỹ và NATO vào công việc nội bộ của Liên bang
Nam Tư với mục đích tách Kosovo thành một quốc gia tự trị đã vi phạm nhiều quy tắc
NATO không chỉ áp đặt chính trị lên Nam Tư với mưu toan biến Kosovo thành một
nhà nước trong một nhà nước, mà còn buộc Nam Tư phải chấp nhận một sự áp đặt về
quân sự, tức là mở cửa cho NATO đưa quân vào Kosovo. Tổng thống Milosevic của
4
Nam Tư lập tức bị Mỹ và NATO buộc tội "phá hoại hòa bình" khi ông này từ chối đề
nghị đối thoại. Và đây chính là cái cớ để Mỹ và NATO bắt đầu những hành vi vi
phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế ở Nam Tư.
Cuộc tấn công quy mô lớn của Mỹ và NATO vào lãnh thổ Nam Tư khiến cho
dư luận thế giới không khỏi bàng hoàng và phẫn nộ. Có thể khẳng định rằng, không
có một lý lẽ nào có thể bào chữa, che đậy được tính chất phi nghĩa và bất hợp pháp
của cuộc tấn công này bởi nó đã vi phạm nghiêm trọng phần lớn những nguyên tắc
của luật pháp quốc tế, trong đó có nguyên tắc cấm sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực.
Trước hết, trong nội dung nguyên tắc cấm sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực,
chỉ có 2 trường hợp được phép dùng sức mạnh dưới hình thức vũ trang. Đối chiếu với
hành động tấn công Nam Tư của NATO và Mỹ, rõ ràng, hành động tấn công này đều
không thuộc 2 trường hợp ngoại lệ đó.
Thứ nhất, hiển nhiên Nam Tư đã không hề có một hành vi tấn công hay đe dọa
tấn công nào đối với NATO và Mỹ. Chính vì vậy, không thể coi hành động ném bom
Nam Tư của NATO là một sự tự vệ chính đáng.
Thứ hai, một quốc gia chỉ có quyền có hành động tấn công vũ trang khi xuất
hiện hành động đe dọa hòa bình hay xâm lược từ nước khác. Quan trọng hơn, hành
động tấn công này bắt buộc phải được sự cho phép của Hội đồng Bảo an LHQ. Tuy
nhiên, sự thật là cuộc tấn công của NATO vào Nam Tư không hề được Hội đồng Bảo
an LHQ, cơ quan quốc tế duy nhất có thẩm quyền cho phép sử dụng các hành động vũ
lực trong quan hệ quốc tế, thông qua.
Như vậy, NATO và Mỹ đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc không sử dụng và
đe dọa sử dụng vũ lực trong Luật Quốc tế. Điều này dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về
những tổn hại trên cả phương diện vật chất và tinh thần của Kosovo nói riêng và Nam
Tư nói chung, tạo nên một tiền lệ xấu trong quan hệ quốc tế và trở thành một tiền lệ vi
phạm Luật quốc tế, khi mà các quốc gia và các tổ chức sử dụng vũ lực can thiệp vào
1970, trong đó chỉ rõ "mỗi quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế của mình với các
quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình để không dẫn đến đe dọa hòa bình, an
ninh quốc tế và công bằng".
6
Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp: Điều 33 Hiến chương liên hợp
quốc đã quy định cụ thể các biện pháp hòa bình mà các bên tranh chấp có thể lựa
chọn, đó là các con đường: " đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa
án, sử dụng các tổ chức hoặc các hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa
bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình". Như vậy, hòa bình giải quyết các tranh
chấp quốc tế là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi quốc gia- thành viên của cộng đồng
quốc tế. Các bên có quyền tự do lựa chọn các biện pháp phù hợp nhất, sao cho mọi
tranh chấp đều được giải quyết trên cơ sở luật quốc tế và nguyên tắc công bằng. Thực
tiễn cho thấy, phương pháp đàm phán là phương pháp thường xuyên được các quốc
gia sử dụng để giải quyết các tranh chấp hoặc bất đồng với nhau.
2.2.3 Sự vi phạm nguyên tắc của NATO
Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp là một nguyên tắc không tồn tại
bất kỳ ngoại lệ nào. Do đó, xét trên trường hợp của Kosovo thì Mỹ và NATO đã vi
phạm nghiêm trọng nguyên tắc này khi đã giải quyết tranh chấp, xung đột bằng
phương pháp vũ lực. NATO và Mỹ thay bằng có những đàm phán hay thông qua
trung gian, hòa giải để cùng nhau giải quyết xung đột ở Kosovo thì họ lại cáo buộc
chính quyền của thủ tướng Milosevic không chịu đàm phán, đã dựng lên cuộc chiến
phi nghĩa ở đây. Trong khi đó, nếu xét trên Luật Quốc tế thì chưa từng có ngoại lệ nào
xảy ra trong trường hợp này.
