Báo cáo nghiên cứu khoa học " ĐỊNH ĐÔ THĂNG LONG BƯỚC TRƯỞNG THÀNH VƯỢT BẬC CỦA DÂN TỘC " - Pdf 21

ĐỊNH ĐÔ THĂNG LONG -
BƯỚC TRƯỞNG THÀNH VƯỢT BẬC CỦA DÂN TỘC

PGS.TS Vũ
Văn Quân

Kinh đô - thủ đô là trung tâm quyền lực quốc gia[1]. Quyền lực đó phải
được tập trung và lan toả. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu và hiệu quả về
quản lý và phát triển đất nước, tạo nên sự gắn kết quốc gia - dân tộc. Vì thế, chọn
lựa vị trí để dựng đặt kinh đô - thủ đô là một vấn đề lớn, có đúng đắn nhưng cũng
có sai lầm, mặt khác nữa - do tác động bởi nhiều yếu tố mang tính lịch sử, cũng
không phải là nhất thành bất biến. Cũng chính vì thế, phần lớn các quốc gia trên
thế giới, trong suốt quá trình lịch sử của mình, việc dời chuyển kinh đô - thủ đô là
chuyện bình thường. Thậm chí, đến nay, vẫn đang còn diễn ra.
Vậy đâu là đúng đắn khi chọn lựa vị trí dựng đặt kinh đô - thủ đô? Ở đây
phải giải bài toán giữa địa điểm và khả năng phát triển thành “trung tâm quyền lực
quốc gia”. Đó là sự tổng hợp của tất cả các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn
hoá. Kinh tế, xã hội, văn hoá được quy định nhiều bởi tự nhiên. Lợi thế tự nhiên
(địa hình, khí hậu, thuỷ văn) thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá. Nhưng
như thế chưa đủ - tất cả những thế mạnh này phải được đặt ở một vị trí địa lý -
không gian tối ưu nhất để, thứ nhất - cộng hưởng với yếu tố trung tâm chính trị -
hành chính quốc gia vốn được tạo ra bởi chủ quan của lực lượng cầm quyền để
phát triển và thứ hai - khả năng phủ - toả của quyền lực đó trên phạm vi toàn quốc.
Trong điều kiện thời cổ trung đại, khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, cơ sở hạ
tầng còn thấp kém, đó thường phải ở vị trí “trung tâm” - theo nghĩa “ở giữa”. Sau
này, từ thời cận đại, khi khoa học đã phát triển, cơ sở hạ tầng đã hiện đại - nhất là
trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, yêu cầu này không còn mang ý nghĩa
tiên quyết nữa.
Trên những ý nghĩa như thế, lập đô là một việc lớn, liên quan không chỉ
đến tầng lớp thống trị, mà còn quyết định đến sự an nguy của xã tắc, sự phát triển
hay tụt hậu của quốc gia - dân tộc.

của xu hướng này là cục diện mười hai sứ quân xuất hiện sau khi Ngô Quyền mất
(944), chính quyền trung ương nhà Ngô suy yếu và tan rã (965). Đó là một bất lợi
lớn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước, đến nền độc lập vừa mới
giành lại được. Bởi, chúng ta biết, hai nhiệm vụ có tính lịch sử của Việt Nam xuất
phát từ vị trí địa lý, địa hình và đặc điểm khai phá châu thổ sông Hồng là chống
ngoại xâm và trị thủy. Đó cũng chính là những nhân tố tác động đến sự ra đời của
nhà nước Văn Lang trong điều kiện phân hóa xã hội chưa cao, đồng thời là những
nhân tố luôn tác động, quy định nhiều nội dung và đặc điểm của lịch sử Việt Nam
sau nay. Cụ thể và đặc biệt là, để thực hiện hiệu quả hai nhiệm vụ đó, chính quyền
nhà nước - nhất là chính quyền trung ương phải vững mạnh, quốc gia phải thống
nhất. Vì thế, tập quyền và thống nhất quốc gia phải là yêu cầu và xu thế của lịch sử
Việt Nam. Đinh Bộ Lĩnh cờ lau dẹp loạn, lần lượt đánh dẹp các sứ quân, thống
nhất đất nước, khôi phục chính quyền trung ương đánh dấu một thành tựu, một
bước trưởng thành trên “con đường dân tộc” của dân tộc Việt Nam, khẳng định sự
thắng thế của yêu cầu và xu hướng tập quyền và thống nhất đất nước.
Thứ ba, thế kỷ X, dù phải tập trung cao độ nỗ lực vào việc thực hiện các
nhiệm vụ trên, nhưng cũng là thế kỷ bước đầu của công cuộc dựng xây đất nước.
Thể chế nhà nước từng bước được xây dựng quy củ - trong đó rất đáng chú ý là
những cải cách trên phương diện hành chính - tổ chức lại hệ thống chính quyền địa
phương. Kinh tế có bước tiến nhất định, với nhiều sông ngòi được khai thông,
đường sá được mở mang, vua đi cày ruộng tịch điền (Lê Hoàn) để khuyến khích
chăm lo nông nghiệp… Văn hoá, bên cạnh phần lớn bình dân - dân giã - dân gian,
ngày càng đông đảo tầng lớp sư tăng - trí thức uyên bác và lịch lãm…
Tóm lại, thế kỷ X với quá nhiều các hoạt động quân sự để giành và giữ nền
độc lập dân tộc, để khắc phục khuynh hướng phân tán cát cứ đã kết thúc với sự
khẳng định vững chắc nền độc lập dân tộc, với sự thắng thế của xu hướng tập
quyền và thống nhất quốc gia. Thành tựu đó là cộng dồn của cả một thế kỷ cha
ông ta nỗ lực không ngừng, của đóng góp của họ Khúc, họ Dương, của các nhà
Ngô, Đinh, Tiền Lê. Nó là bằng chứng về bước trưởng thành vượt bậc của lực
lượng dân tộc, làm tiền đề cho cuộc bứt phá vĩ đại, mà sự kiện dời đô vừa như một

