Luận Văn Nghiên cứu quy trình cấp giấy chứng nhận trên địa bàn Huyện Cao Lãnh theo luật đất đai 2003 - Pdf 21

MỞ ĐẦU
Ngày nay, đất đai có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Đất đai là tư liệu sản xuất trực tiếp của nền kinh tế nông - lâm -
ngư nghiệp là địa bàn để phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ, là nhu cầu
cần thiết cho sinh hoạt của con người. Hệ thống quản lý đất đai chặt chẻ và chính
sách đất đai phù hợp sẽ tác động tích cực trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất
đai. Vì thế Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, các quy phạm pháp luật để
quản lý sử dụng đất đai một cách có hiệu quả.
Hiện nay, với nền kinh tế thị trường năng động, đất đai đối với người sử
dụng được coi là một tài sản đặc biệt, thực tế thị trường đất đai đã hình thành cho
nên để sử dụng nguồn tài nguyên đất đai có hiệu quả, không lãng phí và phân
phối đất đai một cách phù hợp cho người sử dụng là vấn đề quan tâm của Chính
phủ. Trong đó việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong
7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai (Luật Đất đai 1993) và 13 nội dung quản
lý Nhà nước về đất đai (Luật Đất đai 2003).
Chính tầm quan trọng này, Luật Đất đai 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-
CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai đã quy
định cụ thể vai trò và trách nhiệm của các cấp hành chính trong việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất .
Mặt khác, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định sẽ
giải quyết được những vấn đề nhạy cảm của xã hội về việc tranh chấp đất đai,
tình trạng không ổn định về quản lý và sử dụng đất đai.
Xuất phát từ những vấn đề trên và được sự đồng ý của Văn phòng Đăng ký
Quyền sử dụng đất huyện Cao Lãnh, cũng như theo sự phân công của Ban Giám
hiệu Trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long, Khoa Nông nghiệp ( Ngành Quản
lý Đất đai) và thầy cô bộ môn đã cho chúng tôi tìm hiểu thực tế và thực hiện đề
tài “Nghiên cứu quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Văn phòng
Đăng ký Quyền sử dụng đất năm 2008” vừa qua.
Do đó đề tài “Nghiên cứu quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của huyện Cao Lãnh trên cơ sở Luật Đất đai 2003” được thực hiện nhằm
mục đích:

19

00
’’
đến 10
0
40’ 40” độ vĩ Bắc, từ 105
0
33’ 25” đến 105
0
49’ 00” độ
kinh Đông. Huyện Cao Lãnh có hệ thống đường thủy dài 170 km gồm sông Tiền,
sông Cần Lố, các kênh đào Nguyễn Văn Tiếp, An Phong - Mỹ Hoà, An Long và
nhiều sông rạch nhỏ; đường bộ dài 464 km, đặc biệt có 36 km đường Quốc lộ 30
là cửa ngõ quan trọng của tỉnh đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu
vực. Nằm ở phía Bắc sông Tiền, phía Đông giáp huyện Cái Bè (tỉnh Tiền Giang)
và huyện Tháp Mười, phía Tây giáp thành phố Cao Lãnh, huyện Thanh Bình và
Tam Nông, phía Bắc giáp huyện Tháp Mười, phía Nam giáp sông Tiền (thị xã Sa
Đéc và huyện Lấp Vò).
1.1.2 Diện tích và dân số
Huyện Cao Lãnh có diện tích là 491 km
2


dân số khoảng 206.200 người
gồm 18 đơn vị hành chính (17 xã và 1 thị trấn):
Tên xã, thị trấn Dân Số (Người) Diện Tích (Km
2
)
TT Mỹ Thọ 13.749 8,8

