Nghiên cứu triết học
Đề tài:" TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI
NHO HỌC TRUNG QUỐC MẤY
NĂM NAY "
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI NHO HỌC
TRUNG QUỐC MẤY NĂM NAY
NGUYỄN TÀI THƯ(*)
đầu, còn đang trong quá trình hình thành, chưa có cơ sở đầy đủ để quyết
đoán. Luận điểm của Huntington đã được một số học giả lấy đó làm căn cứ
để phân tích. Năm 1993, Huntington có bài viết với nhan đề Sự xung đột
của các nền văn minh. Đến năm 1999, ông lại có chuyên khảo Sự xung đột
của các nền văn minh và việc xây dựng lại trật tự thế giới, trong đó có dự
đoán rằng, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của xung đột văn minh. Có người cho
rằng, ý kiến của Huntington như một loại thần chú đã trở thành hiện thực
sau sự kiện 11/9/2001 (nước Mỹ bị bọn khủng bố quốc tế dội bom xuống
thành phố Niuoóc và Oasinhtơn) và tiếp theo đó là “chiến tranh
Ápganítxtan”, “chiến tranh Irắc”, làm cho cả thế giới phải lo ngại (Trương
Tiễn, Đại học Nhân dân Trung Quốc). Từ đây, có người nêu lên rằng, nếu sự
xung đột giữa các nền văn minh cứ tiếp diễn và người ta dùng bom hạt nhân
để giải quyết thì nhân loại sẽ đi đến chỗ bị huỷ diệt. Và, vấn đề đặt ra là, thế giới
phải chấp nhận tư tưởng gì và hành xử ra sao để mới có thể tránh được thảm
hoạ có thể xảy ra như dự báo trên.
Có người nhắc lại ý tưởng đã từng xuất hiện ở Mỹ vào đầu những năm 90
của thế kỷ XX. Đó là ý tưởng của một giáo sư người Mỹ gốc Hoa - Khổng
Hán Tư đề xuất ý đồ xây dựng “Luân lý phổ biến” cho thế giới. Ý tưởng
này được giới học thuật và thế giới toàn cầu lúc đó hưởng ứng nhiệt liệt và
trên cơ sở này, vào năm 1997, Tổ chức Văn hoá Khoa học giáo dục của
Liên hiệp quốc (UNESCO), trong hội nghị Tôn giáo thế giới họp ở
Chicagô (Mỹ) đã đề xuất Tuyên ngôn luân lý thế giới. Trong Tuyên ngôn
này, có đoạn văn như sau: “Cái gọi là luân lý thế giới không phải là chỉ một
hình thái ý thức mang tính thế giới, hoặc là một tôn giáo thống nhất đơn
nhất, vượt khỏi mọi tôn giáo hiện có, càng không phải là một tôn giáo
trong đó giữ vai trò khống chế hết thảy các tôn giáo khác. Luân lý thế giới,
trong con mắt của chúng tôi, là ý thức chung làm cơ sở mang giá trị có sức
ràng buộc, mang tiêu chuẩn không thể thủ tiêu, cùng với tôn trọng thái độ
cá nhân. Không có ý thức chung cơ sở đó đối với luân lý thế giới thì chóng
hay chầy mỗi một tập đoàn xã hội sẽ bị hỗn loạn hoặc bị chuyên chế uy
Trung Quốc ngày càng có quan hệ rộng mở, lượng thông tin từ ngoài
truyền vào nhiều, giới học thuật trong nước cũng có điều kiện xem xét và
so sánh văn minh Nho giáo và văn minh phương Tây. Giáo sư Trương Tiễn
(Đại học Nhân dân Trung Quốc) cho rằng, tư tưởng “trung thứ” của Nho
giáo có thể dùng làm cơ sở cho việc giải quyết các bất đồng của thế giới
hiện đại, vì nguyên tắc của “trung thứ” là “cái mình muốn thì làm cho
người” (“Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”), “cái mình
không muốn thì đừng làm cho người” (“Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”) sẽ
hoá giải được các bất đồng và xung đột. Hơn nữa, theo ông, tư tưởng trên
cũng có trong Kinh Thánh của Kitô giáo, như “cần yêu người như mình”
và cũng có trong “thuyết lương tri” của đạo Islam, nên các bên dễ thừa
nhận nhau. Giáo sư Trịnh Gia Đống thì đề xuất khái niệm “hoà” của nhà
