Nghiên cứu triết học
Đề tài: " TRIẾT HỌC VỚI TƯ CÁCH LÀ LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC (HỘI NGHỊ BÀN TRÒN VỀ CUỐN
SÁCH CỦA V.V.XÔCÔLỐP "NHẬP MÔN LỊCH
SỬ TRIẾT HỌC" "
TRIẾT HỌC VỚI TƯ CÁCH LÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC (HỘI NGHỊ BÀN
TRÒN VỀ CUỐN SÁCH CỦA V.V.XÔCÔLỐP "NHẬP MÔN LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC"
(Tiếp theo kỳ trước)
N.S.Kirabaép: Tôi muốn nói rằng, chúng ta đang thảo luận về một thể loại
sách đặc biệt - giáo trình quốc gia. Do vậy, việc đòi hỏi thể loại này một cái gì
đó lớn lao mà nó không thể đáp ứng được, rõ ràng là không nên. Thể loại giáo
trình là của tác giả, chúng ta phải luôn nhớ điều đó. Yếu tố quan trọng thứ hai
mà tôi muốn đề cập tới có liên quan đến hy vọng của tôi là, sau khi giáo trình
của V.V.Xôcôlốp được xuất bản sẽ làm cho nội dung chương trình chuẩn của
triết học có sự thay đổi. Tại sao vậy? Bởi tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của
giáo trình này có liên quan đến cái mà nó chỉ ra sau triết học là có vấn đề - đó
là cái mang tính kết cấu không chỉ về nguyên tắc của mô hình Hêghen và
C.Mác. Chính công trình của V.V.Xôcôlốp đã chỉ ra rằng, quan niệm truyền
thống về lôgíc của tiến trình lịch sử – triết học không còn là phương án duy
nhất. Do vậy, trong các giáo trình triết học mà chúng ta đang sử dụng, lịch sử
Tôi xin phép được dừng lại ở phần dành cho triết học Arập - Hồi giáo và xem
xét nó một cách chi tiết. Tác giả đã đặt ra một vấn đề hết sức quan trọng - đó là
vấn đề hiểu triết học Arập - Hồi giáo qua văn hoá, văn minh và tôn giáo. Đó
chính là quan điểm mang tính nguyên tắc của V.V.Xôcôlốp. Do vậy, khi đọc
phần này, dường như tôi không tìm thấy bóng dáng của V.V.Xôcôlốp mà tôi
từng biết đến qua cuốn sách giáo khoa về triết học Trung cổ của ông. Nhưng,
mặt khác, nếu không có cuốn giáo khoa đó thì có lẽ, đã không có cuốn giáo
trình này. Ở đây, một tư tưởng xuyên suốt và vì thế, có một lượng thông tin chi
tiết nào đó đã biến mất. Vậy cái gì là quan trọng đây? Thứ nhất, V.V.Xôcôlốp
đã chỉ ra rằng, trong những yếu tố cấu thành cơ sở nền tảng của triết học Arập
- Hồi giáo, văn hoá và văn minh là hai bộ phận cấu thành quan trọng - đó là
truyền thống abramist(1) (tác giả dành riêng một phần nói về điều này) và di
sản triết học cổ đại Hy Lạp. Khi nêu ra những nhận xét về vai trò đặc thù của
“tri thức” trong nền văn minh Arập - Hồi giáo, tác giả đã xem xét truyền thống
triết học của khu vực này trong phạm vi phát triển hệ các vấn đề triết học đã
được đưa ra trong các học thuyết của Platôn và Arixtốt. Đương nhiên, đây là
một cách tiếp cận mới. Với cách tiếp cận này, tác giả đã giúp cho chúng ta hiểu
tại sao Al - Pharabi có danh hiệu là người Thầy Thứ hai và tại sao trong triết
học Arập - Hồi giáo, người Thầy Đầu tiên bao giờ cũng là Arixtốt. Ngoài ra, sự
phân tích về đạo Hồi với tư cách một hiện tượng tôn giáo - văn hoá còn giúp
cho chúng ta hiểu rằng, bất cứ di sản nào có giá trị trong nền văn hoá Hồi giáo
cũng đều liên quan đến tri thức tôn giáo và tri thức thế tục. Thêm nữa, vấn đề
đa nguyên tôn giáo trong phạm vi Hồi giáo đã cho thấy tại sao triết học cổ đại
lại trở thành một bộ phận cấu thành của nền văn hoá Arập - Hồi giáo.