truyền thống (dệt chiếu, thảm lục bình, làm bột, bánh tráng), các cơ sở chế biến
lương thực, giá trị sản xuất năm 2006 đạt 248.239 triệu đồng; cụm công nghiệp
Cần Lố và Phong Mỹ đã bàn giao mặt bằng cho các doanh nghiệp, dự án khu
công nghiệp xã Ba Sao cũng đang được tỉnh thông qua và tiến hành thành lập;
cầu Sông Cái Nhỏ (Bình Thạnh) đang gấp rút hoàn thành; mặt đường giao thông
nông thôn hầu hết đã được trãi nhựa hoặc làm bằng bê tông cốt thép, xe 4 bánh
về đến trung tâm các xã, xe 2 bánh về đến các ấp.
Lĩnh vực thương mại - dịch vụ - du lịch phát triển nhanh và đa dạng. Hệ
thống chợ từ huyện đến xã được đầu tư, nâng cấp. Chợ đầu mối trái cây tỉnh
Đồng Tháp đặt tại xã Mỹ Hiệp đang mở rộng, thu hút lượng trái cây bình quân
150 tấn/ngày từ các nơi trong và ngoài tỉnh. Cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập
trung tại xã An Bình bảo đảm đáp ứng nhu cầu của chợ Cao Lãnh và các chợ lân
cận.
1.2 SƠ LƯỢC VỀ CƠ QUAN
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất được quyết định thành lập vào ngày
28 tháng 07 năm 2005 trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường theo Quyết
định số 2875/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Cao Lãnh.
4
Ngày đầu thành lập Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Cao
Lãnh có 06 biên chế. Gồm Giám đốc, 04 chuyên viên và 01 kế toán. Hiện nay cơ
quan hiện có 16 biên chế trong đó: Giám đốc, 01 phó Giám đốc, 06 chuyên viên,
07 cán sự, 01 kế toán phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai cũng như
nguồn tài nguyên và môi trường trên địa bàn của huyện.
Được sự quan tâm lãnh đạo của Ủy ban nhân dân huyện nên Văn phòng
Đăng ký Quyền sử dụng đất cũng như Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện
Cao Lãnh là một trong những cơ quan hoạt động rất có hịệu quả trong công tác
quản lý và tạo được lòng tin trong nhân dân.
1.2.1 Cơ cấu nhân sự
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và
Môi trường được chia thành các tổ và bộ phận như sau:

do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh gởi tới, hướng dẫn và kiểm
tra việc lưu trữ, quản lý và chỉnh lý toàn bộ bản sao hồ sơ địa chính của Ủy ban
nhân dân các xã, thị trấn.
- Cung cấp số liệu địa chính cho cơ quan chức năng xác định mức thu tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất, các loại thuế có liên quan đến đất đối với người sử
dụng đất là hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà
ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở, cộng đồng dân cư.
- Lưu trữ, quản lý bản sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
các giấy tờ khác về thủ tục hành chính trong công tác quản lý Nhà nước về đất
đai.
- Thực hiện trích đo địa chính thửa đất, thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản
đồ hiện trạng sử dụng đất cấp huyện và cấp xã.
- Thực hiện việc thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật thực hiện các
dịch vụ có thu phí về cung cấp thông tin, trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ
sơ địa chính.
- Quản lý viên chức, người lao động và tài chính, tài sản thuộc Văn phòng
theo quy định của pháp luật
- Thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hiện hành
- Thực hiện các nhiệm vụ do Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường giao
1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LUẬT ĐẤT ĐAI.
Đất đai luôn được coi là tài nguyên vô giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
xây dựng các khu kinh tế, văn hóa, xã hội và củng cố an ninh quốc phòng. Đất
đai là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền
quốc gia, không thể có quan niệm về quốc gia không có đất đai, tôn trọng chủ
quyền quốc gia trước hết phải tôn trọng lãnh thổ quốc gia.
Rõ ràng đất đai có vai trò hết sức quan trọng, chính vì vậy các cuộc cách
mạng trong lịch sử điều lấy đất đai là đối tượng, coi đó là nhiệm vụ cần giải
quyết hàng đầu.
Ngay từ khi ra đời vào ngày 03 tháng 02 năm 1930, trong cương lĩnh của