Nho; cho rằng, “hoà” dễ đi tới chấp nhận sự khác biệt và vượt qua sự khác
biệt. Ông dựa vào câu nói của Trương Tải đời Tống: “Thù hận tất phải lấy
hoà để giải quyết” (“hận tất hoà nhi giải”) và nói: Không phải là lấy oán trả
oán, anh chết tôi sống, cũng không phải là một mực thoái nhượng, nhẫn
nại, mà là dốc sức để tìm lấy một con đường hợp lý bao hàm tính khác biệt
và vượt qua khác biệt. Giáo sư Ngô Quang (Viện Khoa học xã hội tỉnh
Triết Giang) cho rằng, các tư tưởng: nhân ái, hài hoà, thành tín, trung dung
của Nho giáo có thể trở thành cơ sở để giải quyết các xung đột hiện nay
trên thế giới. Ông nói: quan niệm giá trị hạt nhân của Nho gia là bốn phạm
trù lớn: nhân ái, hài hoà, thành tín, trung dung. Những quan niệm giá trị hạt
nhân này có tính phổ quát, đang phát huy tác dụng thực tế trong tiến trình
toàn cầu hoá, hiện đại hoá và trở thành quan niệm giá trị cơ bản mà toàn
nhân loại có thể thừa nhận. Ý kiến của các học giả trên, tuy khác nhau về
nội dung cơ bản của Nho gia, song đều cho thấy sự thống nhất là có thể
dùng tư tưởng Nho gia để giải quyết các xung đột, các mâu thuẫn của thế
giới ngày nay.
Nhưng, có một thực tế là, Nho giáo đã tồn tại hơn 2000 năm lịch sử, có lúc
nó tạo được xã hội hài hoà, thống nhất; nhưng cũng có lúc nó bất lực trước
chủ nhân của đại tự nhiên”, “chinh phục tự nhiên”, “chiến thắng tự nhiên”,
v.v., vì với các quan điểm đó, con người đã bóc lột và huỷ hoại giới tự
nhiên một cách vô tội vạ. Ông cho rằng, vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải
vận dụng và phát huy các tư tưởng của nhà Nho, như “nhân dân nhi ái vật”
(có nhân với dân và yêu mến các vật) của Mạnh Tử; tôn trọng sự sinh của
trời đất “thiên chi đại đức viết sinh” (đức lớn của trời là sinh) của Dịch
truyện; cho ngoài yêu dân, có yêu chim, thú, côn trùng mới thực là yêu của
Đổng Trọng Thư; như cho trời đất, sinh vật đều có “sinh ý” của Tống Nho,
v.v Tóm lại, con người cần chuyển từ quan điểm “thiên nhân đối lập” sang
quan điểm “thiên nhân hài hoà”, quan điểm “trung hoà chi vi dụng” (suy
nghĩ và hành động theo phương pháp trung hoà) của nhà Nho.
Chu Hiểu Bằng (Viện Kinh tế học chính trị, Học viện Sư phạm Hàng
Châu) với luận văn Bàn về vấn đề chuyển hướng sang phương Đông của
luân lý học sinh thái phương Tây, cho rằng, luân lý phương Tây trong thế
giới đương đại, do hoàn cảnh đặt ra và do kế thừa văn hoá phương Đông,
đã từ lĩnh vực xã hội mở rộng ra cả lĩnh vực tự nhiên. Ông cho rằng, để giải
quyết nguy cơ của hoàn cảnh sinh thái, cần phải thay đổi quan niệm về thế
giới quan, sinh hoạt quan, giá trị quan, phát triển quan của nhân loại, cần
phải nâng cao trình độ chỉnh thể của đạo đức nhân loại và phổ cập quan
điểm của đạo đức sinh thái, làm cho chúng vượt ra khỏi phạm vi luân lý
học đối với người, biến các “giá trị” và “quyền lợi” vốn chỉ dùng để chỉ thế
giới con người, sang cả thế giới của hết thảy các vật tồn tại.
Trương Học Trí (Khoa Triết học, Đại học Bắc Kinh), trong bài Từ hoàn
cảnh nhân sinh đến ý thức sinh thái (tập trung vào điều mục của tự nhiên
trong thuyết “Lương tri” của Vương Dương Minh thời Minh), cho rằng,
hoàn cảnh sống của loài người hiện nay đang xấu đi, nguy cơ sinh thái có
thực. Tác giả cho mâu thuẫn của sinh thái học hiện đại tập trung thể hiện
trên vấn đề thừa nhận hay không thừa nhận chủ nghĩa duy tâm nhân loại.
