ĐỀ TÀI
“Một số giải pháp tăng cường thu hút
đầu tư trực tiếp (FDI ) nhằm hình
thành và phát triển các KCN tập trung
trên địa bàn tỉnh Hưng Yên ” Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
LỜI NÓI ĐẦU
Để thực hiện sự nghiệp Công Nghiệp Hoá_Hiện Đại Hoá đất nước,Việt
Nam cần phải có một lượng vốn đầu tư vượt ra ngoài khả năng tự cung cấp.
Trong khi các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và tài trợ của các tổ chức
quốc tế đều có hạn thì việc đa dạng hoá các hình thức thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài là rất cần thiết .
Trên thế giới cũng như trong khu vực đã và đang áp dụng nhiều hình
thức thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.Trong đó mô hình KCN tập
trung được thừa nhận là có hiệu quả và đang được áp dụng. Ngoài khả năng
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mô hình này còn là giải pháp quan
trọng về công nghệ, kinh nghiệm quản lý để thực hiện Công Nghiệp
Hoá_Hiện Đại Hoá đất nước.
giáo và bạn đọc. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện :Trần Bảo Sơn
Giáo viên hướng dẫn:
CHƯƠNG I : NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ KCN
TẬP TRUNG.
2
I >Khái niệm chung về KCN tập trung:
1). Khái niệm KCN tập trung:
Trên thế giới, KCN tập trung được hiểu là khu tập trung các Doanh
Nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ công nghiệp
phục vụ cho hoạt động sản xuất trong khu.
Theo quy chế KCN, KCX, KCN Chính ban hành ngày24/4/1997 của
chính phủ, KCN tập trung là khu tập trung các Doanh Nghiệp Công Nghiệp
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất
công nghiệp, có gianh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống do
chính phủ hoặc Thủ Tướng chính phủ quyết định thành lập .Trong KCN tập
trung có thể có Doanh Nghiệp chế xuất.
Như vậy, có thể hiểu KCN tập trung là một quần thể liên hoàn các xí
nghiệp công nghiệp xây dựng trên một vùng có điều kiện thuận lợi về các
ngoài và bên Việt Nam ).
+Doanh Nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% foreing Capital
Enteprise)
Doanh Nghiệp 100% là Doanh Nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của
các tổ chức, cá nhân nước ngoài do họ thành lập và quản lý, tự chịu trách
nhiệm về kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh.
+Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual Business Cooperation).
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều
bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh tại Việt
Nam trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho
mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới. Thời hạn cần thiết của hợp
đồng hợp tác kinh doanh do các bên hợp tác thoả thuận phù hợp với tính
chất, mục tiêu kinh doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh được người có
thẩm quyền của các bên hợp doanh ký.
Ngoài các Doanh Nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN còn có
các Doanh Nghiệp Việt Nam với nhiều hình thức …
4
+ Công Ty phát triển hạ tầng KCN là Doanh Nghiệp Việt Nam thuộc
các thành phần kinh tế trong nước hoặc Doanh Nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đầu tư xây dựng kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng KCN .
+ Ban quản lý KCN địa phương : là cơ quan trực tiếp quản lý KCN có
trách nhiệm quản lý các công ty phát triển hạ tầng KCN và các Doanh
Nghiệp theo điều lệ quản lý KCN .
3).Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và việc hình thành các KCN tập
trung.
Để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, mỗi quốc gia cần phải có một
môi trường đầu tư thuận lợi bao gồm môi trường pháp lý và môi trường kinh
doanh:
+ Môi trường pháp lý : Nếu như sự ổn định về chính trị trong nước
nghiệp sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho quản lý nhà nước như kịp thời nắm
bắt tình hình kịp thời xử lý các vụ việc phát sinh …Những xí nghiệp quy
mô lớn với khả năng cạnh tranh của nó có thể tồn tại riêng biệt trên một địa
điểm nhất định. Còn xí nghiệp vừa và nhỏ muốn hoạt động có hiệu quả cần
được quy tụ về một khu vực nhất định nơi đã có sẵn sơ sở hạ tầng và dịch vụ
,có sẵn bộ mấy quản lý, được hưởng những thủ tục đơn giản nhanh nhạy.