Từ đây, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất và tuyệt đối với đất đai, có đầy đủ
3 quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt số phận pháp
lý của đất đai. Các tổ chức và cá nhân với tư cách là người sử dụng đất của Nhà
nước, thực hiện một cách trực tiếp quyền chiếm hữu và sử dụng đất đai.
Mối quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là người sở hữu và thống nhất quản
lý toàn bộ đất đai trong cả nước, người thực hiện các ý đồ quy hoạch và kế hoạch
của Nhà nước. Các mối quan hệ đó làm hình thành, làm thay đổi hay làm chấm
dứt quan hệ pháp luật đất đai mà chủ sở hữu Nhà nước vẫn không thay đổi.
Để cụ thể hoá các Điều 19 và Điều 20 Hiến pháp 1980 ngày 29 tháng 12
năm 1987 Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua
toàn văn Luật Đất đai và được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký sắc lệnh công bố
ngày 08 tháng 01 năm 1988 (còn gọi là Luật Đất Đai 1988). Đây là Luật Đất đai
đầu tiên của nước ta, tiếp tục phát huy thành quả cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cách mạng mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được, phù hợp với cơ chế
kinh tế của Nhà nước ta trong giai đoạn này – cơ chế Nhà nước bao cấp. chính vì
vậy Luật Đất đai 1988 không quy định giá đất, không quy định 6 quyền như Luật
Đất đai hiện hành .
Điều 49 Luật Đất đai 1988 quy định người sử dụng đất có quyền “được
hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao, được quyền chuyển
nhượng, bán nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm mà người sử dụng đất có
được một cách hợp pháp trên đất được giao”
Tuy nhiên, Luật phải phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và từng thời kỳ
phát triển kinh tế của đất nước. Đầu những năm 1990, nền kinh tế bao cấp không
còn phù hợp với nước ta, vì vậy Quốc hội quyết định sữa đổi Hiến pháp năm
1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới. Ngày 15 tháng 04 năm
1992, Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Hiến
pháp. Điều 15 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức
tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập

lực thi hành ngày 01 tháng 07 năm 2004 .
 Phân loại đất:
Dựa vào mục đích sử dụng chủ yếu, đất đai được phân loại như sau:
a) Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất:
- Đất trồng lúa.
- Đất cỏ dùng vào chăn nuôi.
- Đất trồng cây hàng năm khác.
- Đất trồng cây lâu năm.
- Đất rừng sản xuất.
- Đất rừng phòng hộ.
- Đất rừng đặc dụng.
- Đất nuôi trồng thủy sản
- Đất làm muối.
- Đất nông nghiệp khác
b)Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất:
- Đất ở tại nông thôn.
- Đất ở tại đô thi.
- Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp của Nhà nước.
- Đất trụ sở khác.
- Đất quốc phòng.
- Đất an ninh.
- Đất khu công nghiệp.
- Đất sản xuất, kinh doanh .
- Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản.
- Đất sản xuất vật liệu, gốm sứ
- Đất giao thông.
- Đất thủy lợi.
- Đất công trình năng lượng.
- Đất công trình bưu chính viễn thông.
- Đất cơ sở văn hóa.

- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoạt động Nhà nước đối với
đất đai.
1.5 CÁC QUY ĐỊNH CHUNG VỀ VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.5.1 Mục đích yêu cầu
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đạt được mục đích và
yêu cầu sau đây:
- Xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ
- Nhà nước tiến hành các biện pháp quản lý Nhà nước đối với đất đai.
Người sử dụng đất an tâm sử dụng tối đa mọi tiềm năng của đất đai.
- Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để Nhà nước nắm
chắc tài nguyên đất đai và sử dụng đất hiệu quả và chấp hành đúng pháp luật đất
đai
- Việc viết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đảm bảo các yêu cầu cơ
bản sau:
+ Thể hiện đầy đủ, đúng quy cách các nội dung của giấy chứng nhận.
+ Các nội dung viết giấy phải chính xác, thống nhất với đơn đăng ký đã
được duyệt và quyết định cấp giấy chứng nhận, sổ địa chính.
+ Trên trang 2 của giấy chứng nhận chỉ viết một kiểu chữ, một loại mực
theo ngôn ngữ tiếng việt, chữ viết rõ ràng, không sửa chữa .
1.5.2 Đối tượng
Mọi người sử dụng đất đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trừ các trường hợp sau:
- Đất do Nhà nước giao để quản lý quy định tại Điều 3 của Nghị định
181/2004/NĐ-CP
- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích do Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn quản lý sử dụng

nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa
phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm
muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay
được Ủy ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người sử dụng đất ổn định,
không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không
phải nộp tiền sử dụng đất.
- Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định
tại khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước
ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân xã, thị trấn xác nhận là
đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt
đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
- Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của
Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của
pháp luật.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định
tại khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10
năm 1993 đến trước ngày Luật có hiệu lực thi hành, nay được Ủy ban nhân dân
xã, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng
đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của
Chính phủ.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật có hiệu lực thi hành mà
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực
hiện thực hiện theo quy định của pháp luật.

dụng đất, thửa đất được quyền sử dụng, tài sản gắn liền với đất, ghi chú.
- Trang 3 được in chữ, in hình hoặc viết chữ, vẽ hình màu đen gồm sơ
đồ thửa đất, ngày tháng năm ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chức vụ,
họ tên của người ký giấy chứng nhận, chữ ký của người ký giấy chứng nhận và
dấu của cơ quan cấp giấy chứng nhận, số vào sổ cấp giấy chứng nhận
c) Trang 4 màu trắng in bảng, in chữ hoặc viết chữ màu đen để ghi
những thay đổi về sử dụng đất sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trường hợp trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hết chỗ
ghi thì lập trang bổ sung. Trang bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có
kích thước, nội dung như trang 4, in hoặc viết thêm số hiệu thửa đất, số phát
hành giấy chứng nhận và số vào sổ cấp giấy chứng nhận ở trên cùng của trang;
trang bổ sung phải được đánh số thứ tự và đóng dấu giáp lai với trang 4 của giấy
chứng nhận;
d) Nội dung quy định tại các điểm a, b và c được thể hiện cụ thể trên
Mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban hành kèm theo Quyết định này.
2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp theo từng thửa đất gồm hai bản,
một bản cấp cho người sử dụng đất và một bản lưu tại Văn phòng Đăng ký
Quyền sử dụng đất của cơ quan Tài nguyên và Môi trường trực thuộc Uỷ ban
nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
1.5.6 Nội dung viết trên giấy chứng quyền sử dụng đất.
- Tên cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
ghi phía dưới dòng chữ ỦY BAN NHÂN DÂN cấp trên trực tiếp.
- Tên người sử dụng đất.
+ Tên người sử dụng đất là cá nhân thì ghi “Ông” (hoặc “Bà”), sau đó
ghi họ, tên, năm sinh, số chứng minh nhân dân, ngày và nơi cấp giấy chứng minh
nhân dân, địa chỉ nơi thường trú của người sử dụng đất.
+ Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì ghi
họ, tên, năm sinh và số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi
thường trú của vợ và chồng.
+ Người sử dụng đất là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua

+ Trường hợp không thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì thông báo cho Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất và Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn nơi có đất
+ Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thu hồi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp giấy của Uỷ ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm
b khoản 2 Điều 42 Nghị định 181/2004/NĐ-CP
- Trường hợp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử
dụng đất ổn định được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì việc thu hồi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết
định của Toà án nhân dân đã được thi hành trừ trường hợp quy định tại khoản 2
Điều 42 Nghị định 181/2004/NĐ-CP
1.6 ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT,
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT TRƯỚC PHÁP
LUẬT
1.6.1 Đăng ký quyền sử dụng đất
- Đăng ký quyền sử dụng đất gồm đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu và
đăng ký biến động về sử dụng đất.
- Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu được thực hiện trong các trường hợp sau:
+ Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng;
+ Người đang sử dụng đất mà thửa đất đó chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
- Đăng ký biến động về sử dụng đất được thực hiện đối với người sử dụng
thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà có thay đổi về việc
sử dụng đất trong các trường hợp sau:
+ Người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh,
góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
+ Người sử dụng đất được phép đổi tên.
+ Có thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất.

- Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan.
- Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất.
- Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn
sử dụng đất.
1.6.4 Người chịu trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất
- Người đại diện cho cộng đồng dân cư là người chịu trách nhiệm trước Nhà
nước đối với việc sử dụng đất đã giao cho cộng đồng dân cư.
- Chủ hộ gia đình là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử
dụng đất của hộ gia đình.
- Cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài chịu
trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất của mình.
- Người đại diện cho những người sử dụng đất mà có quyền sử dụng chung
thửa đất là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất đó.
1.7 CÁC TRƯỜNG HỢP CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT
1.7.1 Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho hộ gia đình, cá nhân
trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao
Điều 45 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 quy
định như sau:
- Diện tích đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất trước ngày Nghị định 181/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi được
xác định theo quy định sau:
+ Diện tích đất ở là diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
cấp
+ Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng
đất từ đất vườn, ao sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định
tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 87 của Luật Đất đai, khoản 2 và khoản 3 Điều 80
của Nghị định 181/2004/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử
dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại

các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với phần diện tích đất không có giấy tờ khi có đủ các điều kiện
sau:
+ Đất không có tranh chấp
+ Đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư
nông thôn được xét duyệt; trường hợp đất được sử dụng sau thời điểm quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy
hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt thì phải phù hợp với quy
hoạch hoặc kế hoạch đó. Thời điểm sử dụng đất do Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn nơi có đất xác nhận.
+ Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày
01 tháng 07 năm 2004 thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ
về thu tiền sử dụng đất.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có
quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước,
nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý thì hộ gia đình, cá nhân đó được tiếp
tục sử dụng, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền
sử dụng đất.
1.7.3 Cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng
đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định
Dựa vào Điều 11 Nghị định 84/2007/NĐ-CP được quy định như sau
- Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa
kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất hoặc nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
(sau đây gọi là người nhận chuyển quyền) trước ngày 01 tháng 07 năm 2004 mà
chưa được cấp giấy chứng nhận nhưng có giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng
đất có chữ ký của bên chuyển quyền (không có xác nhận của cơ quan có thẩm
quyền về việc chuyển quyền) thì không phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sử
dụng đất, người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận theo quy
định tại khoản 1 Điều 135 hoặc khoản 1 Điều 136 Nghị định số 181/2004/NĐ-

Trường hợp có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng Đăng ký
Quyền sử dụng đất hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Luật Đất
đai.
1.7.4 Cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp cá nhân sử dụng đất chết
trước khi trao Giấy chứng nhận (Điều 18 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25
tháng 5 năm 2007)
Trường hợp người đứng tên nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận chết trước
khi trao giấy chứng nhận thì Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất có trách
nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện để hủy giấy chứng nhận đã ký và
thông báo cho người được thừa kế bổ sung hồ sơ theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 151 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP để được cấp giấy chứng nhận.
1.7.5 Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp có sự chênh lệch giữa số liệu
diện tích đo đạc thực tế với số liệu diện tích đã ghi trên giấy tờ về quyền sử
dụng đất
- Trường hợp số liệu đo đạc thực tế theo đúng quy phạm kỹ thuật về đo đạc
địa chính mà diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích đã ghi trên giấy tờ về quyền sử
dụng đất thì giấy chứng nhận được cấp theo số liệu diện tích đo đạc thực tế;
người sử dụng đất không được truy nhận số tiền sử dụng đất đã nộp (nếu có) đối

Trích đoạn PHƯƠNG TIỆN Những thay đổi giữa quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai 2003 so với Luật Đấi đai CỤ THỂ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status