Một vấn đề hết sức quan trọng mà trong thời gian gần đây, tuy chúng ta ít nói
đến nhưng đã được cách tiếp cận đặc biệt của V.V.Xôcôlốp chỉ ra - đó là vấn
đề có liên quan tới cách tiếp cận triết học về sự tồn tại của Chúa, về những yếu
tố đặc thù của sự phát triển tư duy duy lý thông qua tự do tư tưởng. Trên cơ sở
lịch sử và lý luận, tác giả đã xem xét vấn đề về mối quan hệ giữa triết học và
thần học, đồng thời cụ thể hoá mối quan hệ giữa niềm tin và lý trí trong một hệ
trình của triết học Arập đa thần giáo, còn đối với Hồi giáo thì không. Việc sử
dụng một cách chuẩn xác những thuật ngữ của nền văn hoá này hay nền văn
hoá khác khi phân tích các hệ thống triết học, chẳng hạn như học thuyết của
Ibơnơ Khanđun, sẽ cho phép chúng ta dễ dàng hiểu được những vấn đề hiện
đại của nền văn minh. Điều mà chúng ta đều biết là, ngay từ thế kỷ XIV, lần
đầu tiên, nhà tư tưởng Hồi giáo này đã sử dụng khái niệm văn minh trong các
công trình nghiên cứu khoa học của mình và nêu lên một cách khá chuẩn xác
đặc trưng của hai giai đoạn phát triển trong lịch sử nhân loại là thời đại dã man
(hoang dã) và thời đại văn minh. Đó là cách tiếp cận thế tục đối với lịch sử, khi
ông chú ý đến vai trò của các nhân tố địa lý, nhân chủng, xã hội, kinh tế và văn
hoá. Còn chính chúng ta thì lại dựa vào sự phân kỳ mà những nhân vật nổi tiếng
đã đưa ra - đó là sự phân kỳ của Moócgan và của Ph.Ăngghen. Có lẽ, công lao
chủ yếu của Ibơnơ Khanđun là ở chỗ, ông đã nâng lịch sử lên tầm khoa học triết
học.
V.V.Xôcôlốp: Tôi xin nói rằng, Ibơnơ Khanđun đã đưa ra sự phân kỳ lịch sử này
sớm hơn nhiều so với những người châu Âu.
N.S.Kirabaép: Đúng là như vậy. Nhưng vấn đề là ở chỗ, tất thảy những gì mà
Ibơnơ Khanđun đã cập đến sự phát triển tương lai của nền văn minh Hồi giáo
và các nền văn minh khác thì trên thực tế, nó đã diễn ra. Đối với châu Âu, điều
này đã diễn ra ở Địa Trung Hải, khi các quan hệ tiền tư sản bắt đầu phát triển,
còn Ibơnơ Khanđun thì đã mất ở Ai Cập đầu thế kỷ XV. Do vậy, xét về
phương diện này thì dường như, ở đây đã có sự phù hợp một cách có lôgíc với
quan điểm chủ - khách thể mà ông đã đưa ra với tư cách một quan điểm căn
bản.
V.V.Xôcôlốp: Tiếc rằng, chúng ta còn biết quá ít về nhà tư tưởng vĩ đại này!