Về cơ bản KCN tập trung nhằm mục tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào các ngành chế tạo, chế biến gia công xuất khẩu. Bên cạnh đó
mục tiêu quan trọng của việc hình thành KCN tập trung là để tăng hiệu quả
vốn đầu tư hạ tầng. Trong KCN tập trungcác Doanh Nghiệp dùng chung các
công trình hạ tầng nên giảm bớt chi phí trên một đơn vị diện tích và đơn vị
sản phẩm, thực hiện phát triển theo một quy hoạch thống nhất kết hợp phát
triển ngành và phát triển lãnh thổ. Mặt khác việc tập trung các Doanh
Nghiệp trong KCN tập trung sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc xử lý
rác thải công nghiệp bảo vệ môi trường sinh thái nâng cao hiệu quả sử dụng
đất. Các Doanh Nghiệp công nghiệp có điều kiện thuận lợi kết hợp tác vói
nhau trao đổi công nghệ mới, nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh
tranh.
Ngoài ra KCN tập trungcòn là mô hình kinh tế năng động phù hợp với
nền kinh tế thị trường.Trong việc phát triển và quản lý các khu này các hủ
tục hành chính đang được giảm thiểu một cách tối đa thông qua cơ chế “Một
cửa ” tập trung vào ban quản lý các khu đó.Những chính sách áp dụng trong
6
KCN gắn quyền lợi và nghĩa vụ của nhà đầu tư với một hợp đồng giảm thiểu
thủ tục hành chính cùng với qui định hữu hiệu cho sản xuất kinh doanhdo đó
tạo được sự an toàn, yên tâm cho nhà đầu tư. 4). Một số vấn đề pháp lý về KCN tập trung.
và Đầu Tư, Bộ Xây Dựng, Bộ Khoa Học _Công nghệ và Môi Trường, Bộ
Công Nghiệp và Bộ Thương Mại, Ban Tổ Chức Chính Phủ, Ban Quản Lý
KCN Việt Nam và các tỉnh, thành phố nơi có KCN
Về cơ bản, quản lý Nhà Nước đối với KCN tập trung cũng có những
nội dung chủ yếu như quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Tu nhiên xét dưới góc độ quá trình hình thành và phát triển của
KCN,KCX và Doanh Nghiệp có thể chía ra làm ba giai đoạn :
+Vận động đầu tư thành lập KCN, KCX và Doanh Nghiệp trong đó :
+Thẩm định và cấp giấy phép đầu tư
+Quản lý hoạt động của KCN ,KCX sau khi đã thành lập.
KCN tập trung được quản lý theo cơ chế dịch vụ một cửa. Mục đích của
cơ chế này là giúp các Doanh Nghiệp trong KCN tập trung tránh được tệ
quan liêu,hành chính,thủ tục giấy tờ,thủ tục rườm rà…Quản lý theo cơ chế
một cửa là tạo ra một cơ quan quản lý Nhà nước có thể đứng ra giải quyết,
hoặc phối hợp với các cơ quan khác giải quyết mọi công việc liên quan đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp trong khu.
Ban quản lý KCN, KCX là cơ quan quản lý Nhà nước được Thủ tướng
chính phủ thành lập dể quản lý các KCN, KCX theo cơ chế một cửa. Ban
quản lý KCN, KCX có quyền hạn và nhiệm vụ sau :
- Xây dựng điều lệ hoạt động KCN, KCX .
- Xây dựng và tổ chức thực hiên quy hoạch chi tiết KCN, KCX.Vận
động đầu tư vào KCN, KCX .
8
- Hướng dẫn đầu tư thẩm định và cấp giấy phép đầu tư vào KCN,
KCX theo uỷ quyền.
- Theo dõi kiểm tra, thanh tra việc thực hiện giấy phép đầu tư ,hợp đồng
gia công sản phẩm ,hợp đồng cung cấp dịch vụ hợp đồng kinh doanh, các
tranh chấp kinh tế trong KCN, KCX .
- Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về lao động,kiểm tra,thanh
- Thu hút lao động.
- Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà Nước.
- Các biện pháp bảo vệ môi trường.
+Thời gian thẩm định: Nếu dự án đáp ứng được các điều kiện trên và có
quy mô vốn đầu tư dưới 5 triệu USD thì trong thời hạn 15 ngày kể từ khi
tiếp nhận hồ sơ thì Ban quản lý KCN sẽ cấp giấy phép đầu tư .Với những dự
án có quy mô trên 5 triệu USD khi tiếp nhận hồ sơ dự án, Ban quản lýgửi tới
Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư để lấy ý kiến.Trong thời hạn 7 ngày kể từ khi nhận
được hồ sơ dự án Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư có ý kiến bằng văn bản. Trong
trường hợp phải lấy ý kiến của các Bộ, Ngành về dự án theo quy định, trong
vòng 5 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ Ban quản lýsẽ gửi tới các Bộ, Ngành
xem xét và trả lời băng văn bản. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày tiếp nhận
văn bản của các Bộ, Ban quản lý quyết định về dự án đầu tư và thông báo
cho chủ đầu tư biết.
II>Vai trò của KCN tập trung.
1).Thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá hiện nay đang tạo ra những cơ hội
to lớn cho sự phát triển kinh tế của cả nước, nhất là các nước đang phát
triển.Tuy nhiên hầu hết các nước này đang phải đối mặt với những khó khăn
do thiếu hụt vốn đầu tư phát triển và kỹ thuật công nghệ để sản xuất các mặt
hàng đủ sức cạnh tranh. Do vậy, khắc phục những yếu kém về cơ sở hạ tầng,
trình độ quản lý và tay nghề lao động là công việc trước mắt. Trong khi chưa
thể tiến hành cùng một lúc trong phạm vi cả nước thì việc quy hoạch, phát
triển KCN tập trung là vấn đề quan trọng nhằm tập trung vốn đầu tư cho một
số khu vực chọn lọc có ưu thế hơn về tài nguyên thiên nhiên, địa lý và
những điều kiện kinh tế xã hội khác và áp dụng biện pháp ưu đãi hơn.
10
KCN tập trung với những ưu thế đặc biệt về hành chính, cơ chế quản lý,
tài chính, thuế quan so với sản xuất trong nước đã trở thành môi trường hấp
11
công nghệ và giúp đỡ kỹ thuật cho các nhà cung cấp địa phương hoặc cho
các công ty sản xuất chi tiết trong sản phẩm của KCN tập trung. Sau đây là
bảng phân loại trình độ công nghệ:
Trình độ công nghệ so với thế giới
Thành phần kinh tế
Hiện đại Trung bình Lạc hậu
Doanh Nghiệp trong
nước
9% 32,5% 48,5%
Doanh Nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài
44,4% 55,6% 0%
(Nguồn : Bộ Kế Hoạch -Đầu Tư)
Bảng 1:Phân loại trình độ công nghệ các Doanh Nghiệp trong KCN
Từ bảng trên có thể cho thấy vai trò quan trọng của các Doanh Nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tại KCN tập trung trong việc tiếp thu công nghệ
mới và hiện đại.
Qua quá trình làm việc các kỹ sư, chuyên gia và công nhân ta đã học
hỏi được nhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý và điều hành sản xuất tiên tiến
8 Quảng Ngãi 10.587
13
9 Long An 3.398
10 Tiền Giang 3.870
11 Cần Thơ 13.360
Tổng 190.000
(Nguồn:Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư ).
Bảng 2: Tình hình thu hút lao động ở các KCN tập trung ở một số
địa phương.
4).Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ.
Trong lĩnh vực xuất khẩu, các KCN đã có những đóng góp đáng kể.
Nhìn chung các Doanh Nghiệp trong KCN có tỷ lệ xuất khẩu khá cao, trung
bình đạt khoảng 65% tổng số kim ngạch xuất khẩu cả nước, tốc độ tăng xuất
khẩu khá nhanh trong những năm gần đây.