Nếu thừa nhận chủ nghĩa này thì có nghĩa là xem con người là trung tâm
của vũ trụ, là chúa tể của trời đất, có quyền hy sinh lợi ích của vạn vật để
3. Vai trò của luân lý đạo đức Nho gia đối với con người và xã hội hiện
nay
Nhìn vào đất nước Trung Quốc hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu Nho học
thấy rằng, đạo đức xã hội ngày một sa sút: con cháu bất hiếu với cha mẹ,
ông bà; nhiều người xem đồng tiền cao hơn đạo nghĩa; nạn cửa quyền,
tham nhũng tràn lan, gian dối trong thi cử, v.v Họ cho rằng, cứ như thế
này thì lòng người và xã hội sẽ không yên, vì ở đó tiềm ẩn nguy cơ làm bại
hoại một đất nước vốn có truyền thống coi trọng đạo đức, làm biến chất
một nền văn minh tinh thần đang được xây dựng. Trong các hội thảo khoa
học, trong các lần gặp gỡ giao lưu, trên các phương tiện truyền thông đại
chúng, những người có lương tri luôn có lời lẽ phàn nàn, luôn có những
phát biểu đòi hỏi chấn chỉnh.
Ngoài ra, người ta thấy, trong xu thế toàn cầu hoá, quan hệ và giao tiếp
giữa con người với con người, giữa tập đoàn với tập đoàn, giữa dân tộc với
dân tộc ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực, không những trên lĩnh vực
kinh tế, chính trị mà cả trong lĩnh vực văn hoá - tư tưởng, không những ở
trong nước, mà còn ở cả quốc tế. Ở đó, việc xử lý các mối quan hệ không
những phải dựa vào điều khoản của các hợp đồng, của các văn bản đã ký
kết, mà còn phải dựa vào các nguyên tắc của ứng xử, nghĩa là cần có một
đạo đức mà các bên đều có thể chấp nhận. Để xây dựng đạo đức đó, người
ta nhìn vào việc kế thừa và phát huy đạo đức truyền thống.
Nhiều nhà nghiên cứu thấy rằng, Trung Quốc có một truyền thống đạo đức
phong phú. Cả ba đạo Nho, Phật, Lão đều có công đóng góp của mình vào
truyền thống này, trong đó chủ yếu là đạo Nho. Nhưng mọi người cũng
thấy rằng, ra đời trong xã hội phong kiến và phục vụ cho xã hội phong
kiến, đạo đức Nho gia hiển nhiên không thể phục vụ tốt cho xã hội hiện đại.
Vấn đề đặt ra là, cần phải có sự thẩm định, xem ở đó, cái gì là tích cực, cái gì
là tiêu cực và trong ngay cái tích cực của truyền thống, thì cái gì còn phù
hợp, cái gì đã quá thời. Trên cơ sở đó, thấy cần phải kế thừa cái gì và gạt bỏ
cái gì, đồng thời cũng phải xem ưu điểm và hạn chế của đạo đức Nho học để
đại” và như một sự hiển nhiên, chúng đều có thể vận dụng vào xã hội hiện
đại.
Nhưng, có một số nhà nghiên cứu khác mang quan điểm biện chứng, thực
tế. Họ thấy rằng, các khái niệm đạo đức đó, dù có giá trị tích cực, chúng
vẫn là sản phẩm của xã hội phong kiến, mang tính chất phong kiến. Nếu
giữ nguyên và truyền bá chúng vào xã hội hiện đại sẽ có điều không phù
hợp, sẽ không ăn nhập được tư tưởng chung của thời đại, thậm chí cản trở
sự phát triển của thời đại. Vì vậy, họ thấy cần có sự đổi mới chúng, cải tạo
chúng. Ở đây, có thể nêu lên một số ý kiến tiêu biểu.