2.3 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau
2.3.1 Sự hình thành nguyên tắc
Xu thế tất yếu của tiến trình phát triển quan hệ quốc tế hiện nay là sự hội nhập,
hợp tác trên cơ sở các bên cùng có lợi. Sự hợp tác giữa các quốc gia trong tất cả các
lĩnh vực không phụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và nhằm duy trì hòa
bình, an ninh quốc tế đã được pháp luật hóa trong các văn bản pháp lý quốc tế quan
trọng.
đơn phương gây ra chiến tranh của Mỹ và NATO tại Kosovo đã vạch trần được sự
trắng trợn của họ trong việc không tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế,
gây ra sự bất ổn trong hòa bình và an ninh trong khu vực Balkan vốn đã có nhiều mâu
thuẫn nảy sinh.
8
2.4 Nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia
2.4.1 Nội dung nguyên tắc
Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của quốc gia, bao
gồm hai nội dung chủ yếu là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của
mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Trong phạm vi lãnh thổ nước mình, quốc gia thực hiện quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp mà không có bất kì sự can thiệp nào từ bên ngoài, thông qua những
quyết định về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng phải trên cơ sở ý
chí chủ quyền của nhân dân. Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của một quốc gia
thể hiện qua quyền tự quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia không có sự
áp đặt từ chủ thể khác, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng
đồng quốc tế.
Bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia là nền tảng của quan hệ quốc tế hiện
đại. Trật tự quốc tế chỉ có thể được duy trì nếu các quyền bình đẳng của các quốc gia
tham gia trật tự đo được hoàn toàn đảm bảo. Hiến chương Liên hợp quốc đã lấy
nguyên tắc này làm cơ sở cho hoạt động của mình: “Tổ chức Liên hợp quốc dựa trên
nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên” (khoản 1 Điều
2). Nguyên tắc này là nền tảng quan trọng nhất của toàn bộ hệ thống các nguyên tắc
của luật quốc tế hiện đại. Nó được ghi nhận trong điều lệ của các tổ chức thuộc hệ
thống Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu
vực, trong nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương và trong nhiều văn bản
quốc tế quan trọng của các hội nghị và tổ chức quốc tế.
Bình đẳng về chủ quyền của quốc gia bao gồm các nội dung chính sau:
a. Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý
b. Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ
thành một quy tắc mới trong luật quốc tế. Quy tắc này cho phép có sự can thiệp quân
sự vào một quốc gia có chủ quyền nếu mục đích là để bảo vệ dân thường. Sự gia tăng
về số lượng của các cuộc can thiệp nhân đạo trong vài thập kỉ qua đã trở thành thách
thức đối với quan niệm bất khả xâm phạm của chủ quyền quốc gia. Điều vốn được
xem là quyền tuyệt đối để một quốc gia cai trị trong phạm vi lãnh thổ nước mình đã
dần dần bị xói mòn bởi tư tưởng những chính sách vi phạm nhân quyền của chính phủ
đó sẽ bị cộng đồng thế giới lên án và có thể can thiệp, thậm chí là bằng bạo lực. Cụ
thể là trong trường hợp của Kosovo, lực lượng NATO đã làm việc không phải phận sự
của mình. NATO đã tấn công Nam Tư mà không được sự chấp thuận của Liên hợp
quốc, cơ quan quốc tế duy nhất có quyền đưa ra những quyết định can thiệp quân sự
vào một quốc gia. Như vậy, NATO đã vi phạm một cách nghiêm trọng nguyên tắc tôn
10
trọng chủ quyền quốc gia. Không một lý lẽ nào có thể bào chữa, che đậy được tính
chất phi nghĩa và bất hợp pháp của cuộc tấn công này. Như lời Bộ trưởng Ngoại giao
khi đó là ông I.Ivanov, hành động của NATO với “tất cả những hậu quả có thể của
nó” đã vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và các nghị quyết của Hội đồng bảo an
Liên hợp quốc đối với khu vực Balkan. Còn Tổng Thư ký Liên hợp quốc khi đó, ông
Kofi Annan đã tỏ ý lấy làm tiếc về hành động quân sự của NATO và khẳng định, mọi
quyết định về sử dụng vũ lực phải được Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc chuẩn y.