Năm 1997, các KCN đã đóng góp 848 triệuUSD, gần bằng 10%giá trị
xuất khẩu cả nước và tăng 10% so với năm 1996. Sáu tháng đầu năm 98%
các KCN đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu 551 triệu USD bằng 60% giá trị
sản lượng, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 11% giá trị xuất
khẩu của cả nước trong sáu tháng đầu năm 1998 (551/4760 triệuUSD).
Sau đây là bảng kết quả xuất khẩu của một số KCN tiêu biểu ở địa
phương.
Địa phương Giá trị sản lượng Xuất khẩu Tỉ lệ xuất khẩu
Đồng Nai 422 277 65,8
TP.Hồ Chí Minh 220 180,6 87
Bình Dương 41,4 24 57,4
Các địa phương khác 206,6 69,4 30,4
Cả nước 890 55 63
(Nguồn: Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư ).
hoạt động kinh tế nước ngoài nằm trong tổng thể các mối quan hệ kinh tế,
chính trị giữa nước ta với nước ngoài.
15
Nước Việt Nam chúng ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn ở
tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, cơ cấu kinh tế què quặt, trình độ khoa học
và công nghệ còn thấp. Trải qua hơn 30 năm thực hiện quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, nền kinh tế nước ta đã xây dựng được một số
nghành công nghiệp như năng lượng, cơ khí, hoá chất, luyện kim, dệt may
và một số nghành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Tuy nhiên do chịu
ảnh hưởng của nhiều cuộc chiến tranh liên tiếp, lại tiến hành quá trình công
nghiệp hoá theo mô hình cổ điển nên trình độ khoa học của các nghành công
nghiệp nói trên còn ở mức lạc hậu, cách xa so với trình độ chung của thế
giới.
b). Do đặc thù kinh tế –xã hội ở Hưng Yên rất phù hợp với hình thức
KCN .
_Về mặt địa lý tự nhiên thì Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông
Hồng do vậy có địa hình bằng phẳng, có nhiều khu đất trống trước đây được
dùng cho sản xuất nông nghiệp do vậy đối với việc san lấp, di dời, giải
phóng mặt bằng rất dễ dàng, thuận lợi chi phí thấp.
_KCN cho phép khắc phục những yếu kém về kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội của tỉnh. Do Hưng Yên từ trước tới nay chỉ là một tỉnh nông nghiệp
đơn thuần do vậy cơ sở hạ tầng để phục vụ cho sản xuất công nghiệp hầu
như là không có và để xây dựng hoàn thiện hệ thống này một cách rộng khắp
trên toàn tỉnh là không khả thi. Chính vì vậy sự xuất hiện hình thức KCN là
một cứu cánh đối với sự phát triển công nghiệp của Hưng Yên.
Do có những đặc tính ưu việt KCN sẽ tạo ra khả năng thuận lợi để đạt
được những yêu cầu đề ra khi thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nếu xây dựng
thành công thì KCN sẽ trở thành mô hình kinh tế năng động có hiệu quả cao.
Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công
thế giới.
+Lợi về mặt địa lý tự nhiên : Nằm trong khu tam giác kinh tế Hà Nội –
Hải Phòng – Quảng Ninh, đây là ba thành phố có nền kinh tế phát triển
mạnh nhất khu vực miền Bắc.Đường quốc lộ 5A nối liền ba thành phố trên
lại cắt ngang qua Hưng Yên tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao
thương giữa các khu vực trong tỉnh và ngoài tỉnh với một chi phí vận tải
thấp, nhanh chóng, thuận lợi.
17
Bên cạnh những lợi thế về mặt khách quan kể trên Hưng Yên còn có
một lợi thế chủ quan to lớn khác đó là có một đội ngũ lãnh đạo đoàn kết,
giàu năng lực và đầy tâm huyết trong việc phát triển kinh tế của tỉnh mà
trong đó đã xác định phát triển các KCN tập trung là một yêu cầu cấp thiết
hàng đầu. Chính vì vậy các cấp lãnh đạo tỉnh Hưng Yên đã đưa ra những
điều kiện tốt nhất có thể có sao cho có lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài
nước, có những chủ trương và quyết định kịp thời giải quyết mọi thắc mắc
của các nhà đầu tư.
