60 năm cải cách thể chế kinh tế.
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
17
pgs. ts nguyễn kim bảo
Viện Nghiên cứu Trung Quốc au khi nớc Cộng hoà Nhân
dân Trung Hoa ra đời, dới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
nhân dân Trung Quốc bớc vào thực
hiện mục tiêu xây dựng và hiện đại hóa
đất nớc. Trong quá trình lãnh đạo,
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trải qua
quá trình nhận thức khúc khuỷu về vấn
đề cải cách thể chế kinh tế và từng bớc
phát triển nó, mở ra con đờng mới xây
dựng đất nớc Trung Quốc.
I. KHáI NIệM Về THể CHế KINH Tế
Theo quan niệm của ngời Trung
Trung Quốc bớc vào giai đoạn khôi phục
nền kinh tế quốc dân. Mô hình quản lý
kinh tế lúc đó là làm theo kiểu quản lý
S
nguyễn kim bảo
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
18
thống nhất tập trung cao độ mà Liên Xô
đã áp dụng trớc đó. Đặc trng của mô
hình này là nhà nớc thống nhất quản lý;
chỉ huy điều tiết mọi hoạt động kinh tế
thuộc mọi lĩnh vực sản xuất, lu thông,
phân phối, tiêu thụ; đa nền kinh tế vào
quỹ đạo kế hoạch pháp lệnh của nhà
nớc.
Mô hình này đã khiến Trung Quốc
trong một thời gian dài tiềm tàng một sự
giáo điều cho rằng kinh tế kế hoạch
tơng đồng với CNXH, kinh tế thị
trờng tơng đồng với CNTB. CNXH và
kinh tế thị trờng hoàn toàn đối lập
nhau, không thể dung hoà với nhau, có
kinh tế thị trờng thì không thể có
CNXH.
Với sự trói buộc của t tởng trên, các
cuộc thảo luận về cải cách thể chế kinh
đi sức sống của kinh tế XHCN, hiệu quả
kinh tế rất thấp.
Các nhà kinh tế Trung Quốc đã đi sâu
tìm hiểu và phát hiện ra sự ràng buộc
của chủ nghĩa giáo điều trên đã cản trở
nghiêm trọng tới sự phát triển của sức
sản xuất. Những vấn đề lý luận theo
quan điểm truyền thống mâu thuẫn với
thực tiễn. Họ bắt đầu đi sâu tìm tòi thể
chế mới. Họ tìm thấy trong kinh tế, sản
xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá
mang tính tất yếu, quy luật giá trị có vai
trò điều tiết thị trờng. Xuất phát từ đặc
trng của hàng hoá, họ đã chứng minh
nguyên nhân căn bản của sự tồn tại
hàng hoá trong XHCN. Về quy luật giá
trị, các nhà kinh tế Trung Quốc đa ra 3
quan điểm quan trọng nhằm thúc đẩy
cải cách thể chế quản lý kinh tế bằng kế
hoạch. Đó là: quan điểm quy luật giá trị
là cơ sở phát triển kinh tế của Tôn Dã
Phơng, nhấn mạnh phải đặt kế hoạch
trên cơ sở quy luật giá trị (nhiều nhà
kinh tế Trung Quốc đánh giá đây là sự
mở đầu của lịch sử cải cách thể chế kinh
60 năm cải cách thể chế kinh tế.
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
19
1.3. Giai đoạn 1965 - 1977: lý luận
bị tụt hậu
Giai đoạn này, Trung Quốc nổ ra cuộc
đại Cách mạng văn hóa. Trong cuộc
cách mạng này, những quan điểm về
quan hệ giữa kế hoạch và thị trờng bị
gọi là cỏ độc, chống lại Đảng, chống
CNXH, chống Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và
bị lên án không dứt. Đồng thời, một bộ
phận lý luận kinh tế tả cũng phát triển.
Lâm Bu và bè lũ bốn tên đã đa ra
một số quan điểm sai trái về vấn đề giá
trị hàng hoá. Quan điểm chủ yếu mà họ
đa ra là sản xuất hàng hoá, trao đổi tiền
tệ là dấu vết của xã hội cũ, là tàn d của
chế độ bóc lột; trao đổi hàng hoá là mảnh
đất, là điều kiện ấp trứng của CNTB và
giai cấp t sản; quy luật giá trị là một sức
mạnh dị kỷ Theo họ, sản xuất hàng hoá
và quy luật giá trị sẽ tạo ra CNTB, chỉ có
thể hạn chế bằng chuyên chính của giai
cấp vô sản.