Giáo sư Nhậm Kế Dũ (nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo thế
giới, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) nói: trong truyền thống văn hoá
Nho gia có tinh hoa, nhưng phải tiến hành thanh lý tổng kết, phải có sự giải
thích mới. Ông còn nói: căn cứ vào đặc điểm thời đại mà đưa ra sự giải
thích mới, làm cho nghiên cứu Nho học bước sang một giai đoạn mới. Giáo
sư Trương Lợi Dân (Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc)
nói: dù được cho là quy phạm hoặc tư tưởng của mỹ đức truyền thống thì
cũng phải đưa lại quy định mới, phải hướng về thời đại để không ngừng
phong phú nó, phát triển nội hàm của nó, chứ không phải là giản đơn
chuyển một hệ thống tư tưởng này sang một hệ thống tư tưởng khác. Giáo
sư Vương Điện Khanh (Viện Nghiên cứu đạo đức phương Đông, Bắc
Kinh) cũng nói: đối với giá trị chính trị của luân lý Nho gia cùng với sự
diễn biến của nội hàm chủ yếu tư tưởng trị quốc của nó, cần tiến hành phát
hiện mới, chuyển hoá, đổi mới và lợi dụng… Phải nói đây là quan điểm
thức thời và khoa học vì có như thế mới phù hợp với chủ trương xây dựng
hệ thống đạo đức tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa, nhịp nhàng với các quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa
và tiếp nối được mỹ đức truyền thống Trung Hoa như Báo cáo Đại hội lần
thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra, và có như thế thì mới thực
hiện được quy luật tất yếu mới thay thế cũ mà có người đã nêu lên.
Tiến thêm một bước nữa, có người đặt vấn đề phải tìm hiểu xem đạo đức
Nho gia và phát huy những giá trị của lý luận đạo đức đó vào việc xây
dựng đạo đức công dân trong giai đoạn hiện tại. Họ đã tổ chức được hai
cuộc hội thảo. Kỳ hội thảo thứ nhất được tổ chức vào tháng 11 năm 2003 ở
tỉnh Tứ Xuyên, kỳ thứ hai vào tháng 10 năm 2006 ở tỉnh Hà Nam. Thành
phần hội thảo bao gồm nhiều giáo sư nghiên cứu và giảng dạy đạo đức học,
lịch sử triết học ở các cơ quan nghiên cứu và các trường đại học. Ngoài ra,
còn có các cán bộ tuyên giáo của một số tỉnh, thành ở Trung Quốc cùng với
một số hiệu trưởng các trường trung học, tiểu học được mời dự với tư cách
là những người đảm đương công việc giáo dục luân lý đạo đức cho thế hệ
trẻ. Hội thảo đã tập trung trao đổi 5 vấn đề: 1. Suy nghĩ về vận mệnh lịch
sử của luân lý Nho gia ở thời cận hiện đại và triển vọng giá trị lịch sử của
nó trong tương lai; 2. Công năng và giá trị của luân lý Nho gia trong việc
giáo dục đạo đức công dân hiện đại và xây dựng xã hội hài hoà; 3. Phát hiện
và đổi mới trí tuệ đạo đức phương Đông với luân lý Nho gia là chủ đạo; 4.
Thành quả mới của nghiên cứu lý luận “công dân và đạo đức” ở Đông Á và
khu vực; 5. So sánh luân lý phương Đông và luân lý phương Tây cùng giá trị
của chúng trong việc giáo dục đạo đức công dân.
Nhiều chuyên gia một lần nữa trình bày giá trị đương đại của luân lý Nho
gia, như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, khắc kỷ phục lễ, nhân cách quân tử, và
phân tích các chuyên đề như hiếu, thành, sỉ, trung, v.v Đặc biệt, ở cuộc
hội thảo lần thứ hai ở Hà Nam, giáo sư Từ Hoài Thành (Tổng Biên tập Đại
bách khoa toàn thư Trung Quốc và Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học
đạo đức, Đại học Nhân dân Trung Quốc) đã có bài phát biểu quan trọng,
nêu lên rằng, nghiên cứu luân lý Nho gia phải có sự đột phá mới, một là
phải nghiên cứu quy luật giáo hoá đạo đức truyền thống Trung Quốc; hai là
phải nghiên cứu bồi dưỡng cảm quan vinh nhục và tìm lấy điểm đóng mở
của đạo đức. Bản thân ông cùng với một số nhà nghiên cứu khác thấy rằng,
truyền thống Nho học đã rất chú ý đến cảm quan vinh nhục cần thiết cho
việc giáo dục con người, như Mạnh Tử đã nhấn mạnh “lòng trắc ẩn”, “lòng
biết hổ thẹn” ở con người và Khổng Tử nêu lên cảm giác sỉ nhục khi con