Thăng Long - Hà Nội qua Chiếu dời đô: “… Huống chi thành Đại La, đô cũ của
Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam
bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng,
thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi
tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu
của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi mãi muôn đời…”[5]. Từ cảm
nhận tự nhiên (Lý Bí) đến nhận thức khoa học (Lý Công Uẩn) là một bước tiến,
bước trưởng thành quan trọng của người Việt Nam trong nhận thức về vị thế của
vùng đất Thăng Long - Hà Nội này.
3. Trưởng thành về tư duy quản lý đất nước
Đó là tư duy cầm quyền dựa trên quan điểm phát triển, lấy phát triển để tạo
ra khả năng phòng thủ. Kinh đô - thủ đô là trung tâm quyền lực của đất nước, là
trung tâm chính trị, hành chính quốc gia. Trong điều kiện đặc thù của Việt Nam
với hai nhiệm vụ lịch sử mang tính hằng xuyên là chống ngoại xâm và trị thuỷ
luôn đòi hỏi một thiết chế chính trị tập quyền cao với một chính quyền nhà nước
trung ương mạnh và trạng thái quốc gia thống nhất thì vai trò của kinh đô - thủ đô
lại càng đặc biệt quan trọng. Vấn đề ở đây là phải giải bài toán giữa mục tiêu đảm
bảo an ninh với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá. Có khi hy sinh cái
này để đảm bảo cái kia và ngược lại.
Trên một ý nghĩa nhất định, hai nhà Đinh - Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư là sự
lựa chọn ưu tiên cho mục tiêu an ninh vì Hoa Lư ở vào địa thế hiểm yếu, khả năng
phòng thủ tốt. Đó có thể coi là lựa chọn “không thể khác” trong bối cảnh bấy
giờ[6]. Trong điều kiện một chính quyền - nhất là chính quyền trung ương chưa
thực sự vững mạnh, nguy cơ xâm lăng từ phương Bắc và sự trỗi dậy của các thế
lực cát cứ luôn tiềm ẩn thì việc chọn Hoa Lư làm kinh đô của hai nhà Đinh và
Tiền Lê có thể coi là hợp lý. Hoa Lư dù không thật cô lập do vẫn có hệ thống giao
thông - nhất là đường thủy thông với bên ngoài, nhưng có địa thế hiểm trở. Đóng
đô ở Hoa Lư là một sự lựa chọn đảm bảo an toàn hơn cho chính quyền trung ương
trong những điều kiện như thế[7]. Nhưng Hoa Lư không thuận lợi về vị trí, về điều
kiện tự nhiên để phát triển thành trung tâm kinh tế, văn hoá số một của đất nước.