Do vậy, ngoài những bài viết, bài phát
biểu nhằm tuyên truyền rộng và làm
xấu thêm tình hình, họ còn lôi hết
những ngời làm công tác nghiên cứu lý
luận kinh tế ra hỏi tội và đóng lại toàn
bộ những vấn đề lý luận kinh tế. Sự phá
hoại của Lâm Bu và bè lũ bốn tên đã
gây ra hậu quả xấu nghiêm trọng, lý
2.1.Giai đoạn 1978-1991:khởi động
đi theo hớng thị trờng
ở thời kỳ đầu của cải cách, đứng
trớc nền kinh tế suy sụp sau Cách
mạng Văn hóa, nhiều nhà kinh tế học đề
xuất những luận điểm mới.
2.1.1. Quan điểm kết hợp kinh tế kế
hoạch là chính, điều tiết thị trờng là phụ
Để chống lại quan điểm hữu khuynh
đòi xoá bỏ quan hệ hàng - tiền, các nhà
kinh tế nêu ý kiến cần phát huy hơn nữa
vai trò của quy luật giá trị. Nhng, do
nhận thức của mọi ngời lúc đó về kinh
tế hàng hoá còn mơ hồ nên mãi tới Hội
nghị công tác Trung ơng tháng 4-1997,
Phó Thủ tớng Quốc vụ viện Trung Quốc
lúc đó Lý Tiên Niệm mới đa ra quan
điểm kết hợp giữa điều tiết kế hoạch và
điều tiết thị trờng, lấy kinh tế kế hoạch
làm chính, đồng thời hết sức coi trọng
vai trò bổ trợ của điều tiết thị trờng.
Với quan điểm này, các nhà kinh tế đã
nhận thức đợc quy luật phát triển theo
kế hoạch và quy luật giá trị cùng đóng
vai trò điều tiết, cho nên cần thực hiện
phơng châm kết hợp giữa điều tiết kế
hoạch và điều tiết thị trờng.
Đồng thời với việc đa ra vấn đề kết
hợp điều tiết kế hoạch và điều tiết thị
trờng, vào khoảng tháng 1-2/1979, một
Phải giải quyết mâu thuẫn giữa quyền
tự chủ và kế hoạch nhà nớc bằng quy
luật giá trị, bằng quan hệ cung - cầu.
Một năm sau, trong buổi tiếp chuyện với
Phó Ban biên tập Công ty xuất bản Bách
khoa toàn th của Mỹ, ông Đặng nói rõ
hơn: Nói rằng kinh tế thị trờng chỉ tồn
tại ở xã hội TBCN là không đúng. Tại
sao CNXH lại không? Không thể nói xây
60 năm cải cách thể chế kinh tế.
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
21
dựng kinh tế thị trờng là CNTB đợc.
Chúng tôi xây dựng kinh tế kế hoạch là
chính, nhng cũng kết hợp với kinh tế thị
trờng. T tởng này của ông Đặng
đợc nhiều ngời trong Đảng chấp nhận
áp dụng nó.
Nh vậy, ngay từ khi Trung Quốc
tiến hành cải cách mở cửa, các nhà lãnh
đạo Trung Quốc đã thấy đợc lực lợng
thị trờng, có thể kết hợp bổ sung nó
trong khuôn khổ kế hoạch của nhà nớc
đối với việc bố trí nguồn lực kinh tế. Đây
là sự tiến bộ rất lớn so với những quan
niệm về thể chế kinh tế trớc đó. Tuy
mới chỉ là bớc đầu, nhng nó đã phá vỡ
thể chế kinh tế kế hoạch.
này kéo dài tới Hội nghị Trung ơng 3
khoá XII Đảng Cộng sản Trung Quốc
(10-1984).
Hội nghị Trung ơng 3 khoá XII đã
thông qua Nghị quyết của Trung ơng
Đảng Cộng sản Trung Quốc về cải cách
thể chế kinh tế. Nghị quyết chỉ rõ: Nền
kinh tế XHCN là nền kinh tế hàng hoá có
kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu.