Các lợi thế trên nếu được kết hợp với nguồn vốn lớn, trình độ công
nghệ cao và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới thì sẽ được phát huy
và khai thác triệt để tạo nên các sản phẩm và dịch vụ đặc sắc với chất lượng
cao đáp ứng thị trường trong và ngoài nước, đưa tới sự tham gia tích cực vào
sự phân công lao động quốc tế.
Tuy nhiên khi xây dựng KCN không phải tất cả các lợi thế của nền
kinh tế Việt Nam nói chung và Hưng Yên nói riêng sẽ đều được thâu tóm
trong địa giới các khu ấy để chúng có thể đưa vào một cách trực tiếp mà còn
có rất nhiều lợi thế nằm ngoài KCN song nó vẫn được phát huy một cách có
hiệu quả thông qua các tác động trung gian. Chính các KCN nói chung là
cầu nối của nền kinh tế trong nước và thị trường thế giới. Chính KCN được
liên hệ với các vệ tinh xung quanh nó nên qua các bước chuyển tiếp mà các
lợi thế trên sẽ được khai thác và phát huy hết sức mạnh tổng hợp của chúng.
tổng số vốn đăng ký là 36,99 triệu USD và 1 dự án tăng vốn 621.000 USD.
Trong tổng số 381 dự án đầu tư nước ngoài có 171 dự án đầu tư vào KCN
với tổng số vốn đầu tư là 957,27 triệu USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
địa bàn tính chủ yếu vào ngành công nghiệp với tỷ trọng 97% tổng số dự án
và 88% tổng số vốn đầu tư, số còn lại là các dự án đầu tư vào kinh doanh
phát triển hạ tầng KCN, dịch vụ và nông nghiệp.
2). Đồng Nai_Khai thác triệt để lợi thế và truyền thống để tiến hành
xây dựng KCN và các cụm công nghiệp trong địa phương nhằm thu hút
FDI.
Đồng Nai có một lợi thế so sánh về địa lý, thuộc vùng ít bị lũ lụt, thiên
tai, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và dịch vụ tương đối khá (tiếp giáp thành
phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa_ Vũng Tàu, Bình Dương), điều kiện đất đai thuận
lợi cho việc xây dựng các công trình với chi phí thấp. Bên cạnh đó có sự
thống nhất cao giữa các cấp, các ngành trong nội bộ tỉnh, thực thi một cách
19
nhất quán các biện pháp thu hút FDI, các khó khăn (nếu có) cũng chung sức
giải quyết, công khai quy hoạch, công khai quy trình thủ tục, tổ chức quản lý
theo cơ chế một cửa, một đầu mối tập trung qua sở kế hoạch và đầu tư và
ban quản lý KCN, hạn chế phải qua nhiều tầng lớp trung gian, giải quyết kịp
thời các kiên nghị của các Doanh Nghiệp tạo được lòng tin cho các chủ đầu
tư. Nguồn nhân lực tại chỗ tương đối dồi dào kết hợp với việc sử dụng đội
ngũ trí thức và lực luợng lao động ngoài tính tương đối thông thoáng nên đã
có khả năng đáp ứng phần lớn nhu cầu tuyển dụng của các nhà đầu tư.
Đồng Nai là một tỉnh có truyền thống phát triển công nghiệp từ thời
Nguỵ quyền Sài Gòn, KCN Biên Hoà II có trước năm 1975. Đến năm 2000,
Đồng Nai đã tiến hành quy hoạch 17 KCN và các cụm công nghiệp địa
phương, trong đó có 10 KCN đã được chính phủ phê duyệt và thực giện trên
quy chế KCN với diện tích 2752 ha, uỷ ban nhân dân tỉnh , các sở ban ngành
trên địa ban Đồng Nai đã gắn quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch lãnh
phát triển kinh tế cũng như quy hoạch lãnh thổ của tỉnh nhằm tạo điều kiện
trong thu hút FDI.