Trong cuộc chiến ở Nam Tư, NATO đã tự đứng ra đảm nhiệm chức năng vừa
là quan tòa, vừa là giám khảo và vừa là người trừng phạt. Ngang nhiên mở một cuộc
tấn công vào lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền như Nam Tư, NATO đã chính
thức phát đi một thông điệp rằng, họ có quyền áp đặt những quan điểm của mình,
không phải thông qua các sáng kiến chính trị mà là bằng sức mạnh quân sự, kể cả khi
không được phép của HĐBA LHQ. Với mục đích nhân đạo mà NATO đã tấn công
Nam Tư, tuy nhiên cuộc chiến tranh phi nghĩa NATO dựng lên mới thực sự gây ra
thảm họa nhân đạo ở quốc gia này với một sự tàn phá khủng khiếp khiến hàng trăm
ngàn người phải đi tị nạn và một “khu vực trắng” các điều kiện tối thiểu phục vụ cho
cuộc sống con người.
Có thể thấy, cuộc chiến tranh ở Nam Tư do NATO tiến hành đã đi ngược lại và
NATO được thông qua tại dịp kỷ niệm 50 thành lập tổ chức này ở Washington (Mỹ).
Trên thực tế, “Học thuyết can thiệp nhân đạo” đã từng được Mỹ thử nghiệm rất
lâu trước năm 1999. Trong số nhiều cuộc chiến tranh và hành động quân sự mà Mỹ
thực hiện trên thế giới sau khi ra đời Hiến chương Liên hợp quốc, có thể kế đến những
hoạt động quân sự của họ ở Grê-na-đa, Pa-na-ma, sau này, ở Nam Tư và Iraq.
Với trường hợp Kosovo, năm 1999, chiến dịch không quân của NATO tiến
công Nam Tư được tiến hành dưới danh nghĩa ngăn chặn cái gọi là “thảm họa nhân
đạo”. Trong chiến dịch này, phía NATO chỉ nói đến tình trạng của người Albanie mà
không để ý đến tình trạng khốn đốn không kém của người Serbia. Nếu xét trên
phương diện lịch sử, ta có thể dễ dàng nhận thấy người Albanie chiếm đa số còn
người Serbia chiếm thiểu số trong thành phần dân tộc ở Kosovo. Chiêu bài “nhân
đạo” của Mỹ dùng ở đây lại đi ngược lại với lợi ích chung của nhân loại, là một hành
động càng làm lớn mạnh học thuyết “cá lớn nuốt cá bé” mà Mỹ theo đuổi. Chính tại
12
Hội nghị thượng đỉnh của NATO tổ chức ở Mỹ tháng 5-1999 đã thông qua “Chiến
lược quân sự mới” của NATO, trong đó đưa ra luận điểm mới về quyền của Liên minh
này thực hiện các chiến dịch “can thiệp nhân đạo” trên toàn thế giới, mà không cần
được phép của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Trong “Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ” năm 2002 có ghi rõ quyền tiến
công phủ đầu nhằm chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Đến năm 2005, chiến lược này
được bổ sung thêm nội dung cho rằng, chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống chủ
nghĩa khủng bố chỉ có thể đạt được trong điều kiện phải lật đổ chế độ cầm quyền ở
nhiều nước “có liên quan tới khủng bố” như Iran, Syrie, Kiêc-ghi-di-a, U-dơ-bê-ki-
xtan và Bê-la-ru-xi-a v.v. Lập luận được đưa ra là: để “viện trợ nhân đạo” có hiệu quả,
phải vi phạm chủ quyền quốc gia các nước(!?).
Với chiêu bài “nhân đạo”, Mỹ cùng NATO đã vi phạm nghiêm trọng nguyên
tắc của LHQ cũng như của Luật quốc tế về việc không can thiệp vào công việc nội bộ
của nước khác. Hơn thế nữa, hậu quả của cuộc chiến vẫn đeo bám những người dân
vô tội tại Kosovo, đẩy mâu thuẫn sắc tộc ngày càng dâng cao, gây ra bất ổn trong khu
vực vốn đã chứa nhiều mâu thuẫn này. Việc vi phạm trắng trợn nguyên tắc của LHQ
các điều kiện không bình đẳng, nhằm thực hiện mưu đồ của mình. Luật quốc tế hiện
đại không thừa nhận các điều ước nô dịch, không bình đẳng, mang tính thực dân. Việc
thực hiện các nguyên tắc này là rất quan trọng, vì nó đảm bảo cho việc hợp tác giữa
các quốc gia được ổn định, việc thống nhất theo nguyên tác chung sẽ giúp tránh được
các vấn đề mâu thuẫn do trái lập trường quan điểm vốn rất đa dạng nếu tự phát từ phía
mỗi quốc gia. Vì vậy, trong Chương II, Hiến Chương Liên Hợp Quốc cũng quy định
về các thành viên như sau:
Tại Khoản 1 Điều 4:
Tất cả các quốc gia yêu chuộng hòa bình khác thừa nhận những nghĩa vụ quy định
trong Hiến chương này, và được Liên Hiệp Quốc xét thấy có đủ khả năng và tự
nguyện làm tròn những nghĩa vụ ấy, đều có thể trở thành thành viên của Liên Hiệp
Quốc;
Điều 6:
Nếu một thành viên Liên Hiệp Quốc vi phạm một cách có hệ thống những nguyên tắc
nêu trong Hiến chương này thì có thể bị Đại Hội đồng khai trừ khỏi Liên Hiệp Quốc,
sau khi có kiến nghị của Hội đồng Bảo an.