Phát triển đầy đủ kinh tế hàng hoá là
giai đoạn không thể bỏ qua của sự phát
triển kinh tế xã hội, là điều kiện tất yếu
để thực hiện hiện đại hoá Trung Quốc
(5)
.
Đây là một đột phá quan trọng về lý
luận. Lần đầu tiên Trung Quốc khẳng
định rõ ràng kinh tế XHCN là kinh tế
hàng hoá. Nó đánh dấu sự nhảy vọt về
nhận thức đối với kinh tế XHCN. Ông
Đặng Tiểu Bình đã đánh giá rất cao văn
kiện này. Ông gọi nó là kinh tế chính trị
học kết hợp nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác với thực tiễn XHCN của
Trung Quốc
(6)
.
Sau Hội nghị Trung ơng 3 khoá XII,
Báo cáo Chính trị của Đại hội lần thứ
XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (11-
trờng, mặc dù Trung Quốc đã có sự đột
phá tơng đối lớn đối với quan niệm
truyền thống.
2.1.3. Quan điểm kinh tế thị trờng
Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, ở
Trung Quốc đã xuất hiện một trận Đại
luận chiến về vấn đề cải cách thất bại
hay thành công? Việc phê phán trên quy
mô lớn đối với lý luận kinh tế thị trờng
đã gây ra sự lo lắng, nghi ngờ, rối loạn
trong cán bộ và quần chúng nhân dân.
Thêm vào đó lại xảy ra sự biến động
chính trị ngày 19-8-1991, rồi cuộc cải
cách của Liên Xô và các nớc Đông Âu
không triệt để khiến cho cải cách ở
Trung Quốc trong thời gian này bị chậm
lại. Trong những văn kiện chính thức,
vấn đề kinh tế thị trờng vẫn cha đợc
đề cập tới. Ngời ta có thể tiếp thu kinh
tế hàng hoá nhng lại tránh không nói
tới kinh tế thị trờng. Họ vẫn luôn băn
khoăn bởi vấn đề kinh tế thị trờng
mang tính chất XHCN hay TBCN?
Trớc sự băn khoăn đó, ông Đặng
Tiểu Bình đã có những cuộc nói chuyện
với các nhà lãnh đạo tỏ rõ quan điểm của
mình. Nhng phải tới chuyến đi miền
Nam Trung Quốc đầu năm 1992, ông
Đặng trực tiếp gặp gỡ quần chúng, trình
bày quan điểm của mình về kế hoạch và
23
nào là họ xã (XHCN), họ t (TBCN), nó
có ý nghiã rất sâu sắc.
2.2. Giai đoạn 1992-2001: hình
thành khung cơ bản của thể chế
kinh tế thị trờng XHCN
Dựa vào luận điểm trên của ông Đặng
Tiểu Bình, Đại hội đại biểu toàn quốc
Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIV
(10-1992) chính thức tuyên bố: Mục tiêu
cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc
là xây dựng thể chế kinh tế thị trờng
XHCN và chỉ rõ: Thể chế kinh tế thị
trờng XHCN chính là làm cho thị
trờng phát huy đợc vai trò mang tính
cơ sở trong việc bố trí các nguồn lực dới
sự điều tiết vĩ mô của nhà nớc
(9)
. Hội
nghị Trung ơng 3 khoá XIV Đảng Cộng
sản Trung Quốc (11-1993) đã nêu ra nội
dung của việc xây dựng thể chế kinh tế
thị trờng: Lấy chế độ công hữu làm
chủ thể, nhiều thành phần kinh tế cùng
phát triển; chuyển đổi thêm một bớc cơ
chế kinh doanh của doanh nghiệp nhà
nớc, xây dựng chế độ doanh nghiệp
hiện đại; xây dựng hệ thống thị trờng
mở cửa thống nhất trong cả nớc; chuyển
đổi chức năng quản lý kinh tế của Chính
cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc.