N.S.Kirabaép: Thêm nữa, đây là một yếu tố rất quan trọng. Tôi có cảm giác
rằng, phần viết về triết học Arập - Hồi giáo dường như hơi thiếu. Thiếu theo
nghĩa nào? Vấn đề là ở chỗ, sẽ là tốt hơn nếu việc nghiên cứu triết học Arập -
Hồi giáo cũng được tiến hành đúng như đã nghiên cứu về triết học kinh viện
châu Âu. Bởi lẽ, triết học Arập - Hồi giáo có ảnh hưởng rất lớn đến trường
độc lập và độc đáo về nhận thức triết học để sau đó, với một sự nhất quán được
thể hiện trong hầu hết 900 trang sách, tác giả lần lượt thể hiện sự hiểu biết của
mình về triết học dựa trên những tư liệu về lịch sử hiện thực của nó. Do vậy,
tôi có thể gọi cuốn sách này là “Nhập môn lý luận và lịch sử triết học”, bởi
phần lớn cuốn sách dành cho việc trình bày chính phương diện lý luận của triết
học. Để tái bản, tôi xin mạnh dạn đề nghị đổi tên sách như vậy. Hơn nữa, cả
hai phương diện – lịch sử và lý luận – ở bất cứ chỗ nào trong cuốn sách này
cũng liên quan với nhau một cách hữu cơ. Không chỗ nào V.V.Xôcôlốp bỏ qua
mục đích lý luận căn bản của mình và mục đích này đã được thể hiện qua toàn
bộ cuốn sách. Tính nhất quán như vậy trong quan niệm của tác giả đã làm cho
cuốn sách này có giá trị và làm cho người đọc dễ tiếp thu. Tác giả không cần
phải thay đổi cách kiến giải triết học đã được trình bày trong lịch sử mỗi khi tái
bản. Tôi cho rằng, sự kiến giải của tác giả về chính tư tưởng triết học là khía
cạnh độc đáo nhất của cuốn sách, là phát minh của vị giáo sư khả kính của
chúng ta. Mọi vấn đề liên quan đến việc trình bày và phân tích các học thuyết
triết học cụ thể của quá khứ cũng đã được giáo sư V.V.Xôcôlốp làm nổi bật
bằng những nội dung và sự luận giải trong cuốn sách của mình. Tôi xin chỉ ra
tính độc đáo trong sự kiến giải của tác giả về các hệ thống triết học quá khứ mà
tác giả đã thực hiện, cụ thể là về các hệ thống triết học ở thời Cận đại. Có thể
nói một cách khái quát rằng, V.V.Xôcôlốp là bậc thầy của phần đông trong số
chúng ta. V.V.Xôcôlốp đã tổng hợp được toàn bộ tri thức mà tác giả đã tích luỹ
trong suốt thời gian qua trên lĩnh vực lịch sử triết học và lý luận triết học. Nói
một cách ngắn gọn, cuốn sách có nội dung tốt, có tính khoa học ở trình độ cao,
nhưng tính giáo trình lại ở mức thấp. Nếu đây là “cuốn sách giáo khoa” thì đó
chính là sách giáo khoa dành cho các giáo sư, bởi nó hàm chứa những khái
quát sâu sắc tới mức chuẩn xác và đem lại cho người đọc nhiều kiến thức. Và,
nếu trình bày toàn bộ những gì có trong cuốn sách này một cách chi tiết, thì tác
giả phải viết đến ba tập. Đó là sự nghiên cứu khái quát. V.V.Xôcôlốp luôn dạy
chúng ta phải thể hiện tư duy một cách khái quát. Và, ở đây, tác giả đã thể hiện
mình như một nhà kinh điển về việc trình bày khái quát và qua đó, thể hiện cả
V.V.Xôcôlốp: Không đúng, khái niệm đó của tôi được viết liền nhau thành một
từ.
G.G.Maiorốp: Vâng! Đúng là như vậy. Nhưng nhìn chung, theo tôi, lần tái bản
sau cũng nên giải thích một cách chi tiết về thuật ngữ này. Đó là điều rất quan
trọng. Thật khó mà đọc nổi, nếu các khái niệm cơ bản ngay từ đầu đã không
được giải thích. “Tính chủ - khách thể” hay là các quan hệ chủ - khách thể - đó
là điều tôi muốn biết. Còn điều thứ ba - đó là định nghĩa triết học với tư cách
thế giới quan được duy lý hoá một cách tối đa mà Thầy đã đưa ra.
V.V.Xôcôlốp: Hai từ đó luôn đi liền với nhau, từ nọ mà thiếu thì từ kia sẽ
không là gì cả.
G.G.Maiorốp: “Thế giới quan được duy lý hoá một cách tối đa” – khái niệm
này ở Thầy dường như khá quan trọng. Tôi nghĩ rằng, dầu sao thì một định
nghĩa cũng không thể áp dụng cho tất cả các học thuyết trong lịch sử triết học,
bởi làm như thế, chúng ta biết xếp Kiếckơga, Nítsơ và nhiều người khác vào
đâu được.
V.V.Xôcôlốp: Về điều này, tôi xin nói rằng, không hề có triết học duy lý thuần
tuý, tổng thể. Ngay cả nhà duy lý Hêghen vĩ đại cũng không có sự trình bày được
coi là quan trọng về sự lắt léo của lý tính thế giới.