_Tiến hành cụ thể hoá các chính sách, quy định, luật pháp của nhà nước
phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương nhằm tạo điều kiện cho
các chủ đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào địa bàn của tỉnh. Đặc biệt các cơ
quan quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài tại Hưng Yên cầc phải cải
cách, tinh giảm các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp giấy phép
nhằm tạo điều kiện cho các chủ đầu tư nước ngoài đầu tư vào cac KCN.
_Ngoài việc cải thiện về cơ chế chính sách cần phải chú ý đào tạo nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực và tốc độ giải phóng mặt bằng nhằm cải thiện
môi trường đầu tư.
21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THU
HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
KCN TẬP TRUNG Ở HƯNG YÊN .
I>.Đặc điểm kinh tế _xã hội _tự nhiên của Hưng Yên.
1.Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên.
Tỉnh Hưng Yên được tái lập ngày 1/1/1997 sau 28 năm hợp nhất, là một
tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
tiếp giáp 6 tỉnh, thành phố : Nam giáp Thái Bình, Bắc giáp Bắc Ninh, Đông
giáp Hải Dương, Tây giáp Hà Tây, Tây Nam giáp Hà Nam, Tây Bắc giáp
Hà Nội. Diện tích đất tự nhiên (theo số liệu thống kê đất đai măm 2000) là
92309 ha chiếm 6,2% diện tích của cùng đồng bằng sông Hồng.
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng không có rừng, núi, biển nhưng
nhiều sông ngòi. Sông Hồng chảy qua địa phận tỉnh dài xấp xỉ 60km, sông
Luộc là một nhánh của sông Hồng chảy qua Hưng Yên 21km, ngoài ra còn
nhiều sông nhánh nhỏ khác chảy qua các huyện, thị. Bên cạnh hệ thống sông
tự nhiên Hưng Yên còn có một hệ thống mương, máng phục vụ cho công tác
thuỷ lợi tiêu biểu là công trình thuỷ nông Bắc –Hưng –Hải dược khởi công
do vậy thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài và các tỉnh ngoài đầu tư sản
xuất công nghiệp dọc hai bên quốc lộ 5A từ Phố Nối đến Như Quỳnh.
Hưng Yên là khu vực tập trung nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Toàn tỉnh
có hơn 800 di tích lịch sử và văn hoá trong đó có 105 di tích được xếp hạng
cùng hàng ngàn tài liệu và hiện vật cổ có giá trị. Đặc biệt khu di tích phố
Hiến, Đa Hoà, Dạ Trạch, khu tưởng niệm lương y Hải Thượng Lãn Ông là
nguồn tài nguyên du lịch văn hoá của tỉnh.
2.Thực trạng tình hình kinh tế xã hội.
Ngay sau khi tái lập, Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 14 được tiến hành
vào tháng 6/1997 đã đề ra những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh trong giai đoạn 1997_2000 là:
_ Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 10% /năm.
_ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp công nghiệp dịch vụ: 40%_28%_32%.
_ Thu nhập bình quân đầu người đạt 300USD/năm.
_ Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20%/năm.
23
_ Giá trị dịch vụ tăng trên 15%/năm.
Bước vào thực hiện phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu Đại hội tỉnh
Đảng bộ lần thứ 14 đề ra, nền kinh tế của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn.Tỉnh
mới tái lập, xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật
còn thiếu thốn, nguồn lực để phát triển kinh tế còn hạn chế, chi ngân sách
của tỉnh phần lớn dựa vào nguồn tài trợ của Trung Ương. Các cơ sở sản xuất
kinh doanh còn thấp. Hơn nũa lại là tỉnh thuần nông, sản xuất nông nghiệp là
chính nên điều kiện xây dựng và thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh là rất
khó khăn.
Tuy nhiên bên cạnh khó khăn trên, trong quá trình phát triển kinh tế_xã
hội của tỉnh còn có những thuận lợi cơ bản là đường lối đổi mới của Đảng và
Nhà nước, sự giúp đỡ cuả Trung Ương cùng sự nỗ lực phấn đấu của Đảng
bộ và nhân dân trong tỉnh nền kinh tế đã dần dần đi vào ổn định và đạt được