Trớc đây, ngời ta quan niệm quá trình
xây dựng CNXH là quá trình hạn chế đi
tới thủ tiêu các thành phần kinh tế phi
công hữu. Nghị quyết Đại hội XIV Đảng
Cộng sản Trung Quốc (năm 1992) còn
cho rằng kinh tế phi công hữu chỉ đóng
vai trò bổ sung. Đại hội XV lần đầu
tiên khẳng định chế độ công hữu làm
chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu
cùng phát triển là chế độ kinh tế cơ bản
ở Trung Quốc. Đại hội còn đa ra: Kinh
tế phi công hữu là bộ phận cấu thành
quan trọng của kinh tế thị trờng
XHCN. Đây là một quan điểm mới
trong lý luận về đặc trng cơ bản của
CNXH. Nó đợc coi là bớc đột phá mới
về lý luận, lần giải phóng mới về t
tởng trong quá trình xây dựng thể chế
kinh tế thị trờng XHCN.
nguyễn kim bảo
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
24
Có thể nói, nội dung xây dựng thể chế
kinh tế thị trờng mà Hội nghị Trung
ơng 3 khoá XIV đề cập tới đã áp dụng
phơng thức kết hợp giữa tiệm tiến và
dựng hiện đại hóa, cũng là giai đoạn
then chốt để hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trờng XHCN và tăng cờng mở cửa
đối ngoại
(12)
.
Để đạt mục tiêu trên, Hội nghị Trung
ơng 3 khoá XVI Đảng Cộng sản Trung
Quốc (10-2003) đã chỉ ra nhiệm vụ chủ
yếu nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trờng XHCN là: Hoàn thiện chế độ
kinh tế cơ bản lấy chế độ công hữu làm
chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu khác
cùng phát triển; xây dựng thể chế có lợi
cho việc từng bớc thay đổi kết cấu nhị
nguyên thành thị và nông thôn; hình
thành cơ chế thúc đẩy phát triển hài hoà
kinh tế vùng; xây dựng hệ thống thị
trờng hiện đại thống nhất, mở cửa,
cạnh tranh có trật tự; hoàn thiện hệ
thống điều tiết vĩ mô, thể chế quản lý
hành chính và chế độ pháp luật kinh tế;
kiện toàn chế độ việc làm, phân phối thu
nhập và bảo đảm xã hội; xây dựng cơ chế
thúc đẩy xã hội phát triển bền vững
(13)
.
Có thể thấy, nhiệm vụ hoàn thiện thể
chế kinh tế đợc đề ra trong Hội nghị
Trung ơng 3 khoá XVI ngoài việc tiếp
thôn, vì kết cấu kinh tế nhị nguyên
thành thị và nông thôn rất khó xóa bỏ
trong một thời gian ngắn; đối với nhiệm
vụ phát triển hài hoà kinh tế khu vực,
điều nhấn mạnh là hình thành cơ chế
mà không phải là xây dựng thể chế
Việc thực hiện tốt những nhiệm vụ
này có tác dụng to lớn đối với việc xoá bỏ
những trở ngại mang tính thể chế đối với
sự phát triển của sức sản xuất, thúc đẩy
kinh tế phát triển lành mạnh. Kinh tế -
xã hội Trung Quốc sẽ có những biến
chuyển sâu sắc để thích ứng với yêu cầu
phát triển mới của sức sản xuất hiện
nay, nhất là sau khi Trung Quốc gia
nhập WTO và đạt mục tiêu xây dựng xã
hội khá giả toàn diện sớm hơn dự kiến.
Bớc sang thế kỷ XXI, điều kiện kinh
tế của Trung Quốc thuận lợi hơn rất
nhiều so với trớc, nhng để thực hiện
đợc mục tiêu trên cũng còn là vấn đề
tơng đối gian nan. Do quy mô kinh tế ở
thời kỳ này đã lớn, mà ngày càng lớn
hơn nữa, nên Trung Quốc phải thực hiện
tốc độ tăng trởng bình quân năm là
7,2%, có nghĩa là phải lớn hơn mức tăng
trởng bình quân 9,7%/ năm giai đoạn
1981- 2000
(14)
. Nhất là Trung Quốc phải
tế tăng trởng.
Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung
Quốc (10-2007) đã đa ra những yêu cầu
mới cao hơn để thực hiện mục tiêu xây
nguyễn kim bảo
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
26
dựng xã hội khá giả toàn diện, trong đó
nhấn mạnh: Tăng cờng tính nhịp
nhàng trong phát triển, nỗ lực thực hiện
kinh tế phát triển vừa tốt vừa nhanh.