G.G.Maiorốp: Tôi xin được dẫn ra đây vấn đề thứ hai có liên quan đến điều
đó. Thầy đã đánh giá hệ thống triết học của Platôn và của Arixtốt như những
hệ thống duy lý. Tôi cho rằng, dầu sao thì thuật ngữ “chủ nghĩa duy lý” cũng
mang một nghĩa khác. Nếu Thầy sử dụng tính từ “trí tuệ” thì chắc là tôi đã
đồng ý. Song, “chủ nghĩa duy lý” là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen
rồi. Trong thuật ngữ này có khái niệm “ratio” – lý trí, tính toán, tỷ lệ và nói
chung, là cái gì đó mang tính sắp đặt, tính tổ chức về mặt hình thái. Lý trí khác
gì với lý tính? Đó là tính toán, tính tổ chức về mặt hình thái. Nếu thế, chẳng lẽ
lại xếp Platôn vào nhóm các nhà triết học duy lý hay sao? Đương nhiên là
không. Thuyết duy trí tuệ thì được. Đó là điều đương nhiên. Từ đồng nghĩa với
“trí tuệ” trong tiếng Hy Lạp là “Nus” bắt nguồn từ động từ “noein”; nghĩa đầu
tiên của nó là “xem xét”, sau đó mới đến “tư biện”, nhưng không thể xem là
niềm tin thì dường như nằm ngoài khoa học. Ý niệm đã hợp nhất, thống nhất
trong nó cả niềm tin lẫn tri thức.
V.V.Xôcôlốp: Niềm tin - đó là tính hiện thực của con người, là cái đã vượt quá
tri thức của con người.
G.G.Maiorốp: Hoàn toàn đúng như vậy. Thầy cũng đã đưa ra định nghĩa triết
học như là tri tín. Do vậy, tôi muốn Thầy bảo vệ định nghĩa này. Chỉ có điều,
theo tôi, ở đây, cần phải quy thuật ngữ “ý niệm” về “khái niệm”, bởi tính đặc
thù của triết học, nội dung của nó là những ý niệm, và ngôn ngữ triết học cũng
là ngôn ngữ của những ý niệm.
V.V.Xôcôlốp: Đó là ý niệm theo cách hiểu của người Nga và người Đức, chứ
không phải theo cách hiểu của người Anh; ở đây, xét về bản chất, nó mang tính
tâm lý.
G.G.Maiorốp: Vâng! Đúng là thế. Nhưng sẽ là tốt hơn, nếu nó được hiểu theo
cách của người Hy Lạp. Mọi triết học đều là chủ nghĩa duy tâm. Nếu là triết
học duy linh, thì đó là chủ nghĩa duy tâm về tinh thần; nếu là chủ nghĩa duy
vật, thì đó là chủ nghĩa duy tâm về vật chất. Chủ nghĩa duy tâm của Hônbách
hoặc của Mác - đó là chủ nghĩa duy tâm về vật chất, còn chủ nghĩa duy tâm
của Hêghen chính là chủ nghĩa duy tâm về tinh thần. Nhìn chung, thưa Thầy,
tôi có cảm giác là ở Thầy, tất cả đều đúng, chỉ có điều là nên thay đổi các thuật
ngữ một chút, nếu như Thầy cũng đồng ý như vậy.
V.V.Xôcôlốp: Trước đây, anh đã nói rằng, thuật ngữ “siêu tuyệt đối” là thừa,
chỉ cần sử dụng thuật ngữ “tuyệt đối” thôi là đủ.
G.G.Maiorốp: Tuyệt đối, theo định nghĩa, là cái mà không có cái gì cao hơn nó
cả. Về vấn đề, này tôi đã viết rất nhiều trong cuốn sách mới của mình.
V.V.Xôcôlốp: Nếu thế, tôi xin nói rằng, có thể anh đã đúng. Tuy nhiên, tôi vẫn
muốn nói: tuyệt đối - đó là sự biểu hiện của tính ngoài thời gian, vĩnh hằng;
còn siêu tuyệt đối - đó là sự vượt bỏ không gian. Như vậy, khi đó sẽ xuất hịên
“sự sáng tạo từ hư vô”, ngoài thời gian và ngoài cả không gian. Đó là sự thần
bí đích thực – sự thần bí không cần phải thêm bớt những từ ngữ nào khác. Đó
là điều hoàn toàn không thể hiểu được.
khác. Đây không phải là sách giáo khoa, mà là cuốn chuyên khảo.
Xin chúc mừng Giáo sư V.V.Xôcôlốp về công trình tuyệt vời nà