phá các căn cứ xâm lăng của Tống (ở Khâm Châu, Liêm Châu và nhất là thành
Ung Châu) và, đặc biệt, bảo vệ an toàn trọn vẹn cho kinh thành bằng phòng tuyến
sông Như Nguyệt - kỳ tích mà các triều đại về sau hầu như không thực hiện được.
Rõ ràng, sức mạnh của quốc gia, của kinh đô đã là một nhân tố mang ý nghĩa
quyết định đến khả năng phòng thủ vững chắc của đất nước, của kinh đô trước
xâm lược ngoại bang mà cuộc kháng chiến chống Tống ở cuối thế kỷ XI là một ví
dụ sinh động - cũng là bằng chứng sinh động về giải quyết mối quan hệ giữa phát
triển với an ninh - quốc phòng.
4. Trưởng thành về trách nhiệm
Một thực tế phải thừa nhận là, sự ra đời của vương triều Lý, định đô Thăng
Long - mốc mở đầu cho thời kỳ phát triển rực rỡ của quốc gia Đại Cồ Việt - Đại
Việt, là dựa trên những tiền đề được tạo ra trong suốt một thế kỷ nỗ lực phấn đấu
không mệt mỏi của cha ông ta. Lý Công Uẩn dời đô là dựa trên cơ sở của những
thành tựu, của sự lớn mạnh lực lượng dân tộc ấy kết hợp với nhận thức sáng suốt về
vị thế của vùng đất này và tư duy cầm quyền - quản lý đất nước khoa học của ông
và rộng ra là của người Việt Nam lúc này. Nhưng còn một khía cạnh nữa để góp
thành một nhân tố làm nên sự kiện lịch sử lớn lao này - đó là trách nhiệm của Lý
Công Uẩn, cũng như cả triều đình Hoa Lư bấy giờ trước sự hưng thịnh của đất
nước.
Trách nhiệm đó thể hiện ở sự trăn trở của Lý Công Uẩn trước quyết định dời
đô: “Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành
Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng
bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu
muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên
vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng,
coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương, Chu, cứ chịu yên đóng đô
nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật
không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời”[8].
Trách nhiệm đó thể hiện ở sự sẵn sàng trước những bất lợi của vùng đất
thành Đại La. Trong Chiếu dời đô chỉ thấy Lý Công Uẩn phân tích về những lợi

[4] Việt sử lược, bản dịch của Trần Quốc Vượng, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội,1959,
tr. 37.
[5] Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Nxb KHXH, Hà Nội, 1998, tập I, tr. 241.
[6] Việc nhà Đinh và nhà Tiền Lê lựa chọn Hoa Lư làm kinh đô là điều có thể giải
thích được trong bối cảnh:
- Trước hết, phải thừa nhận một thực tế, dưới thời họ Khúc, họ Dương và các triều
Ngô, Đinh, Tiền Lê chính quyền nói chung - nhất là chính quyền trung ương chưa
thực sự vững mạnh. Họ Khúc, họ Dương vẫn cơ bản sử dụng mô hình tổ chức và
bộ máy cai trị dưới thời thuộc Đường. Các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê tuy có nhiều
nỗ lực trong việc thiết lập một mô hình tổ chức và bộ máy cai trị mang tính tập
quyền nhưng trên thực tế chưa thực sự có hiệu quả.
- Trong khi đó, xâm lược của phong kiến phương Bắc nhằm tái áp đặt ách đô hộ
diễn ra liên tục trong thế kỷ X. Tính từ ngày Khúc Thừa Dụ xưng nền tự chủ
(905), trong thế kỷ X đã ít nhất ba lần phong kiến Trung Hoa tiến hành chiến tranh
xâm lược: hai cuộc xâm lược của nhà Nam Hán vào các năm 930 và 938 và đặc
biệt là cuộc xâm lược của nhà Tống vào năm 981.
- Đồng thời với nguy cơ xâm lược của phong kiến phương Bắc là sự trỗi dậy của
các thế lực cát cứ. Đỉnh điểm của xu hướng này là cục diện mười hai sứ quân xuất
hiện sau khi Ngô Quyền mất, chính quyền trung ương nhà Ngô suy yếu.
[7]Cùng với việc lựa chọn Hoa Lư với địa thế hiểm trở, để bảo vệ chính quyền
trung ương trước sự tấn công của phong kiến phương Bắc và của các thế lực cát cứ
chống đối trong nước, các nhà nước Đinh, Tiền Lê áp dụng các biện pháp cai trị
rất khắt khe cũng như đặc biệt tăng cường quân đội. Sử chép đến những hình phạt
khốc liệt được áp dụng dưới hai triều Đinh, Tiền Lê như đặt vạc dầu, nuôi hổ đói
để xử tử người có tội…; quân đội dưới thời Đinh đông tới một triệu người (?).
[8]Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Sđd, tr. 241.
[9]Thế kỷ X có ít nhất 5 hoạt động quân sự lớn liên quan đến cuộc đấu tranh giành
và bảo vệ nên độc lập dân tộc: khởi nghĩa chống Đường năm 905, xâm lược của
Nam Hán năm 930, kháng chiến chống Nam Hán lần thứ nhất năm 931, kháng
chiến chống Nam Hán lần thứ hai năm 938, kháng chiến chống Tống lần thứ nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status