Trên cơ sở đã có những tiến triển quan
trọng trong chuyển đổi phơng thức phát
triển, u hoá kết cấu, nâng cao hiệu quả,
giảm tiêu hao năng lợng, bảo vệ môi
trờng, thực hiện GDP bình quân đầu
ngời đến năm 2020 tăng gấp 4 lần so
với năm 2000. Thể chế kinh tế thị trờng
xã hội chủ nghĩa hoàn thiện hơn. Năng
lực tự chủ sáng tạo đợc nâng cao rõ rệt,
những đóng góp của tiến bộ khoa học kỹ
thuật đối với tăng trởng kinh tế tăng
lên đáng kể, bớc vào hàng ngũ các nớc
sáng tạo
(15)
.
Điều đáng chú ý là trong những yêu
Quốc đã thực hiện đợc bớc chuyển đổi
cơ bản từ thể chế kinh tế kế hoạch sang
thể chế kinh tế thị trờng XHCN.
Một là, kết cấu sở hữu không ngừng
hoàn thiện, chế độ kinh tế cơ bản trong
giai đoạn đầu CNXH lấy công hữu làm
chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu
cùng phát triển đã đợc thiết lập. Việc
điều chỉnh mang tính chiến lợc kinh tế
nhà nớc có những tiến triển rõ rệt. Cải
cách doanh nghiệp nhà nớc đạt đợc
những đột phá quan trọng, bớc đầu xây
dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại đã
nâng cao chất lợng và hiệu quả của
kinh tế nhà nớc. Hơn một nửa trong số
những doanh nghiệp nhà nớc trọng
điểm tiến hành cải cách chế độ cổ phần,
hơn 90% các doanh nghiệp vừa và nhỏ
tiến hành cải cách chế độ. Kinh tế phi
công hữu đã trở thành một bộ phận cấu
thành quan trọng trong nền kinh tế thị
trờng XHCN, là lực lợng quan trọng
thúc đẩy sức sản xuất xã hội Trung Quốc
phát triển. Hiện nay, tỷ trọng của kinh
tế phi công hữu chiếm trong GDP đã
vợt qua 1/3. Trong giá trị gia tăng công
60 năm cải cách thể chế kinh tế.
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
thị, nông thôn
(17)
, khiến cho nông dân
đợc bình đẳng hơn trong nghĩa vụ nộp
thuế công dân, thu hẹp khoảng cách
giữa thành thị và nông thôn. Điều này
rất có ý nghĩa trong việc xây dựng xã hội
hài hoà ở Trung Quốc. Thể chế quản lý
phân tách thành thị nông thôn có những
đột phá, cơ chế lấy công nghiệp thúc
đẩy nông nghiệp, lấy thành thị lôi kéo
nông thôn đã dần thay đổi kết cấu
nhị nguyên thành thị và nông thôn. Mức
độ đô thị hóa của Trung Quốc cũng tăng
lên nhanh chóng, từ 17,9% năm 1978 lên
43,9% năm 2007
(18)
.
Ba là, hệ thống thị trờng hiện đại
thống nhất, mở cửa, cạnh tranh, có trật
tự bớc đầu hình thành, vai trò cơ sở của
thị trờng trong phân bổ nguồn lực đợc
tăng cờng. Các tổ chức sản xuất kinh
doanh lấy nhu cầu thị trờng làm
phơng hớng dẫn dắt đã đạt đợc
thành quả to lớn. Sự thay đổi căn bản
của tình hình cung cầu thị trờng theo
xu hớng hợp lý hơn, đã thúc đẩy việc
xác lập thị trờng bên mua chiếm vị trí
chủ đạo trong kết cấu thị trờng hàng
mẽ. Tính đến cuối năm 2007, Trung
Quốc có tất cả 1550 công ty niêm yết,
tổng giá trị niêm yết đạt 32710 tỷ NDT,
bằng 130% GDP cùng năm
(20)
. Với 32.710
tỷ NDT giá trị niêm yết, Trung Quốc
đứng thứ 3 trong thị trờng vốn toàn
cầu, đứng thứ nhất trong những thị
trờng mới nổi. Năm 2007, lần đầu tiên
Trung Quốc công bố công khai tích lũy
vốn cổ phiếu đạt 459,579 tỷ NDT, đứng
đầu thế giới, lợng giao dịch bình quân
ngày đạt 190,3 tỷ NDT
(21)
. Thị trờng
vốn của Trung Quốc trở thành một trong
những thị trờng sôi động nhất toàn
cầu.