14
Khoản 6 Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định:
“ Liên Hiệp Quốc sẽ đảm bảo rằng các quốc gia không phải là Thành viên cũng hành
động theo những nguyên tắc này, nếu như điều đó là cần thiết để duy trì hòa bình và
an ninh thế giới.”
Ngoài ra, để giải quyết các tranh chấp đi ngược lại sự hợp tác, Liên Hợp Quốc
cũng khuyến khích các quốc gia tham gia ký kết các hiệp định khu vực và thực hiện
theo các cam kết này. Theo Chương VIII về Hiệp định khu vực, Khoản 1 và 2 Điều 52
đã quy định:
1. Không một quy định nào trong Hiến chương này cản trở sự tồn tại của những Hiệp
định hoặc những tổ chức khu vực nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến duy trì
hòa bình và an ninh quốc tế bằng những hành động có tính chất khu vực, miễn là
những hiệp định hoặc tổ chức ấy và những hoạt động của chúng phù hợp với Mục
đích và Nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
định tiếp tục mở rộng sang phía Đông càng củng cố thêm ưu thế của Mỹ trong việc
nắm vai trò chủ đạo trong khu vực châu Âu. Mỹ ra sức thuyết phục các đồng minh
NATO tán thành "Khái niệm chiến lược mới" của liên minh này và sẽ đưa khái niệm
này ra thông qua vào kỳ họp cấp cao NATO vào ngày 24 và 25/4/1999, nhân dịp kỷ
niệm 50 năm ngày ra đời của tổ chức. "Khái niệm chiến lược mới" của Mỹ nhằm biến
NATO từ một tổ chức quân sự chính trị khu vực trở thành một tổ chức chính trị quốc
tế, bao gồm hai nét chính : thứ nhất, chủ trương mở rộng phạm vi hoạt động của
NATO ra ngoài khu vực các nước thành viên, trên toàn châu Âu, thậm chí toàn cầu
"toàn cầu hoá NATO", hay biến NATO thành "sen đầm quốc tế"; thứ hai, thay đổi
nguyên tắc hoạt động từ phòng thủ đổi sang tiến công và trao cho tổ chức này một khả
năng hoạt động hoàn toàn chủ động, độc lập, không phụ thuộc vào bất cứ tổ chức hay
thiết chế quốc tế nào khác kể cả Liên Hiệp Quốc. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với
chủ trương xây dựng hợp tác hòa bình giữa các quốc gia trong Hiến chương Liên Hợp
Quốc. Tuy nhiên, cũng chính những điều kiện hội tụ khiến Mỹ và NATO đánh Nam
Tư, diễn biến của cuộc chiến tranh cũng như các mối quan hệ xung quanh nó (giữa
Mỹ và đồng minh của mình, giữa Mỹ và các nước lớn khác như Nga) lại làm bộc lộ
những giới hạn về thế và lực của Mỹ, các nước Tây Âu cũng đã lo xa mà tuyên bố với
Mỹ rằng Nam Tư không phải là tiền lệ để NATO áp dụng trong mọi trường hợp, trên
phạm vi toàn thế giới và không ủng hộ “Khái niệm chiến lược mới”… cho thấy không
16
phải Mỹ muốn làm bất cứ điều gì cũng được và thế giới cũng không phải đơn cực như
Mỹ muốn.
Như vậy, với việc vi phạm quyền tự quyết các quốc gia, việc can thiệp bằng vũ
lực, bỏ qua việc đàm phán, cam kết dựa trên các hiệp ước… NATO và đằng sau đó là
Mỹ, trong cuộc chiến Kosovo giành quyền ly khai đã trực tiếp làm trái với nguyên tắc
hợp tác phù hợp với hiến chương và đi ngược lại tinh thần của Hiến chương Liên Hợp
Quốc.
C/ KẾT LUẬN
Vấn đề ly khai của Kosovo vẫn còn đó những mâu thuẫn, bất đồng trong việc
giải quyết và công nhận chính phủ, tuy nhiên, đó là vấn đề trong nội bộ Liên bang