Bốn là, kết hợp có hiệu quả chính
sách tài chính và chính sách tiền tệ trong
điều tiết vĩ mô. Công cụ chủ yếu của điều
tiết vĩ mô là chính sách tài chính và
chính sách tiền tệ. Trung Quốc đã chú
trọng kết hợp hai chính sách này và
phát huy đầy đủ hiệu quả của chúng.
Chẳng hạn nh, trớc cơn sóng thần
khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất
phát từ Mỹ hiện nay, Trung Quốc quyết
định điều chỉnh chính sách tài chính ổn
quản lý, nhân tài để thúc đẩy nâng cấp
ngành nghề, học tập và sáng tạo trong
việc thu hút kỹ thuật nhằm nâng cao
năng lực sử dụng nguồn vốn ngoại. Tích
lũy vốn thực tế đã vợt 760 tỷ USD.
Trong 500 doanh nghiệp mạnh trên thế
giới, đã có gần 480 doanh nghiệp vào
đầu t ở Trung Quốc. Việc kinh doanh
xuất nhập khẩu với sự tham gia của
nhiều loại hình sở hữu giữa các doanh
nghiệp trong và ngoài nớc đã cơ bản
hình thành.
Những vấn đề còn tồn tại
Thứ nhất, môi trờng pháp lý của thể
chế vẫn cha hoàn thiện
Hiện nay, ở Trung Quốc vẫn còn tồn
tại rất nhiều điểm cha bình đẳng, cha
hoàn thiện về mặt pháp luật đối với khu
vực các doanh nghiệp ở các hình thức sở
60 năm cải cách thể chế kinh tế.
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
29
hữu khác nhau. Một là, trong hệ thống
pháp luật, về cơ bản vẫn lấy tiêu chuẩn
là các hình thức chế độ sở hữu. Với
hành vi đầu t kinh doanh của công dân,
quyền đối với tài sản của công dân và các
điều khoản có liên quan mật thiết tới
giao dịch thơng mại, v.v
Thứ hai, tiến độ cải cách chậm chạp
hơn so với mục tiêu đặt ra
Tháng 11-1993, Hội nghị Trung ơng
3 khóa XIV của Đảng Cộng sản Trung
Quốc đề ra yêu cầu xây dựng chế độ
doanh nghiệp hiện đại, nhng cho đến
nay, doanh nghiệp nhà nớc vẫn còn
cách xa chuẩn mực của chế độ doanh
nghiệp hiện đại. Đại hội XV năm 1997
yêu cầu đến cuối thế kỉ XX đa số doanh
nghiệp lớn và vừa bớc đầu xây dựng
chế độ xí nghiệp hiện đại, tình hình kinh
doanh đợc cải thiện rõ rệt, tạo ra cục
diện mới cho cải cách và phát triển
doanh nghiệp nhà nớc. Nhng đến cuối
năm 2000, trong số 2919 doanh nghiệp
lớn và vừa thuộc doanh nghiệp nhà nớc
và doanh nghiệp nhà nớc khống chế cổ
phần, có 2005 doanh nghiệp cải cách
theo chế độ công ty đạt 68,7%
(23)
. Đặc
biệt, trong đó cải cách các ngành độc
quyền có tiến độ chậm nhất. Hội nghị
Trung ơng 3 khóa XIV đề ra phải xây
dựng hệ thống thị trờng thống nhất,
ngày càng khó. Chỉ tính ba loại bảo hiểm
dỡng lão, y tế và thất nghiệp, ở nhiều
nơi, riêng mức phí phải nộp của chủ lao
động đã lên đến khoảng 30% tổng lơng,
của cá nhân khoảng 10%
(25)
, cao hơn mức
của nhiều nớc khác. Do mức phí phải
nộp quá cao, ảnh hởng nhiều đến giá
thành và lợi nhuận của doanh nghiệp,
nên rất nhiều doanh nghiệp trốn tham
gia bảo hiểm. Mức phí phải nộp cao
khiến cho ít ngời tham gia, khả năng
mở rộng diện bao phủ càng khó, ngành
bảo hiểm đành phải nâng cao mức phí
thêm lên, vì thế mà lâm vào vòng tuần
hoàn xấu
Thứ t, thể chế quản lý kinh tế còn
cha thực sự hội nhập với yêu cầu quốc tế
Sau khi gia nhập WTO, thể chế quản
lý kinh tế còn cha thực sự hội nhập với
yêu cầu của quốc tế. Điều này biểu hiện
ở chỗ: năng lực điều tiết và ứng phó vĩ
mô của một số ban ngành, địa phơng
còn yếu và bị động; lập pháp trì trệ, có
luật mà không làm theo, hiện tợng
không chấp hành phán quyết của toà
án, trọng tài kinh tế vẫn còn tồn tại;
nhà nớc can thiệp vào kinh tế vẫn
tơng đối nhiều, chức năng quản lý công
(2) Trơng Trác Nguyên (chủ biên): 50
năm tranh luận và phát triển lý luận kinh
tế Trung Quốc- Nxb Nhân dân, Côn Minh,
Vân Nam, TQ, 9-1999, tr. 84.
(3) Trơng Trác Nguyên (chủ biên): 50
năm tranh luận và phát triển lý luận kinh
tế Trung Quốc, sđd, tr.85.
60 năm cải cách thể chế kinh tế.
Nghiên cứu Trung Quốc
số 10(98) - 2009
31
(4) Trơng Trác Nguyên (chủ biên): 50
năm tranh luận và phát triển lý luận kinh
tế Trung Quốc, sđd, tr. 98.
(5) Lý Thiết ánh: Về cải cách mở cửa ở
Trung Quốc- Nxb Khoa học xã hội, H, 9-
2002, tr.46.
(6) Tạ Xuân Đào: Tranh luận về kinh tế
kế hoạch và kinh tế thị trờng-T/c Tân
Hoa văn trích, TQ, số 6-1998.
(7) Trơng Trác Nguyên (chủ biên): 50
năm tranh luận và phát triển lý luận kinh
tế Trung Quốc, sđd, tr.121.
(8) Văn kiện số 2 năm 1992 của Trung
ơng Đảng Cộng sản Trung Quốc.
(9) Văn kiện Đại hội XIV Đảng Cộng sản
Trung Quốc- Nxb Văn hiến, KHXH, BK,
TQ,1992.
(10) Nghị quyết của Trung ơng Đảng
2008) Nxb Văn Hiến KHXH, BK, TQ, 6-
2008, tr.744
(17) Viện Nghiên cứu cải cách và phát
triển Hải Nam Trung Quốc: Những
khuyến nghị thẳng thắn về công cuộc cải
cách của Trung Quốc (11.2001- 10.2006)-
Nxb Kinh tế, BK, TQ, 10-2006, tr.175.
(18) Trâu Đông Thọ (chủ biên): 30 năm
cải cách mở cửa của Trung Quốc (1978-
2008)- sđd, tr.744.
(19) Trâu Đông Thọ (chủ biên): 30 năm
cải cách mở cửa của Trung Quốc (1978-
2008)- sđd, tr.144.
(20) Phân tích chính sách tài chính tích
cực.
(21) Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế và
tài nguyên, Đại học s phạm Bắc Kinh:
Báo cáo phát triển kinh tế thị trờng
Trung Quốc 2008- Nxb Đại học S phạm
Bắc Kinh, 9-2008.
(22) Nghị quyết Hội nghị Trung ơng 3
khóa XIV - Cuốn: Hớng dẫn học tập
Nghị quyết của Trung ơng Đảng Cộng
sản Trung Quốc về một số vấn đề hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trờng XHCN-
Nxb Nhân dân, BK, TQ, 2003, tr.7.
(23) Doãn Vĩnh Khâm, Dơng Tranh
Huy: Tiến trình cải cách kinh tế Trung
Quốc: những biến đổi to lớn (1978-2004) -
Bản dịch của Viện Nghiên cứu Trung